Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ TÂN AN

TỈNH LONG AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 66/2024/HS-ST

Ngày 17 - 7 - 2024

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂN AN, TỈNH LONG AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Tuấn Phan .

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Văn Hải;

Bà Nguyễn Thị Thuận.

- Thư ký phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Trần Vy - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Tân An, tỉnh Long An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tân An, tỉnh Long An tham gia phiên tòa: Ông Huỳnh Hữu Trọn - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 7 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Tân An, tỉnh Long An xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 66/2024/TLST-HS ngày 03 tháng 6 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 72/2024/QĐXXST-HS, ngày 02 tháng 7 năm 2024 đối với bị các bị cáo:

  1. Bùi Hiếu N, sinh năm 1989 tại Tây Ninh;
  2. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: 9/1 nhánh A, hẻm A, Cơ T, khu phố H, phường H, TP ., tỉnh Tây Ninh; Nơi ở hiện tại: Số D đường số F, ấp B, xã T, huyện C, TP .; nghề nghiệp: làm thuê; trình độ học vấn: lớp 3/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Bùi Minh D (đã chết) và bà Trần Thị Thu T; vợ tên Hà Thị Hồng D1; có 05 người con, lớn sinh năm 2012, nhỏ sinh năm 2022.

    Tiền án, tiền sự: không;

    Nhân thân: Ngày 10/11/2012, bị TAND huyện Củ Chi tuyên phạt 03 năm 06 tháng tù giam về tội cố ý gây thương tích.

    Bị cáo bị áp dụng biện pháp tạm giam từ ngày 17/4/2024 đến nay tại Nhà tạm giữ Công an thành phố T (bị cáo có mặt tại phiên tòa).

  3. Nguyễn Giác N1, sinh năm 1994 tại Sóc Trăng;
  4. Hộ khẩu thường trú: Ấp A, xã L, huyện L, tỉnh Sóc Trăng; Chỗ ở hiện tại: Khu phố A, phường A, thị xã T, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: làm thuê; trình độ học vấn: lớp 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn Việt E và bà Nguyễn Thị T1; vợ tên Trần Thị Hằng N2, có 01 người con sinh năm 2015.

    Tiền án, tiền sự: Không.

    Nhân thân: Ngày 23/02/2021 và ngày 04/7/2022, bị Công an phường A, thị xã T, tỉnh Tây Ninh phạt 1.500.000đ về hành vi “đánh bạc”.

    Bị cáo bị áp dụng biện pháp tạm giam từ ngày 17/4/2024 đến nay tại Nhà tạm giữ Công an thành phố T (bị cáo có mặt tại phiên tòa).

- Bị hại: Ông Mai Hữu Đ, sinh năm 1979; Địa chỉ: số E, ấp B, xã B, thành phố T, tỉnh Long An (có mặt);

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

  • + Hà Thanh N3, sinh năm 1997; Địa chỉ: Số D đường số F, ấp B, xã T, huyện C, TP . (có mặt);
  • + Anh Văn Thành V, sinh năm 1979; Địa chỉ: A, phường A, huyện T, tỉnh Tây Ninh (vắng mặt);

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 11 giờ ngày 18/7/2023 do không có tiền tiêu xài nên cả nhóm gồm bị cáo Bùi Hiếu N, bị cáo Nguyễn Giác N1, Trương Quốc T2, Lê Văn M và Hà Thanh N3 đã bàn bạc thuê xe ôtô rồi cả nhóm cùng nhau đi trộm gà đá bán lấy tiền chia nhau tiêu xài cá nhân. Hà Thanh N3 thuê xe ôtô Toyota Innova, màu xám, biển số: 51G-153.68 của anh Văn T3 V với giá tiền 3.000.000đ, trả trước 1.800.000đ. Sau đó, Hà Thanh N3 điều khiển xe ôtô trên chở bị cáo Giác N1 ghé nhà M để rước M và T2, rồi tiếp tục ghé nhà bị cáo N để rước N. Cả nhóm cùng nhau đi đến khu vực hành phố T, tỉnh Long An để tìm trại gà có nuôi gà đá cùng nhau trộm cắp. Đến khoảng 23 giờ 30 phút cùng ngày, Hà Thanh N3 điều khiển xe đi đến đường tỉnh lộ 827, ấp B, xã B, thành phố T, tỉnh Long An thì Hà Thanh N3 đậu xe ở bên lề đường ngồi ở bên trong xe để quan sát và cảnh giới, còn bị cáo N, bị cáo Giác N1, M và Trương mang theo 01 cái kiềm cắt sắt và 02 bình xịt hơi cay đi vào trong trại gà địa chỉ số E, ấp B, xã B, thành phố T, tỉnh Long An thuộc sở hữu của anh Mai Hữu Đ bắt trộm gà đá. M dùng kiềm cắt dây kẽm hàng rào và lấy dây kẽm quấn vào cổng cửa ra vào trại gà nhằm gây cản trở trong trường hợp bị chủ nhà phát hiện, bị cáo N đi xung quanh để tìm dụng cụ leo vào trại gà thì thấy một cái thang bằng gỗ, N lấy thang dựng cặp vách tường để M leo lên tường vào trại gà, M dùng kiềm cắt dây hàng rào kẽm gai (Kiềm do M chuẩn bị từ trước) rồi M, NGiác N1 leo vào trong trại gà, Trương đứng ở ngoài giữ thang và cảnh giới. Khi vào bên trong trại gà thì N thấy không có người trông coi nên bắt trộm 04 con gà đá đang nhốt trong bội gà đưa cho Giác N1 cất giấu vào trong người, M bắt trộm 03 con gà đá đang nhốt trong bội gà cất giấu vào trong người, lúc này khoảng 03 giờ 30 phút ngày 19/7/2023, chủ nhà là chị Lê Nguyễn Huỳnh N4, vợ của anh Đ phát hiện và truy hô nên cả nhóm ôm 07 con gà đá chạy bộ ra xe nơi có Hà Thanh N3 đợi sẵn rồi kêu N3 nổ máy chở cả nhóm tẩu thoát, N3 điều khiển xe bỏ chạy thì va chạm vào một xe môtô của chủ nhà chặn phía trước làm xe môtô văng vào lề đường, sau đó cả nhóm tẩu thoát về nhà M cho M và Trương xuống xe cùng 07 con gà đá vừa lấy trộm được để ở nhà M. N3 chở bị cáo Giác N1 và bị cáo N về rồi điều khiển xe ôtô về nhà của N1. Đến khoảng 08 giờ ngày 20/7/2023, Hà Thanh N3 mang xe đi sửa vì lúc tẩu thoát đụng vào cây và xe môtô làm phần đèn phía trước của xe ôtô bị hư hỏng sau đó mang xe trả cho chủ xe là Văn Thành V và trả số tiền thuê xe còn lại là 1.200.000 đồng. M bán 07 con gà đá trộm được với giá 3.000.000 đồng/01 con, tổng cộng bán gà được 21.000.000 đồng, M đưa cho Hà Thanh N3 16.350.000 đồng để trả tiền sửa xe và 3.000.000 đồng tiền thuê xe, số tiền bán gà trộm được còn lại 1.650.000 đồng chia đều cho Hà Thanh N3, M, T2, NGiác N1, tất cả đã sử dụng cá nhân hết.

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an T, các bị cáo Bùi Hiếu N, Nguyễn Giác N1 đã khai nhận toàn bộ hành vi cùng đồng bọn trộm cắp tài sản nêu trên phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số 110/KL-HĐĐG ngày 13/8/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố T, Long An kết luận: giá trị 03 con gà trống nòi cân nặng 3,2kg/con và 04 con gà trống nòi cân nặng 3,5kg/con tại thời điểm ngày 19/7/2023 là 2.832.000đ.

Cáo trạng số 63/CT-VKSTA-HS ngày 31/5/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tân An, tỉnh Long An truy tố các bị cáo Bùi Hiếu N, Nguyễn Giác N1 về tội “trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa sơ thẩm, các bị cáo Bùi Hiếu N, Nguyễn Giác N1 khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng đã nêu; các bị cáo không có ý kiến thắc mắc, khiếu nại về kết luận định giá, đồng thời không có khiếu nại đối với cơ quan tiến hành tố tụng và người có thẩm quyền tiền hành tố tụng.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát thực hành quyền công tố vẫn giữ nguyên quan điểm như Cáo trạng đã truy tố các bị cáo về tội danh và điều luật, đồng thời phân tích đánh giá tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố các bị cáo Bùi Hiếu N, Nguyễn Giác N1 phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Về hình phạt chính: Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 173; Điều 17; Điều 38; Điều 50, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58 Bộ luật hình sự, xử phạt các bị cáo Bùi Hiếu N, Nguyễn Giác N1 mức án từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù.

Về trách nhiệm dân sự: Tại phiên tòa bị hại Mai Hữu Đ không yêu cầu các bị cáo bồi thường tài sản thiệt hại.

Về án phí hình sự sơ thẩm: Buộc các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Bị hại ông Mai Hữu Đ trình bày: Ông không có ý kiến hay khiếu nại về kết luận định giá. Ông không yêu cầu các bị cáo phải bồi thường thiệt hại về tài sản cho ông. Ông đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho hai bị cáo vì hai bị cáo đều có hoàn cảnh khó khăn.

Lời nói sau cùng của các bị cáo: Các bị cáo biết mình sai và hối hận với hành vi phạm tội của mình, đề nghị hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  1. Về các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan CSĐT Công an thành phố T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tân An, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án không có ý kiến hoặc khiếu nại về các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng được thực hiện hợp pháp.
  2. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án anh Văn T3 V vắng mặt tại phiên tòa nhưng xét thấy trong giai đoạn điều tra đã thể hiện đầy đủ lời khai và ý kiến của đương sự này nên Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt đương sự này theo quy định tại điều 292 Bộ luật tố tụng hình sự.
  3. Lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với lời khai của những người tham gia tố tụng khác, phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra và nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tân An và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án nên đủ cơ sở để kết luận: Khoảng 11 giờ ngày 18/7/2023, bị cáo Bùi Hiếu N và bị cáo Nguyễn Giác N1 cùng với 03 đối tượng tên Lê Văn M, Hà Thanh N3, Trương Quốc T2 bàn bạc thuê xe ô tô 07 chỗ do Hà Thanh N3 tự lái chở cả nhóm từ tỉnh Tây Ninh đến thành phố T, tỉnh Long An tìm trại gà có nuôi gà đá để bắt trộm, khi đi cả nhóm chuẩn bị và đem theo kiềm cắt sắt, bình xịt hơi cay để hỗ trợ cho hành vi trộm cắp tài sản. Đến khoảng 23 giờ 30 phút ngày 18/7/2023, cả nhóm tìm thấy trại gà đá của anh Mai Hữu Đ tại nhà số E ấp B, xã B, thành phố T, tỉnh Long An. Đến khoảng 02 giờ 50 phút ngày 19/7/2023 Hà Thanh N3 đậu xe ôtô ngoài đường chờ sẵn để chở cả nhóm tẩu thoát, Trương đứng ngoài cổng rào để vịnh thang và cảnh giới, bị cáo N3, bị cáo NLê Văn M leo vào trại gà bắt trộm 07 con gà đá có tổng giá trị là 2.832.000đ. Do đó đủ cơ sở để kết luận hành vi nêu trên của các bị cáo Bùi Hiếu N, Nguyễn Giác N1 đủ yếu tố cấu thành tội “trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
  4. Về tình tiết định khung hình phạt: Trong vụ án này các bị cáo Bùi Hiếu N, Nguyễn Giác N1 và các đối tượng khác cố ý cùng tham gia phạm tội và có sự thống nhất ý chí cùng thực hiện tội phạm, có bàn bạc trước, có sự phân công thực hiện tội phạm, câu kết chặt chẽ, chuẩn bị các công cụ, phương tiện để thực hiện hành vi tội phạm là vi phạm tình tiết định khung “phạm tội có tổ chức” quy định tại điểm a khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tân An truy tố các Bùi Hiếu N, Nguyễn Giác N1 về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm a khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 là đúng người, đúng tội và có căn cứ pháp luật.
  5. Xét, tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội: Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ. Các bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi trộm cắp tài sản và tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có là vi phạm pháp luật nhưng chỉ vì tham lam, thích hưởng lợi bất chính trên thành quả lao động của người khác nên đã đưa các bị cáo vào con đường phạm tội, hành vi của các bị cáo gây hậu quả xấu cho xã hội, làm mất trật tự trị an tại địa phương và gây ảnh hưởng đến hoạt động bình thường của xã hội. Vì vậy phải xử phạt các bị cáo một mức án nghiêm khắc mới tương xứng với hành vi phạm tội. Hành vi của các bị cáo có tính chất đồng phạm nên khi quyết định hình phạt cũng cần xác định rõ vai trò tính chất, mức độ phạm tội và nhân thân của từng bị cáo để có một mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội mà các bị cáo gây ra mới thể hiện được tính nghiêm minh của pháp luật.
  6. Về các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
  7. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo thành thật khai báo đây là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo Bùi Hiếu N có hoàn cảnh khó khăn được chính quyền địa phương xác nhận đây là tình tiết giảm nhẹ theo khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
  8. Về hình phạt đối với các bị cáo: Trong vụ án này hai bị cáo có vai trò ngang nhau, cùng trực tiếp thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, cả hai bị cáo đều có nhân thân xấu, do đó hai bị cáo chịu mức án tương đồng nhau.
  9. Đối với mức án mà Kiểm sát viên đề nghị xử phạt đối với các bị cáo, xét thấy là phù hợp nên hội đồng xét xử chấp nhận.
  10. Về trách nhiệm dân sự: Bị hại ông Mai Hữu Đ không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
  11. Đối với hành vi đồng phạm của Hà Thanh N3 đã bị Tòa án nhân dân thành phố Tân An tuyên phạt 02 năm tù theo Bản án số 58/2024/HSST ngày 21/6/2024 nên Hội đồng xét xử không xem xét.
  12. Đối với các đối tượng Trương Quốc T2, Lê Văn M do đã bỏ trốn, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã ra Quyết định tách vụ án số 467 ngày 26/4/2024 tiếp tục điều tra, xử lý theo quy định là phù hợp.
  13. Đối với anh Văn T3 V là người đã cho Hà Thanh N3 thuê xe ôtô Toyota Innova, màu xám, biển số: 51G-153.68 nhưng ý thức không biết được bị cáo N3 thuê xe để đi trộm cắp tài sản nên không có cơ sở để truy cứu trách nhiệm hình sự.
  14. Về án phí: Buộc các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố các bị cáo Bùi Hiếu N, Nguyễn Giác N1 phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
    1. Căn cứ vào điểm a khoản 2 Điều 173; Điều 17; Điều 38; Điều 50; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017.
    2. - Xử phạt bị cáo Bùi Hiếu N 02 (Hai) năm tù, thời gian chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày 17/4/2024.

    3. Căn cứ vào điểm a khoản 2 Điều 173; Điều 17; Điều 38; Điều 50; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 58 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017.
    4. - Xử phạt bị cáo Nguyễn Giác N1 02 (Hai) năm tù, thời gian chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày 17/4/2024.

  2. Áp dụng khoản 1 Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015: Tiếp tục tạm giam các bị cáo Bùi Hiếu N, Nguyễn Giác N1 45 (Bốn mươi lăm) ngày kể từ ngày tuyên án (17/7/2024) để đảm bảo cho việc thi hành án.
  3. Về án phí: Áp dụng Điều 135, Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa. Buộc các bị cáo Bùi Hiếu N, Nguyễn Giác N1, mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
  4. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo; bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo xét xử phúc thẩm trong hạn 15 ngày tính từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo xét xử phúc thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.

Nơi Nhận :

  • - TAND tỉnh Long An;
  • - VKSND TP Tân An;
  • - CA Tp Tân An;
  • - Chi cục THA Tp Tân An;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Long An;
  • - Bị cáo; Đương sự;
  • - Lưu hồ sơ; VP./.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Tuấn Phan

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 66/2024/HS-ST ngày 17/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂN AN, TỈNH LONG AN về trộm cắp tài sản (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 66/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 17/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂN AN, TỈNH LONG AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bùi Hiếu N, Nguyễn Giác N1 phạm tội "Trộm cắp tài sản"
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger