Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ THANH HÓA

TỈNH THANH HÓA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 66/2023/HS-ST

Ngày: 27-12-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HÓA, TỈNH THANH HÓA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Ninh Thị Khánh Tân

Các hội thẩm nhân dân: Ông Lê Cát Tưởng

Ông Phạm Văn Tiến

- Thư ký phiên tòa: Bà Hà Thị Yến – Thư ký TAND thành phố Thanh Hóa.

- Đại diện VKSND thành phố Thanh Hóa tham gia phiên tòa: Bà Bùi Thị Trà M - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 12 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 74/2023/TLST-HS ngày 23 tháng 11 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 75/2023/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 12 năm 2023 đối với bị cáo:

Nguyễn Văn T; sinh năm 1991 tại tỉnh Thanh Hóa; giới tính: nam; Nơi cư trú: Tổ dân phố S, phường N, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa; nghề nghiệp: lái xe; trình độ học vấn: 12/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: kinh; tôn giáo: không; con ông: Nguyễn Văn X (đã chết) và bà Lê Thị H; gia đình có 03 anh em, bị cáo là con thứ ba trong gia đình; có vợ là Nguyễn Thị P và 02 con, lớn sinh năm 2018 và nhỏ sinh năm 2019; tiền án, tiền sự: không; bị cáo tại ngoại. Có mặt.

- Bị hại: Ông Nguyễn Văn H1, sinh năm 1963 (vắng mặt)

Địa chỉ: Số nhà E, đường L, phường Q, thành phố T

- Bị đơn dân sự: Công ty Cổ phần Đ

Địa chỉ: Số F Đà Nẵng, Cầu T, Ngô Q, Hải Phòng

Người đại diện theo pháp luật: Ông Phạm Văn H2 – Giám đốc

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Ngọc H3, sinh năm 1988. Có mặt.

Địa chỉ TDP K, phường M, thị xã N, Thanh Hóa (theo giấy ủy quyền số 12/GUQ/BVTL ngày 26/12/2023)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 08 giờ 45 phút ngày 07/5/2023, Nguyễn Văn T có giấy phép lái xe hợp lệ, điều khiển xe ô tô BKS 15C – 279.06 đi đến khu vực ngã ba giao nhau giữa đường L - T, thuộc địa phận phường Q, thành phố T, do chuyển hướng không quan sát nên đã đâm va vào xe mô tô BKS 36M1 – 137.53 do ông Nguyễn Văn H1 đi cùng chiều bên phải. Hậu quả: ông Nguyễn Văn H1 bị thương phải cấp cứu tại bệnh viện với thương tích như sau:

- Dập nát cẳng bàn chân bên phải; vết thương dập nát cổ bàn chân bên trái kích thước 20x10cm;

- Vết thương vùng đỉnh đầu, kích thước khoảng 03cm;

- Chấn thương vùng ngực, chấn thương bàn tay trái.

Sau khi xảy ra vụ việc, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T đã phối hợp với các cơ quan chức năng khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm phương tiện, thể hiện như sau:

Về hiện trường:

Nơi xảy ra vụ tai nạn giao thông là ngã ba giao nhau giữa đường L và đường T, thuộc địa phận phường Q, thành phố T, là ngã ba giao nhau có tín hiệu đèn giao thông hoạt động bình thường. Đường T là đường có dải phân cách cố định, chia hai đường chạy riêng biệt, có chiều rộng 19m, dải phân cách rộng 5m, mỗi bên đường xe chạy rộng 7m. Đường L có chiều rộng 13m, chia đôi hai chiều xe chạy bằng vạch 11, được dải nhựa bằng phẳng.

Lấy mép đường phía nam đường L làm mốc để xác định hiện trường.

Quá trình khám nghiệm xác định vị trí thứ tự phương tiện, tang vật, dấu vết sau:

  1. Vết cày xước mặt đường không liên tục kích thước (25x0,01)m. Vết có chiều từ T1 sang Đ, đầu vết cách mép chuẩn 0,7m. Cuối vết trùng vị trí tay nắm lái bên phải xe mô tô 36M1 – 137.53 đổ.
  2. Xe mô tô 36M1 – 137.53 tư thế cuối cùng đổi nghiêng bên phải, đầu xe hướng Đông Nam, tâm trục bánh trước và tâm trục bánh sau cách điểm chuẩn lần lượt là 1,8m và 2,7m.
  3. Đám máu kích thước (0,9x9)m cách đầu vết cày số (1) 9,1m về phía Đông Bắc, tâm vết cách mép chuẩn 3,3m.
  4. Vị trí xe ô tô 15C – 279.06 dừng tư thế cuối cùng đầu xe hướng Đông bánh trước và bánh sau cùng bên phải cách mép chuẩn lần lượt là 1,4m và 1,8m.

Về phương tiện:

  1. Điểm va chạm đầu tiên của 01 phương tiện: Mặt trước bên phải ba đờ sốc cách thành xe bên phải 7cm xe ô tô BKS 15C – 279.06 với ngoài sau bên trái tay nâng, ốp nhựa bên trái thân xe, mặt ngoài sau ốp nhựa bên trái đuôi xe, bên trái ốp nhựa cụm đèn hậu xe mô tô BKS 36M1 – 137.53.
  2. Chiều hướng chuyển động: tại thời điểm va chạm, xe ô tô BKS 15C- 279.06 chuyển động từ trái sang phải, cùng chiều so với chuyển động của xe mô tô BKS 36M1 – 137.53
  3. Vị trí va chạm: nằm trước đầu vết cày xước mặt đường, được thể hiện trong biên bản khám nghiệm hiện trường và sơ đồ hiện trường, trong khu vực giao nhau giữa đường L – Trịnh Kiểm
  4. Không đủ cơ sở xác định tốc độ của 02 phương tiện thời điểm xảy ra tai nạn giao thông.

Về kết quả trưng cầu giám định thương tật: tại bản Kết luận giám định số 1253/KLTTCT-PYTH ngày 22/8/2023, kết luận: tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Nguyễn Văn H1 tại thời điểm giám định là 73%

Về dân sự: Bị cáo Nguyễn Văn T đã bồi thường cho ông Nguyễn Văn H1 tổng số tiền 250.000.000đ (hai trăm năm mươi triệu đồng). Ông H1 đã nhận đủ số tiền và không có yêu cầu gì thêm về dân sự, đồng thời có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho Nguyễn Văn T.

Về thu giữ, xử lý phương tiện: Đối với xe ô tô BKS 15C – 279.06 và xe mô tô BKS 36M1 – 137.53 thu giữ để phục vụ công tác điều tra, khám nghiệm phương tiện. Hiện cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T đã trả lại xe ô tô và xe mô tô cho chủ sở hữu hợp pháp.

Cáo trạng số 11/CT-VKS_ngày 22/11/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thanh Hóa truy tố bị cáo Nguyễn Văn Toàn về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm b khoản 1 Điều 260 của Bộ luật Hình sự;

Tại phiên tòa,

Bị cáo Nguyễn Văn T đã khai nhận toàn bộ hành vi đúng như nêu trên, phù hợp với tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.

Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: điểm b khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015.

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”; đề nghị xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn T mức án từ 12 tháng đến 15 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 24 tháng đến 30 tháng;

Về phần dân sự: Ghi nhận đã giải quyết xong nên đề nghị không xem xét.

Về án phí: Đề nghị áp dụng Điều 135, Điều 136 BLTTHS Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTVQH14, buộc bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo Nguyễn Văn T không có ý kiến tranh luận với lời luận tội của Viện kiểm sát. Tại lời nói sau cùng, bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng án treo để có cơ hội tiếp tục lao động chăm sóc gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng: Cơ quan điều tra Công an thành phố T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thanh Hóa, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và xét xử, bị cáo, bị hại, bị đơn dân sự không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại phiên toà, bị cáo đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như cáo trạng đã truy tố. Lời khai nhận tội của bị cáo thống nhất với lời khai của người bị hại về hành vi đã thực hiện, thời gian, địa điểm và các chứng cứ khác phản ánh tại hồ sơ, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:

Khoảng 08 giờ 45 phút ngày 07/5/2023 Nguyễn Văn T có giấy phép lái xe hợp lệ, điều khiển xe ô tô BKS 15C – 279.06 đi đến khu vực ngã ba giao nhau giữa đường L - T, thuộc địa phận phường Q, thành phố T, do chuyển hướng không quan sát nên đã đâm va vào xe mô tô BKS 36M1 – 137.53 do ông Nguyễn Văn H1 điều khiển đi cùng chiều bên phải. Hậu quả: ông Nguyễn Văn H1 bị thương với tỷ lệ thương tích 73%.

Vì vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thanh Hóa truy tố bị cáo Nguyễn Văn T về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm b khoản 1 Điều 260 BLHS Bộ luật hình sự là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Xét tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi:

Hành vi phạm tội của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến trật tự và an toàn giao thông đường bộ cũng như sự an toàn về sức khỏe và tài sản của người khác, nhất là trong tình hình hiện nay, tai nạn giao thông ngày càng gia tăng, trở thành nỗi ám ảnh lo ngại cho mọi người khi tham gia giao thông, chính quyền các cấp đã đang phải áp dụng nhiều biện pháp giảm thiểu các vụ tai nạn giao thông nhưng Nguyễn Văn T với ý thức chủ quan, không chấp hành quy định của Luật giao thông đường bộ, đã điều khiển xe ô tô trộn bê tông với trọng tải 10300kg đi vào đoạn đường giao nhau giữa đường L - T, thuộc địa phận phường Q, thành phố T là đoạn đường cấm xe tải trên 5 tấn, đã thiếu chú ý quan sát đã gây ra hậu quả nghiêm trọng, để xảy ra tai nạn gây ra thương tật vĩnh viễn cho ông nguyễn Văn H4. Do vậy cần có mức hình phạt tương xứng với hành vi và hậu quả bị cáo gây ra.

[4] Xét các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự:

Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra, truy tố và xét xử, bị cáo thành khẩn khai báo; nhân thân không tiền án, tiền sự; sau khi sự việc xảy ra, ông H4 phải đi điều trị, bị cáo cùng chủ phương tiện đã đến động viên và bồi thường một lần cho gia đình ông H4 250.000.000đ (hai trăm năm mươi triệu đồng), hai bên đã thỏa thuận bồi thường xong về dân sự, người bị hại có đơn đề nghị giảm nhẹ, miễn trách nhiệm hình sự đối với bị cáo. nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự để giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt thể hiện chính sách nhân đạo của Nhà nước ta

Bị cáo có thân nhân tốt, phạm tội do lỗi vô ý, có nhiều tình tiết giảm nhẹ; có nơi cư trú rõ ràng; ngoài lần phạm tội này, bị cáo không có vi phạm gì khác; có khả năng tự cải tạo và nếu không bắt đi chấp hành hình phạt tù cũng không ảnh hưởng đến cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm chung; Hội đồng xét xử xét thấy không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội mà cho bị cáo được cải tạo tại địa phương, dưới sự giám sát của gia đình và chính quyền nơi cư trú cũng đủ để giáo dục, cải tạo đối với bị cáo và răn đe phòng ngừa chung.

[5] Về trách nhiệm dân sự: Các chi phí do thiệt hại xảy ra Công ty cổ phần Đ và bị cáo đã thỏa thuận bồi thường xong cho bị hại và bị hại không yêu cầu bồi thường gì thêm. Xét thấy sự thỏa thuận của hai bên là hoàn toàn tự nguyện không trái pháp luật, chấp nhận sự thỏa thuận.

[6] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ : điểm b khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65; Điều 47 của Bộ luật hình sự.

Điều 106; Điều 135; Điều 136; Điều 331, Điều 332, Điều 333 BLTTHS.

Điểm a Khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Xử phạt: Phạt bị cáo Nguyễn Văn T 15 (mười lăm) tháng tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 30 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Nguyễn Văn T cho UBND phường N, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách.

Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Về trách nhiệm dân sự: Công nhận phần dân sự đã giải quyết xong.

Về án phí: Buộc bị cáo Nguyễn Văn T phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị đơn dân sự có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.

Nơi nhận:

  • - VKSND thành phố Thanh Hóa;
  • - VKSND tỉnh Thanh Hóa;
  • - TAND tỉnh Thanh Hóa;
  • - Chi cục THADS thành phố Thanh Hóa;
  • - CQĐT Công an thành phố Thanh Hóa;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Ninh Thị Khánh Tân

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 66/2023/HS-ST ngày 27/12/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HÓA, TỈNH THANH HÓA về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ

  • Số bản án: 66/2023/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/12/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HÓA, TỈNH THANH HÓA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thị N cho vay lãi nặng trong gd ds
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger