Hệ thống pháp luật
TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
QUẬN LIÊN CHIỂU, TP. ĐÀ NẴNG Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 66/2024/HS-ST

Ngày: 19/4/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN LIÊN CHIỂU, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Anh Tuấn

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Văn Bình;

Bà Nguyễn Thị Thanh Bình.

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thái Trâm Anh – Thư ký Tòa án nhân dân quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Ngọc Hương - Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở, Tòa án nhân dân quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng mở phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 25/2024/TLST-HS ngày 02 tháng 02 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 38/2024/QĐXXST-HS ngày 23 tháng 02 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên toà số 21/2024/HSST-QĐ ngày 22/3/2024, đối với các bị cáo:

1. Trần Văn Q, sinh ngày 15/5/1991 tại thành phố Đà Nẵng; Nơi cư trú: Tổ C, phường T, quận H, thành phố Đà Nẵng; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn L (chết) và bà Lương Thị H; có vợ là Bùi Thị Thu H1, sinh năm 2000 và có 01 con sinh năm 2020.

Tiền án:

  • Ngày 02/11/2010 bị Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng xử phạt 30 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản theo Bản án phúc thẩm số 252/2010/HSPT cùng ngày;
  • Ngày 17/6/2014 bị Tòa án nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng xử phạt 05 năm 06 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản theo Bản án sơ thẩm số 52/2014/HSST cùng ngày.

Tiền sự: Không.

Nhân thân:

  • Ngày 06/6/2019 bị Tòa án nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định số 56/2019/QĐ-TA.

Bị cáo bị bắt, tạm giữ ngày 24/8/2023, tạm giam ngày 31/8/2023. Có mặt.

2. Huỳnh Văn S, sinh ngày 30/7/1999 tại thành phố Đà Nẵng; Nơi cư trú: Tổ A, phường T, quận T, thành phố Đà Nẵng; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 07/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Huỳnh Văn A và bà Lê Thị B.

Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân:

  • Ngày 10/8/2016 bị Tòa án nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng xử phạt 06 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản theo Bản án sơ thẩm số 80/2016/HSST;
  • Ngày 26/4/2017 bị Tòa án nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng xử phạt 06 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản theo Bản án sơ thẩm số 37/2017/HSST;
  • Ngày 12/3/2019 bị Công an phường T, quận T, thành phố Đà Nẵng ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính, số tiền 750.000 đồng về hành vi Sử dụng trái phép chất ma túy theo Quyết định số 33;
  • Ngày 15/3/2021 bị Tòa án nhân dân quận Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định số 11/QĐ-TA cùng ngày.

Bị cáo bị bắt, tạm giữ ngày 24/8/2023, tạm giam ngày 31/8/2023. Có mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Ông Phùng B1, sinh năm 2000; trú tại: Khối phố N, phường Đ, thị xã Đ, tỉnh Quảng Nam. Vắng mặt.

Bà Bùi Thị Thu H1, sinh năm 2000; trú tại: C Đ, phường T, quận H, thành phố Đà Nẵng. Vắng mặt.

Bà Lương Thị H, sinh năm 1958; trú tại: Tổ C, phường T, quận H, thành phố Đà Nẵng. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 17 giờ ngày 24/8/2023, do có nhu cầu sử dụng ma túy đá nhưng không biết người bán nên Trần Văn Q đã gọi điện cho Huỳnh Văn S nhờ S liên hệ mua ma túy để về sử dụng thì S đồng ý. Sỹ liên hệ với đối tượng bán ma tuý (chưa xác định được nhân thân, lai lịch) qua ứng dụng Facebook hỏi mua 1.000.000 đồng ma túy đá. Sau đó, S điều khiển xe mô tô hiệu Yamaha màu trắng BKS 43C1-308.50 đến nhà trọ của Q tại B N, phường H, quận L, thành phố Đà Nẵng và để xe của mình ở đây rồi điều khiển xe hiệu Yamaha màu trắng BKS 43R1-7845 của Q chở Q đến khu vực cầu T, thị xã Đ, tỉnh Quảng Nam để nhận ma túy. Trên đường đi, S đưa cho Q số tài khoản ngân hàng A1 mở tại ngân hàng TMCP Đ - Chi nhánh H2 đứng tên “Phung Binh” của người bán ma tuý để Q chuyển khoản số tiền 2.000.000 đồng, trong đó 1.000.000 đồng là tiền mua ma túy, 1.000.000 đồng là tiền S mượn Q để chuyển trả cho “B1” tiền nợ trước đó. Q sử dụng tài khoản ngân hàng của mình mở tại ngân hàng TMCP Q1 số 13579.9999.79 chuyển đến tài khoản trên số tiền 2.000.000 đồng. Đến điểm hẹn, Q và S đứng đợi thì có 01 nam thanh niên (chưa xác định được nhân thân, lai lịch) điều khiển xe máy (không rõ biển kiểm soát) chạy ngang qua và vứt xuống gần vị trí đứng của Q và S 01 gói thuốc lá, bên trong có chứa ma túy đá. S nhặt gói ma túy đá lên cất trong người, Q điều khiển xe mô tô BKS 43R1-7845 chở S về lại phòng trọ của mình. Tại phòng trọ, Q và S lấy dụng cụ ra và cùng nhau sử dụng ma túy. Đến khoảng 20 giờ 30 phút cùng ngày, khi Q và S đang sử dụng ma túy thì bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Đ phối hợp với Công an phường H, quận L, thành phố Đà Nẵng tiến hành kiểm tra hành chính và phát hiện, bắt quả tang.

Tang vật thu giữ: 01 (một) gói nilon kích thước khoảng 04x04cm, bên trong có chứa tinh thể rắn màu trắng, nghi là ma túy được niêm phong ký hiệu A; 02 (hai) bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá gồm 02 (hai) bình nhựa chứa nước, 02 (hai) ống thủy tinh, 02 (hai) ống hút bằng nhựa; 01 (một) cân tiểu ly điện tử màu đen; 05 (năm) bao nilon rỗng kích thước khoảng 3,5x05cm; 03 (ba) quẹt ga; 01 (một) căn cước công dân mang tên Trần Văn Q; 01 (một) chứng minh nhân dân mang tên Huỳnh Văn S; 01 (một) điện thoại di động hiệu Oppo màu đen, gắn sim số 0905.894.188 của Trần Văn Q; 01 (một) điện thoại di động hiệu Oppo màu xanh tím, gắn sim số 0905.517.520 của Huỳnh Văn S; 01 (một) xe mô tô hiệu Yamaha màu trắng BKS 43R1-7845; 01 (một) xe mô tô hiệu Yamaha màu đen BKS 43C1-308.50.

Ngày 31/8/2023, Phòng K Công an thành phố Đ ban hành Kết luận giám định số 742/KL-KTHS xác định: Tinh thể rắn màu trắng trong bì niêm phong ký hiệu A gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine; khối lượng mẫu A: 1,484 gam.

Tại bản cáo trạng số 35/CT-VKS ngày 02 tháng 02 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng đã truy tố bị cáo Trần Văn Q về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm h khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự và bị cáo Huỳnh Văn S về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 255 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố đối với các bị cáo như Cáo trạng đã đề cập; đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố các bị cáo Trần Văn Q và Huỳnh Văn S phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, và đề nghị:

Áp dụng điểm h khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Trần Văn Q từ 08 năm đến 09 năm tù.

Áp dụng khoản 1 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Huỳnh Văn S từ 03 năm đến 04 năm tù.

Về xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên tịch thu tiêu huỷ đối với: 01 (một) phong bì niêm phong ký hiệu A được niêm phong bằng đóng dấu tròn đỏ của Phòng K Công an thành phố Đ đựng mẫu hoàn trả là chất ma tuý còn lại sau khi đã giám định; 02 (hai) bộ dụng cụ sử dụng ma tuý đá gồm 02 bình nhựa chứa nước, 02 ống thuỷ tinh, 02 ống hút bằng nhựa; 01 (một) cân tiểu ly màu đen; 05 (năm) bao nilong rỗng kích thước 3,5x05cm; 03 (ba) quẹt gas; thẻ sim điện thoại số 0905.894.xxx; thẻ sim điện thoại số 0905.517.xxx. Tuyên trả lại cho bị cáo Trần Văn Q 01 (một) căn cước công dân, trả lại cho bị cáo Huỳnh Văn S 01 (một) chứng minh nhân dân. T trả lại cho bà Lương Thị H 01 (một) xe mô tô hiệu Yamaha màu trắng BKS 43R1-7845. Tuyên tịch thu, nộp ngân sách nhà nước đối với 01 (một) điện thoại di động hiệu OPPO màu đen, của Trần Văn Q và 01 (một) điện thoại di động hiệu OPPO màu xanh tím của Huỳnh Văn S.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo đều khai nhận diễn biến vụ án đúng như cáo trạng đã đề cập. Các bị cáo không có ý kiến gì về mặt tội danh cũng như điều luật mà đại diện Viện kiểm sát truy tố và đề nghị áp dụng, chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm vấn công khai tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa các bị cáo cũng như những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến khiếu nại gì. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Căn cứ lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên toà, căn cứ biên bản bắt người phạm tội quả tang và các tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có cơ sở khẳng định:

[2.1] Khoảng 17 giờ ngày 24/8/2023 Trần Văn Q rủ Huỳnh Văn S liên hệ mua ma tuý về để sử dụng thì Huỳnh Văn S đồng ý. Huỳnh Văn S sử dụng ứng dụng Facebook liên hệ với đối tượng bán ma tuý (chưa xác định được nhân thân, lai lịch) hỏi mua 1.000.000 đồng ma tuý đá. Sau đó QS điều khiển xe mô tô vào khu vực cầu T, thị xã Đ, tỉnh Quảng Nam để nhận ma túy, S là người trực tiếp nhận ma tuý và cất trong người rồi cả hai trở về phòng trọ của Q tại số B đường N, phường H, quận L, thành phố Đà Nẵng lấy dụng cụ sử dụng ma tuý ra và cùng nhau sử dụng ma tuý. Đến khoảng 20 giờ 30 phút cùng ngày, khi QS đang sử dụng ma túy thì bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Đ phối hợp với Công an phường H, quận L, thành phố Đà Nẵng kiểm tra bắt quả tang, thu giữ 1,484 gam ma túy loại Methamphetamine. Hành vi của các bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo qui định tại Điều 255 Bộ luật hình sự.

[2.2] Bị cáo Trần Văn Q đã tái phạm theo bản án số 52/2014/HSST ngày 17/6/2014 của Tòa án nhân dân quận Hải Châu nhưng bị cáo chưa chấp hành xong phần án phí và bồi thường dân sự của bản án nói trên nên chưa được xoá án tích; nay bị cáo tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội do cố ý nên thuộc trường hợp “Tái phạm nguy hiểm”. Do vậy, Trần Văn Q phạm tội với tình tiết định khung là “Tái phạm nguy hiểm” theo điểm h khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự. Huỳnh Văn S phạm tội theo khoản 1 Điều 255 Bộ luật hình sự.

[2.3] Cáo trạng số 35/CT-VKS ngày 02 tháng 02 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng đã truy tố các bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội.

[3] Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thì thấy: Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự khi quyết định hình phạt.

[4] Xét hành vi phạm tội, tính chất vụ án, vai trò, nhân thân của từng bị cáo thì thấy: Các bị cáo là những người trưởng thành, nhận thức rõ tác hại của ma túy và biết hành vi sử dụng và tổ chức cho người khác sử dụng các chất ma túy bị pháp luật nghiêm cấm, nhưng để thỏa mãn nhu cầu của bản thân nên các bị cáo vẫn bất chấp cùng nhau thực hiện việc tổ chức sử dụng ma tuý. Hành vi của các bị cáo đã trực tiếp xâm phạm chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma tuý, gây tổn hại đến sức khỏe và làm ảnh hưởng đến trật tự trị an của xã hội. Các bị cáo có nhân thân xấu, đã từng bị Toà án xét xử và bị xử phạt vi phạm hành chính nhiều lần nhưng không lấy đó làm bài học mà tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội. Vì vậy cần xử các bị cáo mức hình phạt tương xứng với tính chất hành vi phạm tội của các bị cáo, cần phải cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục riêng các bị cáo và phòng ngừa chung.

[5] Về xử lý vật chứng:

Đối với toàn bộ chất ma tuý còn lại sau khi đã giám định trong phong bì niêm phong ký hiệu A có đóng dấu tròn đỏ của Phòng K Công an thành phố Đ; 02 (hai) bộ dụng cụ sử dụng ma tuý đá gồm 02 bình nhựa chứa nước, 02 ống thuỷ tinh, 02 ống hút bằng nhựa; 01 (một) cân tiểu ly điện tử màu đen; 05 (năm) bao nilong rỗng kích thước 3,5x05cm; 03 (ba) quẹt ga Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tuyên tịch thu, tiêu hủy.

Đối với 01 (một) căn cước công dân mang tên Trần Văn Q, 01 (một) chứng minh nhân dân mang tên Huỳnh Văn S là giấy tờ tuỳ thân của các bị cáo nên cần trả lại cho các bị cáo.

Đối với 01 (một) điện thoại di động hiệu OPPO màu đen, gắn sim số 0905.894.188 của Trần Văn Q và 01 (một) điện thoại di động hiệu OPPO màu xanh tím, gắn sim số 0905.517.520 của Huỳnh Văn S là phương tiện các bị cáo liên lạc để rủ nhau tổ chức sử dụng ma tuý nên cần tịch thu, sung ngân sách Nhà nước.

Đối với 01 (một) xe mô tô hiệu Yamaha màu trắng BKS 43R1-7845 là xe mô tô của bà Lương Thị H, bà H không biết việc bị cáo Q sử dụng vào việc đi mua ma tuý nên cần trả lại xe mô tô nói trên cho bà Lương Thị H.

[6] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[7] Về các vấn đề có liên quan đến vụ án:

[7.1] Đối với đối tượng bán ma túy cho Huỳnh Văn S và đối tượng tên “T1” mượn tài khoản ngân hàng của Phùng B1: đến nay chưa xác định được nhân thân, lai lịch nên Cơ quan điều tra tiếp tục điều tra, làm rõ, xử lý sau.

[7.2] Đối với Bùi Thị Thu H1: Bà H1 không biết việc QS mua ma túy về để sử dụng, cũng không tham gia sử dụng ma túy cùng QS. Do đó, Cơ quan điều tra không đề cập xử lý là có cơ sở.

[7.3] Đối với bà Lương Thị H và P: Khi bà H cho Q mượn xe BKS 43R1-7845 thì bà H không biết Q sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội; khi Phùng B1 cho đối tượng tên “T1” mượn tài khoản ngân hàng thì Phùng B1 không biết “T1” mượn để làm gì. Do đó, Cơ quan điều tra không đề cập xử lý là có cơ sở.

[7.4] Đối với xe mô tô hiệu Yamaha màu trắng BKS 43C1-308.50: đến nay Cơ quan điều tra chưa làm việc được với người liên quan. Do đó, Cơ quan điều tra tạm giữ, tiếp tục làm rõ, xử lý sau.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: Các bị cáo Trần Văn QHuỳnh Văn S phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

  1. Căn cứ: điểm h khoản 2 Điều 255, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự;

    Xử phạt bị cáo Trần Văn Q 07 (bảy) năm 03 (ba) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tính từ ngày bị bắt, tạm giữ là ngày 24/8/2023.

  2. Căn cứ: khoản 1 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự;

    Xử phạt bị cáo Huỳnh Văn S 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tính từ ngày bị bắt, tạm giữ là ngày 24/8/2023.

  3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự;

    Tuyên tịch thu, tiêu hủy đối với: 01 (một) phong bì niêm phong ký hiệu A được niêm phong bằng đóng dấu tròn đỏ của Phòng K Công an thành phố Đ đựng mẫu hoàn trả là chất ma tuý còn lại sau khi đã giám định; 02 (hai) bộ dụng cụ sử dụng ma tuý đá gồm 02 bình nhựa chứa nước, 02 ống thuỷ tinh, 02 ống hút bằng nhựa; 01 (một) cân tiểu ly màu đen; 05 (năm) bao nilong rỗng kích thước 3,5x05cm; 03 (ba) quẹt gas.

    Tuyên trả lại cho bị cáo Trần Văn Q 01 (một) căn cước công dân mang tên Trần Văn Q, trả lại cho bị cáo Huỳnh Văn S 01 (một) chứng minh nhân dân mang tên Huỳnh Văn S.

    T trả lại cho bà Lương Thị H 01 (một) xe mô tô hiệu Yamaha màu trắng BKS 43R1-7845.

    Tuyên tịch thu, nộp ngân sách nhà nước đối với 01 (một) điện thoại di động hiệu OPPO màu đen, gắn sim số 0905.894.188 của Trần Văn Q và 01 (một) điện thoại di động hiệu OPPO màu xanh tím, gắn sim số 0905.517.520 của Huỳnh Văn S.

    (Toàn bộ vật chứng hiện Chi cục Thi hành án dân sự quận Liên Chiểu đang tạm giữ theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 08/4/2024).

  4. Về án phí: Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;

    Buộc các bị cáo Trần Văn QHuỳnh Văn S mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

  5. Về quyền kháng cáo: Án xử sơ thẩm, báo cho các bị cáo có mặt tại phiên tòa biết có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án hôm nay. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • VKSND quận Liên Chiểu;
  • VKSND TP. Đà Nẵng;
  • Cơ quan điều tra Công an quận L;
  • Chi cục THA dân sự quận L;
  • Trại tạm giam Công an thành phố Đ;
  • Những người tham gia tố tụng;
  • Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Phạm Anh T2

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 66/2024/HS-ST ngày 19/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN LIÊN CHIỂU, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG về tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 66/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 19/04/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN LIÊN CHIỂU, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Q và S tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger