|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN MINH TỈNH KIÊN GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 66/2024/HS-ST Ngày 19-7-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN MINH, TỈNH KIÊN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Chí Công
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lưu Văn Bình
Ông Nguyễn Văn Cho
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Thùy Trang - Thư ký Toà án nhân dân huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang
- Đại diện Viện kiểm sát nhân huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang tham gia phiên tòa: Ông Lý Minh Tồn - Kiểm sát viên
Ngày 19 tháng 7 năm 2024 tại Toà án nhân dân huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 73/2024/TLST-HS ngày 30 tháng 5 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 69/2024/QĐXXST-HS ngày 24 tháng 6 năm 2024 đối với bị cáo:
Nguyễn Văn H, sinh ngày 20 tháng 10 năm 1978 tại A, Kiên Giang; CCCD [...]; Nơi cư trú: ấp T, xã Đ, huyện A, tỉnh Kiên Giang; Giới tính: nam; Nghề nghiệp: Tài xế; trình độ văn hóa: 9/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; con ông Nguyễn Văn H1 (đã chết) và bà Nguyễn Thị B; vợ Nguyễn Thị Ngọc B1, con có 01 người sinh năm 2000; Tiền án, tiền sự: không; Về nhân thân: Ngày 20/5/2015 bị Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang xử phạt 01 năm 06 tháng tù cho hưởng án treo tại bản án số 35/2015/HSST. Bị cáo bị tạm giữ ngày 13/3/2024, chuyển sang tạm giam ngày 20/3/2024, cho bảo lĩnh tại ngoại ngày 29/5/2024 cho đến nay, hiện đang tại ngoại; có mặt tại phiên tòa.
Bị hại: Công ty TNHH -. Địa chỉ: ấp X, xã T, huyện A, tỉnh Kiên Giang.
Đại diện: Ông Đặng Thanh H2, sinh năm 1983. Địa chỉ: ấp X, xã T, huyện A, tỉnh Kiên Giang (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Văn H, sinh ngày 20/10/1978 trú tại ấp T, xã Đ, huyện A, tỉnh Kiên Giang là tài xế chạy xe tải làm thuê cho Công ty Trách nhiệm hữu hạn - (TNHH-MTV) Lý Tấn T, địa chỉ ấp X, xã T, huyện A, tỉnh Kiên Giang. Ngày 08/10/2020, H được chị Lý Thị N - Phó giám đốc Công ty điều động giao nhiệm vụ điều khiển xe biển kiểm soát 68C - 113.09 đi giao xăng, dầu cho Công ty TNHH N1 thuộc ấp K, xã V, huyện A, tỉnh Kiên Giang với số lượng 1.000 lít dầu DO và 2.000 lít xăng Ron 95 với số tiền là 37.780.000 đồng. Đồng thời, N kêu H lấy luôn tiền nợ cũ của Công ty TNHH N1 là 44.400.000 đồng, tổng số tiền H được giao nhận được là 82.180.000 đồng. Khi nhận tiền, giao xăng, dầu xong Nguyễn Văn H điều khiển xe về Công ty cất xe nhưng không giao tiền lại cho chị N mà cất giữ, rồi đi về nhà. Sau khi chiếm dụng được số tiền 82.180.000 đồng Nguyễn Văn H dùng vào việc trả nợ 50.000.000 đồng phần còn lại tiêu xài cá nhân hết. Ngày 10/10/2020 đại diện bị hại có đơn tố giác về hành vi của Nguyễn Văn H với Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện A, do sợ bị phát hiện nên H đi làm thuê trên Bình Phước, đến Tết năm 2024 H quay trở về địa phương nhận thấy hành vi sai trái nên bản thân nên đi đầu thú với Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện A vào ngày 12/3/2024.
Phần dân sự: Bị hại yêu cầu bị can H trả lại số tiền đã chiếm đoạt là 82.180.000 đồng. Trong quá trình truy tố gia đình bị can đã khắc phục cho bị hại 50.000.000 đồng.
Tại Cáo trạng số 56/CT-VKS-AM ngày 28-5-2024 Viện kiểm sát nhân dân huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang truy tố Nguyễn Văn H về tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản quy định tại điểm c khoản 2 Điều 175 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa,
- Kiểm sát viên kết luận bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, đề nghị áp dụng điểm c khoản 2 Điều 175, điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, khoản 1 Điều 54,, Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù; Về trách nhiệm dân sự, buộc bị cáo trả số tiền còn lại.
- Bị cáo trình bày: Thừa nhận thực hiện hành vi như cáo trạng truy tố và kết luận của Kiểm sát viên tại phiên tòa, không tranh luận gì. Trong lời nói sau cùng bị cáo trình bày đã biết lỗi, hối hận về hành vi của bản thân gây ra, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
- Người đại diện hợp pháp cho bị hại trình bày: về trách nhiệm hình sự đề nghị xem xét giảm nhẹ cho bị cáo; về dân sự yêu cầu bị cáo trả số còn lại là 32.180.000 đồng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- [1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện A, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện A, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo, bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
- [2] Về hành vi phạm tội, tội danh:
- [2.1] Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai và những tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, từ đó có đủ căn cứ để kết luận: Vào ngày 08/10/2020 tại Công ty TNHH -, địa chỉ: ấp X, xã T, huyện A, tỉnh Kiên Giang, Nguyễn Văn H được chị Lý Thị N là Phó Giám đốc Công ty giao nhiệm vụ giao xăng dầu và thu tiền của Công ty TNHH N1 với tổng số tiền 82.180.000 đồng. Khi nhận được số tiền 82.180.000 đồng của Công ty TNHH N1 trả thì H không bàn giao số tiền này lại cho Công ty TNHH - mà chiếm đoạt và chi xài cá nhân.
- [2.2] Khi thực hiện hành vi, bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, có đủ khả năng nhận thức được việc chiếm đoạt số tiền 82.180.000 đồng của Công ty TNHH - là phạm tội nhưng bị cáo vẫn thực hiện. Bị cáo đã lợi dụng sự tin tưởng với vai trò là người được giao nhiệm vụ đi giao xăng, dầu và nhận tiền của khách hàng rồi chiếm đoạt số tiền này. Hành vi chiếm đoạt của bị cáo được thực hiện sau khi đã nhận được tài sản nên là hành vi lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt. Tài sản bị cáo chiếm đoạt có giá trị 82.180.000 đồng nên Viện kiểm sát truy tố và kết luận bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản theo điểm c khoản 2 Điều 175 Bộ luật Hình sự là có căn cứ và đúng pháp luật.
- [3] Về hình phạt:
- [3.1] Về tình tiết tăng nặng, tính chất của vụ án: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, nhưng hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự và khả năng nhận thức được tài sản của người khác là bất khả xâm phạm, nhưng bị cáo vẫn thực hiện để chiếm đoạt tài sản hợp pháp của họ, hành vi này gây bức xúc trong dư luận và hoang mang, lo lắng trong nhân dân. Do đó, cần xử phạt bị cáo hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ phạm tội bị cáo đã gây ra, nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo thành công dân tốt, sống có ích cho gia đình và xã hội.
- [3.2] Về tình tiết giảm nhẹ: Sau khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo đã đến cơ quan Công an đầu thú; trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, thể hiện thái độ ăn năn hối cải; bị cáo đã khắc phục phần lớn hậu quả cho bị hại; bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. HĐXX xác định đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại các điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
- [3.3] Về quyết định hình phạt, thấy rằng bị cáo phạm tội thuộc trường hợp nghiêm trọng có khung hình phạt từ 02 đến 07 năm tù, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự, gây hoang mang, lo lắng trong nhân dân, đến nay chưa khắc phục triệt để hậu quả cho bị hại. Do đó, cần áp dụng Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo hình phạt tù có thời hạn. Khi quyết định mức hình phạt thấy bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự nên thống nhất với đề nghị của Kiểm sát viên áp dụng khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự để xử phạt bị cáo mức án dưới mức thấp nhất của khung hình phạt bị truy tố, xét xử là tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội bị cáo đã gây ra; thể hiện sự khoan hồng của pháp luật, để giáo dục, cải tạo bị cáo thành công dân tốt.
- [4] Về trách nhiệm dân sự, tổng số tiền bị cáo đã chiếm đoạt là 82.180.000 đồng, đã khắc phục được 50.000.000 đồng nên bị cáo có trách nhiệm trả cho bị hại số tiền còn lại là 32.180.000 đồng.
- [5] Về án phí, bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng và án phí dân sự sơ thẩm là 1.609.000 đồng (=32.180.000 đồng x 5%), tổng cộng 1.809.000 đồng.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn văn H phạm tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản.
Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 175, điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, khoản 1 Điều 54, Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H 09 (chín) tháng tù về tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản. Thời điểm chấp hành hình phạt tù tính kể từ ngày bị cáo chấp hành án, khấu trừ thời gian đã bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 13/3/2024 đến ngày 29/5/2024.
- Về trách nhiệm dân sự: buộc bị cáo Nguyễn Văn H trả cho Công ty TNHH - số tiền còn lại là 32.180.000 đồng.
Kể từ khi có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, 468 Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
- Về án phí, căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 12, 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án, bị cáo Nguyễn Văn H phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 1.609.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm, tổng cộng 1.809.000 đồng.
- Bị cáo, người đại diện của bị hại có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (ngày 19-7-2024).
Trường hợp phần trách nhiệm dân sự trong bản án này được thi hành theo Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TÒA Lê Chí Công |
Bản án số 66/2024/HS-ST ngày 19/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN MINH, TỈNH KIÊN GIANG về lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
- Số bản án: 66/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 19/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN MINH, TỈNH KIÊN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn H Lạm dụng tín nhiệm chiếm chiếm đoạt tài sản
