Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH HẢI DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 66/2024/HS-ST

Ngày: 17/9/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:Bà Phạm Thúy Hằng.
Các Hội thẩm nhân dân:Ông Nguyễn Đức Hạnh.
Bà Ngô Thị Thơm.

- Thư ký phiên tòa: Ông Bùi Hải Long - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương tham gia phiên tòa:

Ông Nguyễn Như Sáng - Kiểm sát viên trung cấp.

Ngày 17 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 50/2024/TLST-HS ngày 24 tháng 6 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 63/2024/QĐXXST-HS ngày 20 tháng 8 năm 2024, đối với bị cáo:

Vũ Hồng G, sinh ngày 21 tháng 3 năm 1958 tại huyện T, tỉnh Hải Dương; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Tập thể xí nghiệp chân tay giả phường Ô, quận Đ, thành phố Hà Nội; chỗ ở: Số I, ngõ G, phố N, phường Ô, quận Đ, thành phố Hà Nội; giới tính: Nam; trình độ học vấn: 12/12; nghề nghiệp: Giám đốc Công ty trách nhiệm hữu hạn H8; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Vũ Đức T (đã chết) và con bà Trịnh Thị T1 (đã chết); có vợ và 02 con, con lớn sinh năm 1987, con nhỏ sinh năm 1998; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm giam ngày 09/01/2024, hiện đang tạm giam tại Trại giam Công an tỉnh H. Có mặt.

Người bào chữa cho bị cáo: ông Tạ Quốc L – Luật sư Công ty L6, thuộc đoàn luật sư thành phố H. Có mặt.

- Nguyên đơn dân sự: Cục Thuế tỉnh H; địa chỉ: khu A, đường T, phường T, thành phố H;

Người đại diện: ông Lê Xuân K – Trưởng phòng Thanh tra- Kiểm tra số 2, Cục Thuế tỉnh H. Vắng mặt.

- Người làm chứng:

  1. Chị Nguyễn Thị P, sinh năm 1986;
  2. Anh Trần Văn M, sinh năm 1988;
  3. Chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1976;
  4. Chị Nguyễn Thị N, sinh năm 1981;
  5. Anh Bùi Ngọc D, sinh năm 1992;
  6. Chị Phan Thị Thúy Đ, sinh năm 1985;
  7. Chị Nguyễn Thị Hồng H1, sinh năm 1992;
  8. Chị Nguyễn Thị L1, sinh năm 1981;
  9. Chị Nguyễn Thị H2, sinh năm 1995;
  10. Chị Nguyễn Thị M1, sinh năm 1989;
  11. Anh Nguyễn Trường S, sinh năm 1982;
  12. Anh Nguyễn Văn K1, sinh năm 1984;

Đều vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 09/11/2016, Sở kế hoạch và đầu tư tỉnh H cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp Công ty trách nhiệm hữu hạn (TNHH) Hanwo 2 (Viết tắt là Công ty H9); địa chỉ trụ sở chính: số A, ngõ E T, phường T, thành phố H; người đại diện theo pháp luật, Giám đốc Công ty là Vũ Hồng G. Ngành nghề sản xuất, kinh doanh: Xuất khẩu nhôm kim loại và một số ngành nghề kinh doanh khác.

Công ty H9 kê khai nộp thuế tại Cục thuế tỉnh H theo phương pháp kê khai khấu trừ thuế. Trong thời gian từ năm 2019 đến năm 2020, Vũ Hồng G đã mua và sử dụng bất hợp pháp 216 hóa đơn của 07 Công ty gồm: Công ty TNHH K2, địa chỉ: số E, Phố M, thị trấn T, huyện G, thành phố Hà Nội (Viết tắt là Công ty K2); Công ty TNHH Đ3, địa chỉ: thôn N, thị trấn T, huyện S, tỉnh Bắc Giang (Viết tắt là Công ty Đ3); Công ty TNHH Đ4, địa chỉ: thôn H, xã L, huyện S, Bắc Giang (Viết tắt là Công ty Đ4); Công ty TNHH S3, địa chỉ: khu phố Đ, phường C, thành phố T, tỉnh Bắc Ninh (Viết tắt là Công ty S3); Công ty TNHH T7, địa chỉ: khu đô thị Đ, phường Đ, thành phố T, tỉnh Bắc Ninh (Viết tắt là Công ty T7); Công ty TNHH T8, địa chỉ: H, thị trấn Y, huyện G, thành phố Hà Nội (Viết tắt là Công ty T8) và Công ty TNHH T9, địa chỉ: thôn H, xã Đ, huyện G, thành phố Hà Nội (Viết tắt là Công ty T9), để hợp thức hóa hàng hóa mua vào là 12.348.933,5 Kg nhôm trị giá 254.761.842.660 đồng; làm thủ tục xuất khẩu hàng hóa sang Trung Quốc, Ấn Độ, Nhật Bản, Hàn Quốc, I. Trong đó, G sử dụng 216 hóa đơn với số tiền thuế 25.476.184.266 đồng để kê khai thuế giá trị gia tăng (GTGT), đề nghị hoàn thuế 185 hóa đơn với số tiền thuế 22.203.097.296 đồng và đã được Cục thuế tỉnh H hoàn thuế 19.849.067.896 đồng, chưa được hoàn thuế 2.354.029.400 đồng. Ngày 11/5/2021, Cục T phát hiện có dấu hiệu vi phạm trong việc sử dụng hóa đơn không hợp pháp, đã ra Quyết định dừng việc hoàn thuế đối với Công ty H9. Vì vậy, G không thực hiện được việc làm thủ tục hoàn thuế đối với 31 hóa đơn với số tiền thuế 3.273.086.970 đồng. Cụ thể như sau:

Hành vi sử dụng bất hợp pháp 90 hóa đơn của Công ty S3 kê khai thuế, đề nghị Cục thuế tỉnh H hoàn thuế: Từ tháng 4/2019 đến tháng 8/2020, G đã mua 2.350.809 Kg nhôm của các hộ dân tại làng nghề thôn M, xã V, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh và các hộ dân ở tỉnh Bình Định, Bình Dương, thành phố Hồ Chí Minh như mua của chị Nguyễn Thị H2, sinh năm 1995, trú tại: Khu E, T, T, Đ, Hà Nội; chị Nguyễn Thị M1, sinh năm 1989, trú tại: M, V, Y, Bắc Ninh; anh Nguyễn Trường S, sinh năm 1982, trú tại: Thị trấn C, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh và anh Nguyễn Văn K1, sinh năm 1984, trú tại: M, V, Y, Bắc Ninh. Những người bán nhôm nêu trên đều không có hóa đơn chứng từ kèm theo với tổng trị giá 127.551.527.864 đồng. Để hợp thức hóa 2.350.809 Kg này và làm thủ tục xuất khẩu hàng hóa sang Trung Quốc, Ấn Độ, Nhật Bản, Hàn Quốc, I, G đã mua hóa đơn của người khác. Thông qua các mối quan hệ xã hội, G liên hệ người phụ nữ tên P (không xác định được nhân thân, lai lịch) để mua 90 hóa đơn với trị giá hàng hóa ghi trên hóa đơn chưa thuế là 127.551.527.864 đồng, thuế GTGT là 12.755.152.786 đồng. G và người tên P thỏa thuận giá bán hóa đơn là 2,2% trên tổng số tiền hàng hóa ghi trên hóa đơn trước thuế (2.806.133.613 đồng) của Công ty S3, do Trần Văn M, sinh năm 1988, trú tại: khu phố Đ, phường C, thành phố T, tỉnh Bắc Ninh làm Giám đốc. G cung cấp thông tin về Công ty H9, số lượng hàng hóa, giá tiền để P làm hợp đồng mua bán và chuyển 90 hóa đơn cho G. Sau khi hoàn thiện thủ tục, P giao cho G các hợp đồng kinh tế và 90 hóa đơn GTGT thông qua dịch vụ chuyển phát của Bưu điện. Các hợp đồng kinh tế đã có chữ ký của Trần Văn M tại mục bên bán, G ký vào mục bên mua. G thuê các Công ty Logistic vận chuyển hàng hóa đến Cảng H, Cảng C - thành phố Hồ Chí Minh, Q - Bình Định, làm thủ tục xuất khẩu hàng hóa. Từ 04/9/2019 đến ngày 08/09/2020, G ký ủy nhiệm chi giao cho Nguyễn Thị P, sinh năm 1986, trú tại: Xóm C, M, phường T, quận N, thành phố Hà Nội (Kế toán) làm thủ tục chuyển 127.551.527.864 đồng từ tài khoản của Công ty H9 đến tài khoản của Công ty S3. Sau khi nhận tiền, Công ty S3 giữ lại tiền bán hóa đơn là 2.806.133.613 đồng và sử dụng tài khoản cá nhân chuyển khoản trả Công ty H9 124.745.394.251 đồng vào tài khoản ngân hàng của nhân viên Công ty H9, G tiếp tục sử dụng số tiền này để mua nhôm của các hộ dân. Từ tháng 9/2019 đến tháng 9/2020, G đã kê khai thuế 90 hóa đơn, đã sử dụng 80 hóa đơn mua của Công ty S3 để hạch toán hàng hóa đầu vào trong hoạt động phát sinh nghĩa vụ thuế làm tăng số tiền thuế được hoàn, đề nghị Cục thuế tỉnh H cho hoàn thuế số tiền là 12.755.152.786 đồng và đã được Cục thuế tỉnh H hoàn thuế tổng số tiền 10.647.066.276 đồng, chưa được hoàn là 485.625.120 đồng, đối với 10 hóa đơn với số tiền thuế là 1.622.461.390 đồng do bị Cục thuế tỉnh H kiểm tra nên G chưa đề nghị hoàn thuế.

Hành vi sử dụng bất hợp pháp 126 hóa đơn của 06 Công ty gồm: Công ty K2, Công ty Đ3, Công ty Đ4, Công ty T7, Công ty T8, và Công ty T9 kê khai thuế, đề nghị Cục thuế tỉnh H hoàn thuế:

Cũng với thủ đoạn tương tự như trên, từ năm 2019 đến năm 2020, để hợp thức hóa 9.998.124,5 kg nhôm mua của các hộ dân không có hóa đơn chứng từ kèm theo với tổng trị giá 127.210.314.800 đồng, G đã mua 126 hóa đơn của 06 Công ty gồm: Phúc T2 (đứng tên Giám đốc là Nguyễn Thị H, sinh năm 1976, trú tại: C, phường Đ, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa), Trường S1 (đứng tên Giám đốc là Nguyễn Thị N, sinh năm 1981, trú tại: H, Hồ N, A, thành phố Hải Phòng), Bùi Ngọc D (đứng tên Giám đốc là Bùi Ngọc D, sinh năm 1992, trú tại: T, Q, Hưng Yên), Phát T3 (đứng tên Giám đốc là Phan Thị Thúy Đ, sinh năm 1985, trú tại: T, C, T), Minh T4 (đứng tên Giám đốc là Nguyễn Thị Hồng H1, sinh năm 1992, trú tại: L, N, T, Hà Nội) và An S2 (đứng tên Giám đốc là Nguyễn Thị L1, sinh năm 1981, trú tại: T, P. C, TP ., Bắc Ninh) với giá từ 2,1% đến 8% trên tổng số tiền hàng hóa ghi trên hóa đơn trước thuế. G sử dụng 126 hóa đơn của 06 Công ty trên để làm thủ tục xuất khẩu hàng hóa sang Trung Quốc, Ấn Độ, Nhật Bản, Hàn Quốc, I; đã kê khai 126 hóa đơn với tổng số tiền thuế là 12.721.031.480 đồng; đã làm thủ tục đề nghị Cục thuế tỉnh H hoàn thuế 105 hóa đơn với số tiền 9.447.944.510 đồng; trong đó đã được hoàn thuế 9.202.001.620 đồng, chưa được hoàn thuế 1.868.404.280 đồng, đối với 21 hóa đơn với số tiền thuế là 1.650.625.580 đồng do bị Cục thuế tỉnh H kiểm tra nên G chưa đề nghị hoàn thuế.

Tại Kết luận giám định số 51 ngày 04/4/2022 của Phòng K3 Công an tỉnh H, kết luận: Chữ viết trên các tài liệu cần giám định với chữ viết của Bùi Ngọc D trên tài liệu mẫu so sánh không phải do cùng một người viết ra; chữ ký đứng tên Bùi Ngọc D trên các tài liệu cần giám định khác dạng so với chữ ký của Bùi Ngọc D trên các tài liệu mẫu so sánh nên không đủ cơ sở kết luận có phải do cùng một người ký ra hay không.

Tại Cáo trạng số 56/CT-VKSHD-P1 ngày 24/06/2024, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương truy tố bị cáo Vũ Hồng G về tội Trốn thuế theo quy định tại khoản 3 Điều 200 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa: Bị cáo khẳng định quá trình điều tra, truy tố, bị cáo hoàn toàn tự nguyện khai nhận hành vi của mình, không bị ai ép buộc phải khai nội dung gì không đúng diễn biến sự việc, hành vi mà bị cáo đã thực hiện. Nội dung sự việc và hành vi bị cáo đã thực hiện đúng như nội dung Cáo trạng đã nêu. Bị cáo mua nhôm của nhiều người dân ở nhiều nơi nhưng do họ không có hóa đơn giá trị gia tăng nên bị cáo đã mua 216 hóa đơn giá trị gia tăng của nhiều công ty khác nhau để kê khai thuế với Cục thuế tỉnh H nhằm làm tăng số tiền thuế mà Công ty H9 phải nộp khi mua hàng hóa. Do số hàng hóa trên được xuất khẩu sang nước ngoài nên Công ty H9 được hoàn lại số thuế giá trị gia tăng ghi trên 216 hóa đơn nêu trên cùng các hóa đơn hợp pháp khác. Việc kê khai thuế được thực hiện làm nhiều đợt trong các năm 2019 và 2020. Số tiền được hoàn thuế, bị cáo sử dụng vào nhiều việc khác nhau và không xác định được chính xác đã sử dụng vào việc gì. Bị cáo không dùng số tiền được hoàn thuế để trả nợ cho ai. Không mua tài sản gì. Các công ty xuất 216 hóa đơn trên cho Công ty H9 đều không có hàng hóa kèm theo. Các hợp đồng kinh tế mua nhôm kèm theo 216 hóa đơn giá trị gia tăng nêu trên đều là không có thật. Số liệu các hóa đơn, số tiền thuế đã được hoàn, số tiền thuế chưa được hoàn đúng như Cáo trạng đã nêu. Trước đây, bị cáo sinh hoạt Đảng tại Chi bộ khu phố Nguyễn Phúc L2. Bị cáo đã xin chuyển sinh hoạt Đảng về quê ở T. Tuy nhiên bị cáo làm thất lạc phiếu chuyển sinh hoạt Đảng nên bị cáo không tham gia sinh hoạt Đảng ở bất cứ Chi bộ Đảng nào, không còn là Đảng viên. Bị cáo thực hiện hành vi một mình, không bàn bạc với ai, các nhân viên trong công ty của bị cáo không có ai biết. Những người tham gia chuyển tiền, nhận tiền, làm các thủ tục hoàn thuế là do bị cáo chỉ đạo và họ không biết việc làm của bị cáo. Bị cáo truy tố, xét xử là đúng, bị cáo không bị oan.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ khoản 3, khoản 4 Điều 200, điểm b, s, v khoản 1 và khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 38, Điều 54 Bộ luật Hình sự; Tuyên bố bị cáo Vũ Hồng G phạm tội Trốn Thuế. Về hình phạt chính: Xử phạt bị cáo Vũ Hồng G từ 15 đến 18 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam 09/01/2024. Về hình phạt bổ sung: Phạt Vũ Hồng G số tiền từ 20.000.000đồng đến 30.000.000đồng sung ngân sách Nhà nước. Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo Vũ Hồng G phải bồi thường cho Cục thuế tỉnh H số tiền 19.549.067.896 đồng đồng để nộp vào ngân sách nhà nước. Về án phí: Miễn án phí cho bị cáo Vũ Hồng G.

Người bào chữa cho bị cáo đồng ý về tội danh, điều luật, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà Viện kiểm sát truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng cho bị cáo. Bị cáo có nhiều năm làm việc trong quân đội, là người chuyên về nghiên cứu khoa học và giảng dạy, thành tích trong quá trình công tác, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, bản thân bị cáo có nhiều huân huy chương, có nhiều đóng góp cho địa phương, thân nhân có nhiều thành tích. Sau khi nghỉ hưu, đã về quê hương làm kinh doanh những mong có thêm đóng góp cho quê hương. Do không nắm được các quy định về hóa đơn, về thuế nên đã vi phạm pháp luật. Bị cáo đã nhận thức được rõ ràng hành vi của mình. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét hoàn cảnh gia đình, tính chất, mức độ hành vi của bị cáo, các tình tiết giảm nhẹ xử phạt bị cáo mức án dưới mức thấp nhất của khung hình phạt. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Lời nói sau cùng: Bị cáo nhận thấy hành vi của mình là vi phạm pháp luật. Bị cáo rất ân hận về hành vi của mình. Bị cáo có nhiều năm công tác trong quân đội. Sau khi nghỉ hưu, rất mong muốn thực hiện hoạt động kinh doanh mang lại lợi nhuận và đóng góp cho quê hương, cho xã hội nên đã về quê làm ăn. Bị cáo không có sự hiểu biết nhất định về hóa đơn chứng từ nên đã vi phạm pháp luật. Đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo mức án thấp nhất để bị cáo sớm được về mới có cơ hội tiếp tục kinh doanh, thu vén tài sản hoàn trả lại số tiền thuế cho ngân sách Nhà nước trong thời gian sớm nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan điều tra, truy tố trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp lời khai của chính bị cáo trong giai đoạn điều tra, truy tố và phù hợp lời khai của nguyên đơn dân sự, người làm chứng; kết luận giám định và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Trong thời gian từ năm 2019 đến năm 2020, để thực hiện các hợp đồng xuất khẩu mặt hàng Nhôm hợp kim dạng thỏi, hình nón, dạng bi... (nhôm nguyên liệu) đã ký giữa Công ty TNHH H9 với các đối tác là các doanh nghiệp Trung Quốc, Ấn Độ, Nhật Bản, Hàn Quốc, Indonesia, Vũ Hồng G - Giám đốc Công ty H8 đã mua gom nhôm nguyên liệu của một số hộ dân tại làng N, xã V, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh và các hộ dân ở tỉnh Bắc Ninh, Bình Định, Bình Dương, TP ., không có hóa đơn, chứng từ kèm theo. Để hợp thức hóa thủ tục xuất khẩu và kê khai thuế, Vũ Hồng G đã mua 216 hóa đơn GTGT với chi phí từ 2,1% đến 8% trên tổng số tiền hàng hóa ghi trên hóa đơn trước thuế của 07 Công ty gồm: P, T, Bùi Ngọc D, Hoàng Long P1, Minh T4, An S2, Phát Tài; tổng số tiền thuế ghi trên 216 hóa đơn là 25.476.184.266 đồng. Sau đó, G đã sử dụng bất hợp pháp 216 hóa đơn của 07 Công ty để làm thủ tục xuất khẩu hàng hóa, kê khai thuế. Đã đề nghị Cục thuế tỉnh H hoàn thuế GTGT đối với 185 hóa đơn với số tiền là 22.203.097.296 đồng (đã được hoàn thuế 19.849.067.896 đồng, chưa được hoàn thuế 2.354.029.400 đồng), chưa đề nghị hoàn thuế 31 hóa đơn với số tiền thuế là 3.273.086.970 đồng (do bị Cục thuế tỉnh Hải Dương thanh tra).

Bị cáo là người đại diện theo pháp luật của Công ty TNHH H9 và là người trực tiếp giao dịch mua bán hàng hóa, mọi lợi nhuận phát sinh từ hoạt động kinh doanh do một mình bị cáo hưởng. Do vậy, không có căn cứ để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với pháp nhân thương mại Công ty H9 nên bị cáo phải chịu toàn bộ trách nhiệm đối với hành vi của mình.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến chế độ quản lý thuế của Nhà nước trên tất cả các lĩnh vực, cụ thể là hoạt động thu ngân sách Nhà nước dẫn đến thất thu ngân sách, gây thiệt hại tiền thuế cho Nhà nước. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, bản thân nhận thức rõ việc mua hóa đơn GTGT không có hàng hóa kèm theo, sử dụng bất hợp pháp các hóa đơn đó để làm thủ tục xuất khẩu hàng hóa, kê khai thuế và đề nghị Cục thuế tỉnh H hoàn thuế nhằm làm tăng số tiền thuế được hoàn lại cho bị cáo là hành vi bị pháp luật cấm nhưng bị cáo vẫn thực hiện với lỗi cố ý với mục đích tư lợi cá nhân. Thực tế bị cáo đã được hoàn lại số tiền thuế là 19.849.067.896 đồng. Do đó, hành vi của bị cáo Vũ Hồng G đã đủ yếu tố cấu thành tội Trốn thuế theo quy định tại khoản 3 Điều 200 của Bộ luật Hình sự.

Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng quy định của pháp luật.

[3]. Về nhân thân, các tình tiết tặng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm Hình sự: Bị cáo lần đầu phạm tội, nhân thân tốt, có thời gian dài công tác trong quân đội, có nhiều cống hiến cho đơn vị công tác. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; bị cáo đã đã đầu thú; tự nguyện khắc phục hậu quả số tiền trốn thuế là 100 triệu đồng; có thành tích xuất sắc trong sản xuất, chiến đấu, học tập công tác được tặng Huân chương chiến công hạng nhất, Huân chương chiến sỹ vẻ vang hạng ba; tham gia đóng góp nhiều loại quỹ tại địa phương; Vợ bị cáo được tặng thưởng huân chương chiến sĩ vẻ vang hạng nhì và hạng ba, được tặng thưởng kỷ niệm chương vì sự nghiệp giáo dục; có bố đẻ là Cán bộ tiền khởi nghĩa. Do đó, bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm b, s, v, x khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo nhiều lần thực hiện hành vi phạm tội, mỗi lần thực hiện hành vi phạm tội của bị cáo đều đủ yếu tố cấu thành tội phạm nên phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là phạm tội 02 lần trở lên, quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

[4]. Xét tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, Hội đồng xét xử nhận thấy cần áp dụng hình phạt tù, cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung. Tuy nhiên, bị cáo có nhân thân tốt với trên 30 năm hoạt động trong môi trường quân đội, có nhiều đóng góp cho xã hội, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nên Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 điều 54 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo dưới mức thấp nhất của khung hình phạt cũng đủ giáo dục bị cáo, đồng thời thể hiện tính khoan hồng của pháp luật mà vẫn có tác dụng phòng ngừa chung, cảnh tỉnh đối với người khác.

[5] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với mục đích tư lợi cá nhân, đã được hoàn số thuế rất lớn. Hội đồng xét xử thấy cần phải áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo theo quy định tại khoản 4 Điều 200 Bộ luật hình sự.

[6]. Về trách nhiệm dân sự: Đại diện của nguyên đơn dân sự yêu cầu bị cáo Vũ Hồng G phải nộp lại cho Cục thuế tỉnh H để nộp vào ngân sách Nhà nước số tiền 19.849.067.896 đồng. Hội đồng xét xử nhận thấy yêu cầu của Nguyên đơn dân sự là phù hợp với quy định của pháp luật. Bị cáo đã nộp số tiền 100.000.000đồng tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Hải Dương, bị cáo còn phải thi hành số tiền 19.749.067.896đồng.

[7]. Về vật chứng: Đối với 216 hóa đơn GTGT; 01 đĩa DVD chứa dữ liệu điện tử là các tài liệu chứng minh việc phạm tội của bị cáo nên cần tiếp tục lưu giữ trong hồ sơ vụ án.

[8]. Về án phí: Bị cáo trên 60 tuổi, là người cao tuổi nên căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án bị cáo được miễn án phí.

[9]. Về các vấn đề khác:

[9.1]. Đối với Trần Văn M - Giám đốc Công ty S3 bán 90 hóa đơn GTGT cho Vũ Hồng G đã bị Tòa án nhân dân thành phố Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh xét xử tại bản án số 52 ngày 14/12/2021; Phan Thị Thúy Đ - Giám đốc Công ty T7 bán 05 hóa đơn GTGT cho bị can Vũ Hồng G đã bị Cơ quan CSĐT CA tỉnh B Quyết định khởi tố bị can nên không xem xét trong bản án này.

[9.2]. Đối với những người đứng tên Giám đốc 05 Công ty K2, Bùi Ngọc D, T, Minh T4 và An S2 gồm: Nguyễn Thị H, Nguyễn Thị N, Bùi Ngọc D, Nguyễn Thị Hồng H1 và Nguyễn Thị L1 khai không đứng ra thành lập Công ty, không là người điều hành hoạt động của Công ty mình đứng tên, không biết và không liên quan đến hành vi của bị cáo G nên không đủ căn cứ chứng minh họ có hành vi phạm tội.

[9.3]. Đối với Trần Thị H3, Đỗ Thị H4, Trần Thị G1, Lê Thị Mỹ L3, Trần Văn C, Trần Thị Linh T5, Trần Thị C1, Nguyễn Thị H5, Nguyễn Thị Ngọc L4, Nguyễn Trần Thị Q, Nguyễn Huy M2, Nguyễn Thị H6, Nguyễn Thị M3, Nguyễn Huy M2, Nguyễn Thị P, Nguyễn Thị Diễm Q1 (những người nộp, chuyển tiền); Đặng Hồng H7, Nguyễn Đức Đ1, Trịnh Mai A, Nguyễn Thị P (nhân viên Công ty H9) không biết, không được G bàn bạc về việc mua bán 216 hóa đơn trên, không được hưởng lợi số tiền hoàn thuế cùng G nên không có căn cứ xem xét, xử lý.

[9.4]. Đối với những người đã bán nhôm cho G là chị Nguyễn Thị H2, chị Nguyễn Thị M1, anh Nguyễn Trường S và anh Nguyễn Văn K1, không biết mục đích mua nhôm của G nên không đồng phạm với G về tội Trốn thuế, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh H đã có văn bản gửi Cơ quan thuế Bắc Ninh thông tin vụ việc liên quan đến việc chấp hành thuế của các cá nhân trên.

[9.5]. Đối với những người đàn ông G khai quen trên mạng xã hội để mua hóa đơn, quá trình điều tra chưa xác định được nhân thân, lai lịch của những người này nên không có căn cứ để tiếp tục điều tra, làm rõ.

[9.6]. Đối với 03 Công ty gồm: Công ty Đ5 do Lê Duy Đ2 làm Giám đốc, Công ty V do Trần Thị L5 làm Giám đốc, Công ty T10 do Nguyễn Thanh T6 làm Giám đốc, Cơ quan CSĐT chưa làm việc, lấy lời khai của những người này do không có mặt tại địa phương, các Công ty này có dấu hiệu tội phạm Mua bán trái phép hóa đơn, Cơ quan CSĐT Công an tỉnh H đã có văn bản chuyển thông tin đến Cơ quan CSĐT Công an huyện S, Công an huyện Y, tỉnh Bắc Giang và Công an thành phố T, tỉnh Bắc Ninh biết để xem xét, xử lý theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

  1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Vũ Hồng G phạm tội Trốn Thuế.
  2. Về áp dụng pháp luật: Căn cứ khoản 3, khoản 4 Điều 200, điểm b, s, v, x khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 38, khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 136; Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
  3. Về hình phạt chính: Xử phạt bị cáo Vũ Hồng G 21(hai mươi mốt) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam 09/01/2024.
  4. Về hình phạt bổ sung: Phạt bị cáo Vũ Hồng G số tiền 30.000.000đồng (ba mươi triệu đồng) sung vào ngân sách Nhà nước.
  5. Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo Vũ Hồng G phải nộp lại cho Cục thuế tỉnh H số tiền 19.749.067.896 đồng (mười chín tỷ bảy trăm bốn mươi chín triệu không trăm sáu mươi bảy nghìn tám trăm chín mươi sáu đồng) để nộp vào ngân sách nhà Nước.

Cục thuế tỉnh H được nhận số tiền 100.000.000đồng (một trăm triệu đồng) theo biên lai số 0002903 ngày 21 tháng 6 năm 2024 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Hải Dương để nộp vào ngân sách Nhà nước. (Số tiền này do ông Tạ Quốc L nộp thay bị cáo Vũ Hồng G).

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án đối với khoản tiền nêu trên cho đến khi thi hành án xong, nếu người phải thi hành án chậm trả tiền thì phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả. Lãi suất do chậm thi hành được quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự.

  1. Về án phí: Miễn án phí cho bị cáo Vũ Hồng G.
  2. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Nguyên đơn dân sự vắng mặt có quyền kháng cáo phần bản án có liên quan trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
  3. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu yêu cầu thi hành án thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Hải Dương;
  • - VKSND cấp cao tại Hà Nội;
  • - Vụ GĐKT I- TANDTC;
  • - Trại tạm giam CA tỉnh Hải Dương;
  • - Cơ quan CSĐT - CA tỉnh Hải Dương;
  • - Phòng HSNV- CA tỉnh Hải Dương;
  • - Cục THADS tỉnh Hải Dương;
  • - Sở TP tỉnh Hải Dương;
  • - Bị cáo;
  • - Người bào chữa;
  • - Bị hại;
  • - Lưu Tòa; Lưu HS vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Thúy Hằng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 66/2024/HS-ST ngày 17/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG về trốn thuế

  • Số bản án: 66/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trốn thuế
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 17/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Vũ Hồng G
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger