Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN PHÚ GIÁO

TỈNH BÌNH DƯƠNG

Bản án số: 66/2024/HS-ST

Ngày 09/7/2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ GIÁO, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hiên.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Kim Niệm;
  2. Bà Lê Thị Phương Dung.

- Thư ký phiên toà: Ông Trương Thành Long - Thư ký Toà án nhân dân huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương tham gia phiên toà: Bà Trần Thị Nương - Kiểm sát viên.

Trong các ngày 03 và ngày 09 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 143/2023/TLST-HS ngày 08 tháng 12 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 25/2024/QĐXXST-HS ngày 22 tháng 02 năm 2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Dương Thị V, sinh năm 1975 tại Thanh Hóa; nơi cư trú: Áp B, xã T, huyện B, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Kinh doanh; trình độ văn hoá: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Dương Văn Đ, sinh năm1950 và bà Trịnh Thị Â, sinh năm 1951; bị cáo có chồng tên Lê Duy M, sinh năm 1967, bị cáo có 02 người con, con lớn sinh năm 1998, con nhỏ sinh năm 2005; tiền án: Không; tiền sự: Ngày 18/7/2022, Ủy ban nhân dân xã T, huyện P ban hành Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 580/QĐ-XPHC đối với Dương Thị V số tiền 3.500.000 đồng về hành vi tiếp nhận chất thải rắn công nghiệp thông thường nhưng không có biện pháp xử lý hoặc chuyển giao cho đơn vị có chức năng xử lý theo quy định. Chấp hành nộp phạt ngày 20/7/2022.

Nhân thân: Ngày 31/12/2020, bị Công an huyện P, tỉnh Bình Dương ra Quyết định xử phạt số 06/QĐ-XPHC đối với Dương Thị V số tiền 3.500.000 đồng về hành vi tiếp nhận chất thải rắn công nghiệp thông thường nhưng không có biện pháp xử lý hoặc chuyển giao cho đơn vị có chức năng xử lý theo quy định. Chấp hành nộp phạt ngày 12/01/2021.

Bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên toà.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Ông Nguyễn Khắc H, sinh năm 1983; điạ chỉ: Ấp B, xã A, huyện P, tỉnh Bình Dương. Vắng mặt

2

  1. Ông Huỳnh Văn T, sinh năm 1991; điạ chỉ: Tổ C, khu phố B, phường T thành phố T, tỉnh Bình Dương. Vắng mặt
  2. Ông Huỳnh Văn T1, sinh năm 1993; điạ chỉ: Thạnh M, huyện C, tỉnh An Giang. Vắng mặt
  3. Ông Lê Duy Chí C, sinh năm 1998; điạ chỉ: Ấp G, xã T, huyện P, tỉnh Bình Dương. Vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Bị cáo Dương Thị V nhận chuyển nhượng thửa đất 338, tờ bản đồ số 28, diện tích 10.733,8m² là đất trồng cây lâu năm vào ngày 10/7/2020, tọa lạc tại ấp G, xã T, huyện P, tỉnh Bình Dương từ bà Mai Thị T2 và ông Nguyễn Văn L, nhưng V để cho con trai tên Lê Duy Chí C đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Sau khi mua đất, ngày 14/8/2020, bị cáo V được Ủy ban nhân dân huyện P cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh sản xuất muối trên thửa đất với hình thức kinh doanh hộ gia đình, V thành lập cơ sở sản xuất muối tên Dương Thị V và cho C đứng tên trong giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh nhưng mọi hoạt động trên đất đều do V thực hiện. Trong quá trình sản xuất muối V sử dụng nguyên liệu là rác thải khô (vải vụn, tro sỉ, đế giày da...) để đốt nấu muối. Nguồn nguyên liệu này, V nhận từ các xe vận chuyển chất thải công nghiệp do Nguyễn Xuân T3, Nguyễn Văn T4, Hoàng Văn T5 vận chuyển đến. V thuê Huỳnh Văn T1, Huỳnh Văn T thực hiện công việc nấu muối, trả tiền lương theo sản phẩm. Trong thời gian làm thuê nấu muối cho V, khi có các xe chở rác thải đến, V chỉ đạo cho T, T1 thay phiên nhau hướng dẫn phân loại, vị trí đỗ rác thải cho các tài xế, nếu rác thải khô thì lấy làm nguyên liệu đốt sản xuất muối, nếu rác ướt thì T, T1 hướng dẫn cho tài xế tự đỗ rác thải xuống bề mặt khu đất trống hoặc đỗ chất thải xuống những hố đất xung quanh khu sản xuất muối. Đến tháng 6/2022, thời điểm này, do không còn đủ nguồn rác thải để làm nhiên liệu nấu muối và không có xe vận chuyển rác thải đến nữa nên V thuê Nguyễn Khắc H là tài xế xe máy cuốc để đào hố trên diện tích đất với mục đích chứa và làm hố chôn lấp rác thải từ hoạt động nấu lò sản xuất muối và chôn lấp rác thải công nghiệp ướt do các xe vận chuyển đến trước đó khi không sử dụng làm nhiên liệu nấu muối được V lén lút hoạt động chôn, lấp, đổ, xả rác thải ra môi trường từ khoảng tháng 9/2020 đến tháng 6/2022 và V đã thu lợi được số tiền 36.000.000 đồng từ việc cho các xe tải đổ chất thải công nghiệp trên diện tích thửa đất số 338. Quá trình điều tra, Dương Thị V đã thừa nhận hành vi phạm tội

Ngày 09/9/2022, Công an huyện P phối hợp cùng Phòng cảnh sát môi trường Công an tỉnh B, Chi cục Bảo vệ môi trường – Sở T7, Trung tâm quan trắc kỹ thuật Tài nguyên và Môi trường tỉnh B, Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện P, Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện P, Ủy ban nhân dân xã T và Công an xã T tiến hành kiểm tra việc chấp hành pháp luật về bảo vệ môi trường đối với cơ sở sản xuất muối Dương Thị V. Kết quả kiểm tra, tổng diện tích đất đã sử dụng để sản xuất muối và đổ, chôn lấp chất thải là 4.103,6m², gồm hướng đông trong khu đất là nhà kho che mái tôn làm lán trại cho công nhân ở và làm kho chứa phế liệu nhựa, giữa bãi đất là khu nấu muối có 02 lò nấu và bể chứa nước muối (tại thời điểm kiểm tra không hoạt động). Còn lại là khu vực đổ, chôn lấp chất thải như da vụn, vải vụn, rìa/eva đế giầy, tro xỉ...

3

gồm 09 điểm (03 điểm chôn chất thải dưới đất và 06 đống chất thải lộ thiên) có tổng diện tích là 933,1m². Diện tích còn lại 6.630,2m² là đất trồng cây cao su.

Ngày 26/9/2022 đến ngày 01/10/2022, CQĐT Công an huyện P tiến hành thực hiện khai quật, bóc tách, vận chuyển chất thải tại hiện trường về bãi thu giữ chất thải của Chi nhánh xử lý chất thải – Công ty Cổ phần N thuộc khu phố A, phường C, thị xã B (nay là thành phố B), tỉnh Bình Dương. Tổng khối lượng chất thải đã vận chuyển là 871.270 kg (T6 trăm bảy mươi mốt ngàn hai trăm bảy mươi kilôgam).

Kết luận giám định tư pháp ngày 18/10/2022 của Ban quản lý các khu liên hợp xử lý chất thải thành phố Hồ Chí Minh, thuộc Sở T7, thành phố Hồ Chí Minh, kết luận như sau: Tổng hợp kết quả phân tích từ 03 mẫu chất thải rắn, đại diện toàn bộ chất thải đã đổ, chôn lấp cho kết luận chất thải rắn đã đổ, chôn lấp tại Cơ sở sản xuất muối Dương Thị V nêu trên là chất thải rắn công nghiệp thông thường (không có thành phần nguy hại), không chứa thành phần chất thải loại trừ theo phụ lục A Công ước S về các chất ô nhiễm hữu cơ khó phân hủy .

Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra thu giữ gồm:

  • 01 (một) xe cuốc bánh hơi, màu cam hiệu Solar W-III 130, gàu 0.5m³, của ông Nguyễn Khắc H, sinh năm 1983, nơi cư trú: xã A, huyện P, tỉnh Bình Dương.
  • Thu giữ của Lê Duy Chí C 01 bản gốc Giấy chứng nhận đăng ký hộ kinh doanh số 46D8025140 do Ủy ban nhân dân huyện P cấp ngày 14/8/2020 của ông Lê Duy Chí C.
  • Bản gốc hồ sơ kiểm tra, xử phạt vi phạm hành chính của Ủy ban nhân dân xã T đối với bà Dương Thị V và ông Lê Duy Chí C; 01 sổ đăng ký văn bản đi năm 2022.

Tại bản Cáo trạng số 01/CT-VKSPG ngày 05/12/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương đã truy tố các bị cáo Dương Thị V về tội "Gây ô nhiễm môi trường" theo điểm d khoản 3 Điều 235 Bộ luật Hình sự. Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Giáo vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố các bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm d khoản 3 Điều 235; các điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 35 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo V từ 1.400.000.000đ đến 1.600.000.000₫

Về biệp pháp tư pháp: Đề nghị HĐXX buộc bị cáo Dương Thị V nộp vào Ngân sách Nhà nước số tiền thu lợi bất chính 36.000.000₫

Xử lý vật chứng: Trả cho ông Lê Duy Chí C 01 bản gốc Giấy chứng nhận đăng ký hộ kinh doanh số 46D8025140 do Ủy ban nhân dân huyện P cấp ngày 14/8/2020.

Về mặt dân sự: Ngày 26/9/2022 đến ngày 01/10/2022, Cơ quan cảnh sát Công an huyện P tiến hành thực hiện khai quật, bóc tách, vận chuyển chất thải tại hiện trường về bãi thu giữ chất thải của Chi nhánh xử lý chất thải – Công ty Cổ phần N thuộc khu phố A, phường C, thành phố B, tỉnh Bình Dương. Tổng khối lượng chất thải đã vận chuyển là 871.270 kg. Tổng chi phí vận chuyển và xử lý chất thải là 2.663.285.508 đồng, bị cáo V đã tự nguyện thanh toán số tiền này không yêu cầu thắc mắc gì.

Tại phiên tòa, bị cáo Dương Thị V đều khai nhận toàn bộ hành vi đã thực hiện của mình đúng như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương đã truy tố và nhất trí với lời luận tội của Kiểm sát viên; các bị cáo đều xin Hội đồng xét xử xem xét cho được hưởng mức án nhẹ nhất.

4

Trong lời nói sau cùng của bị cáo Dương Thị V: Bị cáo ăn năn hối cải về hành vi phạm tội và xin HĐXX giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để có điều kiện lo cho gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện P, tỉnh Bình Dương, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về tội danh: Lời nhận tội của các bị cáo Dương Thị V tại phiên toà hoàn toàn phù hợp với lời khai của các bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, biên bản vụ việc, biên bản khám nghiệm hiện trường, bản kết luận giám định và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án mà Cơ quan điều tra đã thu thập.

Hội đồng xét xử thấy đã có đủ căn cứ để xác định:

Từ khoảng tháng 9/2020 đến tháng 6/2022, tại thửa đất số 338, tờ bản đồ số 28, thuộc ấp G, xã T, huyện P, tỉnh Bình Dương, bị cáo Dương Thị V thực hiện hành vi chôn, lấp, đổ, thải ra môi trường trái pháp luật 871.270kg (tám trăm bảy mươi mốt ngàn hai trăm bảy mươi kilogam) chất thải rắn công nghiệp thông thường gây ô nhiễm môi trường. Hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Gây ô nhiễm môi trường” quy định tại điểm d khoản 3 Điều 235 Bộ luật hình sự.

Kết luận giám định tư pháp ngày 18/10/2022 của Ban quản lý các khu liên hợp xử lý chất thải thành phố Hồ Chí Minh, thuộc Sở T7, thành phố Hồ Chí Minh, kết luận như sau: Tổng hợp kết quả phân tích từ 03 mẫu chất thải rắn, đại diện toàn bộ chất thải đã đổ, chôn lấp cho kết luận chất thải rắn đã đổ, chôn lấp tại Cơ sở sản xuất muối Dương Thị V nêu trên là chất thải rắn công nghiệp thông thường (không có thành phần nguy hại), không chứa thành phần chất thải loại trừ theo phụ lục A Công ước S về các chất ô nhiễm hữu cơ khó phân hủy .

Tính chất, mức độ tội phạm bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội, thực hiện với lỗi cố ý, làm biến đổi tính chất vật lý, hóa học, sinh học của thành phần môi trường, gây ảnh hưởng xấu đến sức khỏe con người, sinh vật và tự nhiên.

Do vậy, hành vi của bị cáo đã phạm vào tội "Gây ô nhiễm môi trường" được quy định tại điểm d khoản 3 Điều 235 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương truy tố đối với bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.

[3] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

- Về tình tiết tăng nặng: Không.

5

- Về tình tiết giảm nhẹ: Người phạm tội tự nguyện khắc phục hậu quả; Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải quy định tại điểm b,s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Gia đình bị cáo có công với cách mạng (Ngày 11/9/2014, mẹ của bị can là bà Trịnh Thị Â được Chủ tịch nước tặng Huy chương kháng chiến hạng nhất đã có thành tích trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước). Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

[4] Về hình phạt:

- Hình phạt chính: Từ những phân tích nêu trên, xét thấy bị cáo Dương Thị V được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ. Vì vậy, thấy cần áp dụng hình phạt chính là hình phạt tiền đối với bị cáo nhằm mục đích giáo dục, cải tạo bị cáo và răn đe, phòng ngừa chung trong xã hội.

- Hình phạt bổ sung: Hội đồng xét xử thấy không cần thiết phải áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[5] Về xử lý vật chứng: Thu giữ của ông Lê Duy Chí C 01 bản gốc Giấy chứng nhận đăng ký hộ kinh doanh số 46D8025140 do Ủy ban nhân dân huyện P cấp ngày 14/8/2020. HĐXX xét thấy đây là giấy tờ hợp pháp của ông C, không liên quan hành vi phạm tội nên cần trả lại cho ông C.

[6] Về biệp pháp tư pháp: Bị cáo Dương Thị V thu lợi bất chính số tiền 36.000.000đ nên HĐXX cần buộc nộp vào Ngân sách Nhà nước.

[7] Về trách nhiệm dân sự:

Ngày 26/9/2022 đến ngày 01/10/2022, Cơ quan cảnh sát Công an huyện P tiến hành thực hiện khai quật, bóc tách, vận chuyển chất thải tại hiện trường về bãi thu giữ chất thải của Chi nhánh xử lý chất thải – Công ty Cổ phần N thuộc khu phố A, phường C, thị xã B, tỉnh Bình Dương. Tổng khối lượng chất thải đã vận chuyển là 871.270 kg. Tổng chi phí vận chuyển và xử lý chất thải là 2.663.285.508 đồng, bị cáo đã tự nguyện thanh toán số tiền này không yêu cầu thắc mắc gì nên HĐXX không đặt ra xem xét.

[8] Đối với Lê Duy Chí C tuy là người đứng tên trên đất đối với thửa đất số 338, nhưng C chỉ đứng tên về mặt pháp lý, không biết việc bị cáo V sử dụng thửa đất thực hiện hành vi phạm tội, Viện kiểm sát không đề cập xử lý đối với C nên HĐXX không đề cập đến.

[9] Đối với Huỳnh Văn T, Huỳnh Văn T1, Nguyễn Khắc H là người làm công được bị cáo thuê giúp bị cáo chôn, lấp chất thải. Tuy nhiên, T, T1, H không có sự bàn bạc và không được hưởng lợi ích gì từ bị cáo; quá trình điều tra không xác định tổng khối lượng chất thải Thủ, T1, H đã chôn, lấp nên không đủ căn cứ để xử lý đối với T, T1, H với vai trò đồng phạm với hành vi phạm tội của bị cáo V. Viện kiểm sát không đề cập xử lý nên HĐXX không đề cập đến.

[10] Đối với những đối tượng thực hiện việc vận chuyển rác thải đến thửa đất của bị cáo V gồm: Nguyễn Xuân T3, Nguyễn Văn T4, Hoàng Văn T5, do không xác định được tổng khối lượng chất thải cụ thể tại thời điểm chuyển giao nên không đủ căn cứ để xử lý đối với T3, T4, T5 với vai trò đồng phạm với hành vi phạm tội của bị cáo V. Viện kiểm sát không đề cập xử lý nên HĐXX không đề cập đến.

6

[11] Đối với Dương Thị VLê Duy Chí C sử dụng thửa đất nêu trên không đúng mục đích, Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Giáo kiến nghị Ủy ban nhân dân huyện P xem xét xử lý nên HĐXX không đề cập đến.

[12] Án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.

[13] Về quyền kháng cáo: Bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được thực hiện quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

Điểm d khoản 3 Điều 235; các điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 35 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017

Áp dụng Khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH1430/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

  1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Dương Thị V phạm tội "Gây ô nhiễm môi trường".
  2. Về mức hình phạt: Xử phạt bị cáo Dương Thị V số tiền 1.400.000.000đ (Một tỷ bốn trăm triệu đồng).
  3. Về biện pháp tư pháp: Buộc bị cáo nộp vào Ngân sách nhà nước số tiền 36.000.000đ (ba mươi sáu triệu đồng).
  4. Kể từ bản án có hiệu lực pháp luật nếu người phải thi hành án chưa thi hành xong số tiền thì hàng tháng người phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015 tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành án.
  5. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, tuyên:

    Trả lại cho ông Lê Duy Chí C 01 bản gốc Giấy chứng nhận đăng ký hộ kinh doanh số 46D8025140 do Ủy ban nhân dân huyện P cấp ngày 14/8/2020 của ông Lê Duy Chí C.

    (Theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 08/12/2023 giữa Cơ quan CSĐT Công an huyện P và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Giáo).

  6. Về trách nhiệm dân sự: Đã giải quyết xong nên HĐXX không đề cập đến.
  7. Về án phí: Buộc bị cáo Dương Thị V phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
  8. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có

7

quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bình Dương; (1)
  • - VKSND tỉnh Bình Dương; (1)
  • - Sở Tư pháp tỉnh Bình Dương; (1)
  • - PV06 Công an tỉnh Bình Dương; (1)
  • - VKSND huyện Phú Giáo; (1)
  • - Công an huyện Phú Giáo; (2)
  • - Chi cục THADS huyện Phú Giáo; (1)
  • - Những người tham gia tố tụng; (4)
  • - Lưu hồ sơ, VP. (2)

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Hiên

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 66/2024/HS-ST ngày 09/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ GIÁO, TỈNH BÌNH DƯƠNG về gây ô nhiễm môi trường (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 66/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Gây ô nhiễm môi trường (Hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 09/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ GIÁO, TỈNH BÌNH DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Duong Thị V gây ô nhiễm môi trường
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger