Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ CAI LẬY

TỈNH TIỀN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 66/2024/HS-ST

Ngày: 18-7-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CAI LẬY, TỈNH TIỀN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Phong Hiếu.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Phan Văn Mẫn;
  2. Ông Đoàn Văn Phồi.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Xuân Vinh - Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Tuấn - Kiểm sát viên.

Trong ngày 18 tháng 7 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 52/2024/TLST-HS ngày 22 tháng 5 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 57/2024/QĐXXST-HS ngày 20 tháng 6 năm 2024 đối với các bị cáo:

1. Nguyễn Văn M (tên gọi khác: Không), sinh ngày 15/10/1989, tại tỉnh Tiền Giang;

  • - Nơi cư trú: Ấp M, xã M, thị xã C, tỉnh Tiền Giang;
  • - Nghề nghiệp: Không;
  • - Trình độ văn hoá (học vấn): 06/12;
  • - Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam;
  • - Con ông Nguyễn Văn K và bà Trần Thị Ư;
  • - Bị cáo chưa có vợ, con;
  • - Tiền án: Có 03 tiền án. Cụ thể như sau:
  • + Ngày 25/03/2008, bị Tòa án nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 04 năm tù về tội “Cướp giật tài sản”. Bị cáo chấp hành xong bản án vào ngày 30/8/2010.
  • + Ngày 09/01/2013, bị Tòa án nhân dân huyện Thạnh Hóa, tỉnh Long An xử phạt 02 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Ngày 12/04/2013, bị Tòa án nhân dân huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang xử phạt 06 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Tổng hợp hình phạt là 08 năm tù. Bị cáo chấp hành xong bản án vào ngày 22/3/2019.
  • + Ngày 12/3/2020, bị Tòa án nhân dân thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang xử phạt 04 năm tù về tội trộm cắp tài sản. Bị cáo chấp hành xong bản án vào ngày 20/01/2023.
  • - Tiền sự: Không có;
  • - Đặc điểm nhân thân:
  • + Ngày 14/8/2011, bị Công an xã M, huyện C, tỉnh Tiền Giang xử phạt 1.000.000 đồng về hành vi đập phá tài sản của gia đình.
  • + Ngày 29/8/2011, bị Công an xã M, huyện C, tỉnh Tiền Giang xử phạt 200.000 đồng về hành vi xúc phạm danh dự, nhân phẩm người khác.
  • + Ngày 19/10/2011, bị Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã M, huyện C, tỉnh Tiền Giang ra quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại cấp xã trong thời hạn 06 tháng, kể từ ngày 26/10/2011 đến ngày 26/4/2012.
  • - Bị can bị tạm giữ từ ngày 25/01/2024, chuyển tạm giam từ ngày 31/01/2024 tại Nhà tạm giữ Công an thị xã C, tỉnh Tiền Giang cho đến nay.
  • - Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

2. Nguyễn Văn T (tên gọi khác: Không), sinh ngày 09/12/1991, tại tỉnh Tiền Giang;

  • - Nơi cư trú: Ấp T, xã T, thị xã C, tỉnh Tiền Giang;
  • - Nghề nghiệp: Không;
  • - Trình độ văn hoá (học vấn): 04/12;
  • - Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam;
  • - Con ông Nguyễn Văn G và bà Lê Thị T1;
  • - Bị cáo có vợ nhưng đã ly hôn và có 01 con;
  • - Tiền án: Không có;
  • - Tiền sự: Không có;
  • - Đặc điểm nhân thân: Ngày 21/01/2020, bị Tòa án nhân dân thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang ra Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời gian là 15 tháng. Ngày 14/12/2021, bị cáo chấp hành xong quyết định.
  • - Bị can bị tạm giữ từ ngày 26/01/2024, chuyển tạm giam từ ngày 01/02/2024 tại Nhà tạm giữ Công an thị xã C, tỉnh Tiền Giang cho đến nay.
  • - Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

* Bị hại:

  1. Anh Phan Cao N, sinh năm 2000; (vắng mặt)
    Địa chỉ: Ấp T, xã T, thị xã C, tỉnh Tiền Giang.
  2. Bà Phan Thị M1, sinh năm 1972; (vắng mặt)
    Địa chỉ: Ấp T, xã T, thị xã C, tỉnh Tiền Giang.
  3. Ông Phan Văn Bé B, sinh năm 1968; (vắng mặt)
    Địa chỉ: Ấp T, xã T, thị xã C, tỉnh Tiền Giang.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

  1. Anh Võ Thanh M2, sinh năm 1995; (vắng mặt)
    Địa chỉ: Ấp M, xã P, huyện T, tỉnh Tiền Giang.
  2. Bà Lê Thị T1, sinh năm 1972; (có mặt)
    Địa chỉ: Ấp T, xã T, thị xã C, tỉnh Tiền Giang.
  3. Anh Huỳnh Văn C, sinh năm 1981; (có mặt)
    Địa chỉ: Ấp T, xã X, huyện C, tỉnh Tiền Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Văn MNguyễn Văn T có quan hệ bà con chú bác ruột với nhau. Cả hai đều không có nghề nghiệp và là đối tượng nghiện ma túy.

Chiều ngày 18/01/2024, M đi xe mô tô loại FAVOUR mang biển kiểm soát số 63X3 - 6667 đến nhà cô C1 tại ấp T, xã N, huyện C, tỉnh Tiền Giang chơi và gặp T. Khoảng 01 giờ 40 ngày 19/01/2024, M rủ T đi trộm cắp tài sản và T đồng ý. Mãi điều khiển xe mô tô loại FAVOUR mang biển kiểm soát số 63X3 - 6667 chở T đi ngang nhà anh Phan Cao N thì M thấy nhà không có hàng rào nên dừng xe lại cho T xuống xe vào nhà lấy trộm tài sản còn M ngồi trên xe để cảnh giới. Trặng vào nhà lấy trộm 01 điện thoại loại Iphone XS, 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone 8 Plus, 01 điện thoại di động hiệu Iphone 13 Promax, 01 điện thoại di động bàn phím số hiệu I và 1.000.000 đồng. Sau khi lấy trộm tài sản xong, T đi ra đưa cho M xem 03 điện thoại di động vừa trộm được, còn 01 điện thoại di động bàn phím số hiệu Itel và số tiền 1.000.000 đồng thì cất giấu trong người, rồi cả hai đi về. Trên đường đi, M gọi điện thoại cho anh Võ Thanh M2 để bán điện thoại và được M2 đồng ý mua. Mãi điều khiển xe chở T đến cửa hàng Đ tại khu vực ấp M, xã P, huyện T, tỉnh Tiền Giang. Khi đến trước cửa hàng điện thoại thì T tháo 03 sim điện thoại vứt bỏ và đưa cho M 03 chiếc điện thoại đi vào tiệm để bán. Mãi bán 03 điện thoại này với giá 1.500.000 đồng và kêu anh M2 chuyển tiền vào tài khoản của M. Khi về đến nhà cô C1, M chuyển số tiền 750.000 đồng cho T qua ứng dụng MOMO. Sau khi sự việc bị phát hiện T bỏ trốn, đến ngày 22/01/2024 thì đến Cơ quan Công an đầu thú về hành vi phạm tội của mình, ngày 25/01/2024 M bị Công an bắt giữ.

* Vật chứng thu giữ được bao gồm:

  • 01 điện thoại di động hiệu Iphone 13 Promax đã qua sử dụng;
  • 01 điện thoại di động hiệu Iphone xs đã qua sử dụng;
  • 01 điện thoại di động hiệu Iphone 8 Plus đã qua sử dụng;
  • 01 điện thoại di động bàn phím số hiệu Itet đã qua sử dụng;
  • 01 (một) xe mô tô loại FAVOUR mang biển kiểm soát số 63X3 - 6667 đã qua sử dụng.
  • 01 (một) đĩa DVD trích xuất camera.

* Về giá trị các tài sản mà các bị cáo đã chiếm đoạt: Bản kết luận định giá tài sản số 04 ngày 29/01/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự thị xã C kết luận: 01 điện thoại di động hiệu Iphone 13 Promax trị giá 16.800.000 đồng, 01 điện thoại di động hiệu Iphone XS trị giá 5.600.000 đồng, 01 điện thoại di động hiệu Iphone 8 Plus trị giá 4.000.000 đồng, 01 điện thoại di động bàn phím số hiệu Itel trị giá 200.000 đồng và 04 sim điện thoại mạng viễn thông trị giá 100.000 đồng. Tổng cộng là 26.700.000 đồng.

* Về xử lý vật chứng trong quá trình điều tra: Cơ quan điều tra đã ra Quyết định xử lý vật chứng và trao trả 04 chiếc điện thoại cho các bị hại.

* Về trách nhiệm dân sự:

  • - Các bị hại đã nhận lại 04 điện thoại và được gia đình các bị cáo bồi thường số tiền là 1.000.000 đồng nên không có yêu cầu gì khác.
  • - Anh Võ Thanh M2 không yêu cầu các bị cáo trả lại số tiền 1.500.000 đồng và không có yêu cầu gì khác.

* Cáo trạng số 57/CT-VKSTXCL ngày 21 tháng 5 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang:

  • - Truy tố bị cáo Nguyễn Văn M để xét xử về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017;
  • - Truy tố bị cáo Nguyễn Văn T để xét xử về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

* Tại phiên tòa:

  1. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang giữ quyền công tố, trình bày tranh luận và luận tội:
    • - Giữ nguyên cáo trạng đã truy tố đối với các bị cáo Nguyễn Văn MNguyễn Văn T; ngoài ra còn phân tích, đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo.
    • - Đề nghị Hội đồng xét xử:
      • + Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Văn MNguyễn Văn T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
      • - Áp dụng Điều 17, 32, Điều 38; điểm b, s khoản 1 Điều 51 và điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Nguyễn Văn M từ 04 năm đến 04 năm 06 tháng tù;
      • - Áp dụng Điều 17, 32, Điều 38; điểm b, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T từ 09 tháng đến 01 năm tù;
      • + Về xử lý vật chứng: Không.
  2. Các bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình theo đúng như Cáo trạng mà Viện kiểm sát nhân dân thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang đã truy tố. Đồng thời, các bị cáo không có ý kiến gì về việc xử lý vật chứng và kết luận định giá đối với tài sản đã chiếm đoạt.
  3. Ý kiến tranh luận của các bị cáo: Không có ý kiến và thống nhất đối với quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa;
  4. Các bị hại vắng mặt và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án anh Võ Thanh M2 vắng mặt tại phiên tòa;
  5. Các người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án bà Lê Thị T1 và anh Huỳnh Văn C không có ý kiến tranh luận.
  6. Lời nói sau cùng của các bị cáo: Các bị cáo đã ăn năn, hối hận về hành vi của mình. Xin được giảm nhẹ hình phạt để sớm về đoàn tụ với gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng trong điều tra, truy tố, xét xử:

  • - Hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên - Cơ quan Cảnh sát điều tra, Công an thị xã C, tỉnh Tiền Giang; Kiểm sát viên - Viện kiểm sát nhân dân thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Các tài liệu, chứng cứ do Cơ quan Cảnh sát Điều tra và Viện kiểm sát thu thập là hợp pháp.
  • - Quá trình điều tra và tại phiên tòa, những người tham gia tố tụng không có khiếu nại về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Như vậy, hành vi và quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về việc vắng mặt của những người được Tòa án triệu tập tại phiên tòa:

  • - Các bị hại đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên tòa. Xét thấy, các bị hại đã nhận lại toàn bộ tài sản bị chiếm đoạt và không có yêu cầu gì khác về dân sự nên việc vắng mặt không làm ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt theo quy định tại Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự.
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án anh Võ Thanh M2 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không có lý do. Xét thấy, trong quá trình điều tra anh T2 đã cung cấp đầy đủ lời khai, anh M2 không có ý kiến gì khác và việc vắng mặt tại phiên tòa không làm ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt.

[3] Về nội dung vụ án:

[3.1] Các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời khai của các bị cáo Nguyễn Văn MNguyễn Văn T tại phiên tòa hôm nay cho thấy:

Vào khoảng 02 giờ ngày 19/01/2024, tại nhà của anh Phan Cao N tại ấp T, xã T, thị xã C, tỉnh Tiền Giang, Nguyễn Văn MNguyễn Văn T đã có hành vi lén lút lấy trộm 03 điện thoại di động có sim gồm: 01 điện thoại di động hiệu Iphone 13 Promax, 01 điện thoại di động hiệu Iphone XS, 01 điện thoại di động hiệu Iphone 8 Plus. Tổng giá trị tài sản mà các bị cáo đã chiếm đoạt là 26.475.000 đồng.

Ngoài ra, T cất giấu riêng không nói cho M biết về việc trộm cắp 01 điện thoại di động bàn phím số hiệu Itel kèm sim trị giá 225.000 đồng và số tiền 1.000.000 đồng, để tiêu xài cá nhân. Như vậy, tổng giá trị tài sản mà bị cáo T đã chiếm đoạt là 27.700.000 đồng.

[3.2] Tại phiên tòa, các bị cáo Nguyễn Văn MNguyễn Văn T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Lời khai nhận của các bị cáo phù hợp lời khai của những người liên quan, người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử nhận thấy:

  • - Bị cáo Nguyễn Văn M đã từng bị kết án về tội “Trộm cắp tài sản” và ở lần phạm tội trước đó bị cáo đã bị áp dụng tình tiết định khung là “tái phạm nguy hiểm”. Sau khi chấp hành án xong, bị cáo chưa được xóa án tích nhưng lại tiếp tục phạm tội mới nên ở lần phạm tội này bị cáo vẫn bị xem là “tái phạm nguy hiểm”. Như vậy, có đủ cơ sở để kết luận bị cáo Nguyễn Văn M phạm tội “Trộm cắp tài sản” được quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
  • - Bị cáo Nguyễn Văn T tại thời điểm phạm tội không có tiền án, tiền sự và giá trị tài sản mà bị cáo chiếm đoạt là 27.700.000 đồng. Như vậy, có đủ cơ sở để kết luận bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Trộm cắp tài sản” được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Từ những nhận phân tích trên, Hội đồng xét xử xét thấy cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang đã truy tố các bị cáo Nguyễn Văn MNguyễn Văn T với tội danh và điều luật nêu trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng với quy định pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[3.3] Hành vi phạm tội của các bị cáo là xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của người khác, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an tại địa phương. Các bị cáo là người đã thành niên, thực hiện hành vi với lỗi cố ý. Các bị cáo nhận thức rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật và ảnh hưởng đến đời sống sinh hoạt của người dân, đặc biệt là đối với bị cáo Nguyễn Văn M đã từng bị xét xử về tội “Trộm cắp tài sản” thì phải càng phải nhận thức rõ được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng do vụ lợi cá nhân nên bất chấp thực hiện. Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội do đó cần phải được xử lý nghiêm thì mới đủ tác dụng phòng ngừa chung cho toàn xã hội.

[3.4] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

  • - Đối với bị cáo Nguyễn Văn M: Tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải và tự nguyện khắc phục hậu quả nên cần được xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo theo quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
  • - Đối với bị cáo Nguyễn Văn T: Tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; tự nguyên khắc phục hậu quả và bị cáo phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên cần được xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo theo quy định tại điểm b, i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017. Ngoài ra, sau khi bị phát hiện thì bị cáo T đã tự nguyện ra trình diện và khai báo với cơ quan có thẩm quyền về hành vi phạm tội của mình nên đây là tình tiết “đầu thú” được quy định tại điểm i khoản 1 Điều 4 Bộ luật Tố tụng hình sự. Vì vậy, Hội đồng xét xử xem xét và quyết định áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

[3.5] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không.

[3.6] Về đặc điểm nhân thân của bị cáo: Các bị cáo có nhân thân xấu với rất nhiều lần vi phạm pháp luật.

[3.7] Về tính chất của đồng phạm: Đây là vụ án đồng phạm có tính chất giản đơn, trong đó Nguyễn Văn M là người rủ rê và giúp sức, Nguyễn Văn T là người thực hành.

[3.8] Căn cứ tính chất, mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự và đặc điểm nhân thân của các bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy các bị cáo có thái độ xem thường pháp luật, thường xuyên bị xử lý hình sự và xử phạt hành chính nhưng vẫn không thay đổi tính tình điều đó chứng tỏ các hình phạt trước đó không đủ tác dụng để cải tạo bị cáo. Vì vậy, cần thiết phải tiếp tục cách ly các bị cáo ra khỏi cộng đồng xã hội thì mới có đủ tác dụng giáo dục, cải tạo các bị cáo thành người công dân có ích cho xã hội sau này.

[4] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy, các tài liệu, chứng cứ và lời khai của các bị cáo tại phiên tòa đều cho thấy các bị cáo không có việc làm ổn định và hiện nay còn phải chấp hành án phạt tù. Do đó, Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung theo quy định tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017, đối với các bị cáo.

[5] Về biện pháp tư pháp:

Đối với số tiền là 1.500.000 đồng từ việc bán điện thoại do trộm cắp mà có. Xét thấy, đây là khoản thu lợi bất chính từ việc phạm tội nên buộc các bị cáo nộp lại vào ngân sách nhà nước theo quy định tại các Điều 46 và Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

[6] Về trách nhiệm dân sự:

  • - Các bị hại đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì khác về dân sự nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.
  • - Anh Võ Thanh M2 không có yêu cầu xử lý đối với số tiền mua điện thoại của các bị cáo là 1.500.000 đồng nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.

[7] Về các vấn đề khác trong vụ án:

  • - Đối với 01 (một) xe mô tô loại FAVOUR mang biển kiểm soát số 63X3 – 6667: Bị cáo M khai mua chiếc xe này của người tên C2 (không rõ họ tên, địa chỉ) với giá 1.500.000 đồng. Qua xác minh, thì nguồn gốc chiếc xe này là của anh Huỳnh Văn C sinh năm: 1981, nơi thường trú: ấp T, xã X, huyện C, tỉnh Tiền Giang được chị vợ là Trà Thị Mỹ C3, sinh năm 1980, nơi thường trú: ấp A, xã X, huyện C, tỉnh Tiền Giang tặng cho anh nhưng chưa làm thủ tục sang tên. Vào tháng 11/2023, anh C bị mất trộm chiếc xe tại xã T, thị xã C, tỉnh Tiền Giang nhưng không có trình báo với Cơ quan Công an. Qua trình điều tra, chị C3 không có mặt tại địa phương nên chưa làm việc được. Do đó, đề nghị Cơ quan Cảnh sát điều tra tiếp tục tạm giữ để điều tra và xử lý sau theo quy định của pháp luật.
  • - Anh Võ Thanh M2 có hành vi mua 03 chiếc điện thoại do M và T trộm cắp mà có nhưng khi bán điện thoại thì các bị cáo không nói cho M2 biết nguồn gốc điện thoại do lấy trộm của người khác mà có và anh M2 cũng không biết điện thoại do trộm cắp mà có. Do đó, không có căn cứ truy cứu trách nhiệm hình sự đối với Võ Thanh M2 về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”.
  • - Sau khi bán được điện thoại, bị cáo T có cho mẹ ruột là bà Lê Thị T1 số tiền là 500.000 đồng. Bà T1 không biết số tiền này do M và T phạm tội mà có nên Cơ quan điều tra không xử lý bà T1 là có căn cứ.
  • [8] Xét đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang là phù hợp toàn bộ nên Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố: Các bị cáo Nguyễn Văn MNguyễn Văn T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

[1.1] Áp dụng các Điều 17, 32, 38, 53; điểm b, s khoản 1 Điều 51; Điều 58 và điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017:

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn M 04 (bốn) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ là ngày 25 tháng 01 năm 2024.

[1.2] Áp dụng các Điều 17, 32, 38; điểm b, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 58 và khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017:

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T 09 (chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ là ngày 26 tháng 01 năm 2024.

2. Về biện pháp tư pháp: Áp dụng các Điều 46 và Điều 47 Bộ luật Tố tụng hình sự:

Buộc các bị cáo Nguyễn Văn MNguyễn Văn T mỗi bị cáo phải nộp vào ngân sách nhà nước với số tiền là 750.000 đồng.

3. Về án phí: Áp dụng các Điều 135 và Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

Các bị cáo Nguyễn Văn MNguyễn Văn T mỗi bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm với số tiền là 200.000 đồng.

5. Về quyền kháng cáo: Áp dụng các tại các Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự:

  • - Các bị cáo và các người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án bà Lê Thị T1, anh Huỳnh Văn C có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
  • - Các bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án anh Võ Thanh M2 có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Tiền Giang;
  • - VKSND tỉnh Tiền Giang;
  • - VKSND thị xã Cai Lậy;
  • - Chi cục THADS thị xã Cai Lậy;
  • - Công an thị xã Cai Lậy;
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - Lưu: Hồ sơ, VT.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Võ Phong Hiếu

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 66/2024/HS-ST ngày 18/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CAI LẬY, TỈNH TIỀN GIANG về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 66/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 18/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CAI LẬY, TỈNH TIỀN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Các bị cáo Nguyễn Văn M và Nguyễn Văn T phạm tội “Trộm cắp tài sản”
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger