Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN IA GRAI

TỈNH GIA LAI

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 66/2024/HNGĐ-ST

Ngày 16/9/2024

V/v “Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN IA GRAI, TỈNH GIA LAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hồng Vũ.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Mý và ông RCom Blan.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Khánh Hạ - Thư ký Toà án Tòa án nhân dân huyện Ia Grai, tỉnh Gia Lai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ia Grai, tỉnh Gia Lai tham gia phiên toà: Bà Hoàng Thị Tâm - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Ia Grai, tỉnh Gia Lai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 44/2024/TLST-HNGĐ ngày 11 tháng 4 năm 2024, về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 35/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 02 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Rơ Châm N; địa chỉ: Làng J, xã I, huyện I, tỉnh Gia Lai. Có mặt.

- Bị đơn: Ông Rah Lan V; địa chỉ: Làng J, xã I, huyện I, tỉnh Gia Lai. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

1. Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Bà Rơ Châm N tự nguyện kết hôn với ông Rah Lan V, các bên đăng ký kết hôn vào 14/6/2018 tại Ủy ban nhân dân xã I, huyện I, tỉnh Gia Lai. Sau khi xác lập quan hệ hôn nhân, bà Rơ Châm N và ông Rah Lan V cùng chung sống tại nhà bố, mẹ của bà Rơ Châm N tại làng J, xã I, huyện I, tỉnh Gia Lai. Vợ chồng chung sống hòa thuận, hạnh phúc được một thời gian thì không muốn ở chung nhà với bố, mẹ vợ nên đề nghị bà N chuyển ra ngoài để vợ chồng sinh sống riêng nhưng bà N chưa đồng ý. Ngoài ra, ông V nhiều lần nghi ngờ tình cảm vợ chồng, ghen tuông vô cớ nên không cho bà N tham gia các hoạt động văn hóa, thể thao tại địa phương nên xảy ra cãi nhau nhiều lần, ông V có lời lẽ xúc phạm và có lúc còn đánh bà N nên vợ chồng mâu thuẫn. Từ cuối năm 2021 đến nay, bà Rơ Châm N và ông Rah Lan V đã sống ly thân, ông V cũng không còn quan tâm đến cuộc sống của bà N cùng con chung nên bà N cũng không còn tình cảm với ông V. Do đó, bà N yêu cầu giải quyết được ly hôn với ông V.

- Về con chung: Bà Rơ Châm N và ông Rah Lan V có 01 người con chung là cháu Rơ Châm Lan K, sinh ngày 27/01/2018. Trong quá trình giải quyết vụ án, bà Rơ Châm N yêu cầu giao con cho ông Rah Lan V nuôi dưỡng, bà Rơ Châm N không phải cấp dưỡng nuôi con. Tại phiên tòa, bà Rơ Châm N thay đổi yêu cầu về nuôi con sau ly hôn, đề nghị giải quyết cho bà N được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc cháu Rơ Châm Lan K, yêu cầu ông Rah Lan V phải cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 1.000.000 đồng cho đến khi con đủ 18 tuổi và có khả năng lao động hoặc có tài sản để tự nuôi mình.

- Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản: Bà Rơ Châm N không yêu cầu Tòa án giải quyết.

2. Đối với bị đơn là ông Rah Lan V vắng mặt trong quá trình giải quyết vụ án và không có văn bản trình bày ý kiến; không cung cấp tài liệu, chứng cứ.

3. Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ia Grai, tỉnh Gia Lai:

- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Quá trình thụ lý, giải quyết vụ án và tại phiên tòa Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Đối với các đương sự, nguyên đơn chấp hành đúng các quy định tại Điều 70 và Điều 71 của Bộ luật Tố tụng dân sự; bị đơn không có mặt theo giấy triệu tập của Tòa án nên chưa chấp hành đúng các quy định tại Điều 70 và Điều 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Về giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Về hôn nhân, cho bà Rơ Châm N được ly hôn với ông Rah Lan V. Về con chung, giao cháu Rơ Châm Lan K, sinh ngày 27/01/2018 cho bà Rơ Châm N trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc. Ông Rah Lan V phải cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 1.000.000 đồng. Về án phí, bà Rơ Châm N phải chịu 300.000 đồng án phí sơ thẩm. Ông Rah Lan V phải chịu 300.000 đồng án phí cấp dưỡng nuôi con.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng:

Bà Rơ Châm N và ông Rah Lan V đều đủ điều kiện kết hôn, đã tự nguyện đăng ký kết hôn và chung sống với nhau nên hôn nhân hợp pháp. Nay bà N muốn chấm dứt quan hệ hôn nhân với ông V nên có quyền khởi kiện để yêu cầu Tòa án giải quyết theo quy định tại Điều 51, Điều 53 và Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.

Bị đơn là ông Rah Lan V có địa chỉ cư trú tại: Làng J, xã I, huyện I, tỉnh Gia Lai nên Tòa án nhân dân huyện Ia Grai có thẩm quyền thụ lý giải quyết vụ án theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Căn cứ nội dung khởi kiện của nguyên đơn yêu cầu giải quyết về ly hôn và tranh chấp nuôi con khi ly hôn với bị đơn, ngoài ra không yêu cầu nội dung nào khác nên quan hệ pháp luật có tranh chấp trong vụ án là về “Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn” quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Bị đơn đã được tống đạt hợp lệ giấy triệu tập nhưng đã vắng mặt lần thứ hai tại phiên tòa, việc vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan nên Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 227 và Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự để xét xử vụ án vắng mặt bị đơn.

[2] Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:

[2.1] Xét yêu cầu ly hôn:

Căn cứ lời trình bày của nguyên đơn; các tài liệu, chứng cứ đã thu thập được thể hiện: Sau khi kết hôn, bà Rơ Châm N và ông Rah Lan V cùng nhau chung sống tại nhà bố, mẹ ruột của bà Rơ Châm N, cuộc sống của vợ chồng hòa thuận, hạnh phúc được một thời gian thì xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân do ông V không muốn tiếp tục chung sống với gia đình của bà N nên có ý kiến đề nghị vợ chồng chuyển ra ngoài sinh sống riêng nhưng bà N không đồng ý. Ngoài ra, trong cuộc sống hằng ngày, ông V có sự nghi ngờ tình cảm vợ chồng của bà N, nhiều lần ghen tuông vô cớ dẫn đến cãi nhau và ông V còn đánh bà N nên dẫn đến mâu thuẫn. Mặc dù bà N đã tìm cách giải quyết, khắc phục mâu thuẫn nhưng không có kết quả nên từ cuối năm 2021 cho đến nay, bà N và ông V đã sống ly thân nhưng các bên không tìm cách giải quyết mâu thuẫn để tiếp tục chung sống.

Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã thông báo yêu cầu khởi kiện cho bị đơn nhưng ông Rah Lan V không trình bày ý kiến, không cung cấp tài liệu, chứng cứ và cũng không tham gia hòa giải, tham gia phiên tòa, cho thấy ông V cũng không còn sự quan tâm đến đời sống chung của vợ chồng nên có căn cứ xác định mâu thuẫn vợ chồng đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà Rơ Châm N về việc ly hôn với ông Rah Lan V.

[2.2] Về con chung: Bà Rơ Châm N yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc con là cháu Rơ Châm Lan K, sinh ngày 27/01/2018 và yêu ông Rah Lan V phải cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng là 1.000.000 đồng.

Xét việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên sau khi ly hôn là trách nhiệm của cha, mẹ đối với con. Tuy nhiên, theo bà N trình bày, hiện tại ông V đã chuyển đến tỉnh khác để làm ăn, sinh sống nên cháu Rơ Châm Lan K đang do bà N trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc nhưng ông V cũng không liên lạc để thăm hỏi hoặc trực tiếp đến thăm hỏi con của mình, thể hiện thiếu quan tâm trong việc nuôi dưỡng, chăm sóc con của mình. Mặt khác, ông V cũng không có ý kiến phản đối hoặc đưa ra yêu cầu về về nuôi con. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà Rơ Châm N về việc trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục cháu Rơ Châm Lan K, sinh ngày 27/01/2018 cho đến khi đủ 18 tuổi và có khả năng lao động hoặc có tài sản để tự nuôi mình.

[3] Về cấp dưỡng nuôi con:

Tại khoản 2 Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình quy định: “Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con”. Khoản 1 Điều 118 Luật Hôn nhân và gia đình quy định: “Nghĩa vụ cấp dưỡng chấm dứt trong các trường hợp sau đây: Người được cấp dưỡng đã thành niên và có khả năng lao động hoặc có tài sản để tự nuôi mình”. Do đó, bà N yêu cầu mức cấp dưỡng nuôi con 1.000.000đ/tháng là có căn cứ, phù hợp nên Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận.

[4] Về án phí: Bà Rơ Châm N phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm. Ông Rah Lan V phải chịu 300.000 đồng án phí cấp dưỡng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 144, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 271 và Điểu 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

- Áp dụng khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 53; khoản 1 Điều 56; Điều 58; Điều 81; Điều 82; Điều 83; Điều 84; Điều 110 và Điều 118 của Luật Hôn nhân và gia đình;

- Căn cứ Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy Ban Thường vụ Quốc hội;

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Rơ Châm N.

- Về quan hệ hôn nhân: Cho ly hôn giữa bà Rơ Châm N và ông Rah Lan V.

- Về con chung: Giao cháu Rơ Châm Lan K, sinh ngày 27/01/2018 cho bà Rơ Châm N trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng giáo dục cho đến khi đủ 18 tuổi và có khả năng lao động hoặc có tài sản để tự nuôi mình.

Ông Rah Lan V phải cấp dưỡng nuôi con với mức 1.000.000đồng/tháng. Thời điểm cấp dưỡng tính từ tháng 10 năm 2024 cho đến khi các con đủ 18 tuổi và có khả năng lao động hoặc có tài sản để tự nuôi mình.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án của người được thi hành án, người phải thi hành án còn phải chịu tiền lãi đối với số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật dân sự.

Bà Rơ Châm N và ông Rah Lan V đều có quyền và nghĩa vụ ngang nhau đối với con chung. Bên trực tiếp nuôi con cùng các thành viên trong gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. Khi cần thiết, các bên đều có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con và yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.

2. Về án phí: Bà Rơ Châm N phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, được trừ số tiền 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0009511 ngày 11/4/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ia Grai, tỉnh Gia Lai. Ông Rah Lan V phải chịu 300.000 đồng án phí cấp dưỡng nuôi con.

3. Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ tuyên án. Bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

4. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - TAND tỉnh Gia Lai;
  • - VKSND huyện Ia Grai;
  • - Chi cục THADS huyện Ia Grai;
  • - UBND xã Ia Khai, huyện Ia Grai, tỉnh Gia Lai;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Hồng Vũ

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 66/2024/HNGĐ-ST ngày 16/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN IA GRAI, TỈNH GIA LAI về ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn

  • Số bản án: 66/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 16/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN IA GRAI, TỈNH GIA LAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bản án Rơ Châm Ngiền - Rah Lan Vinh
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger