Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN DIỄN CHÂU

TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 66/2024/HS-ST

Ngày: 16/5/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DIỄN CHÂU – TỈNH NGHỆ AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Danh Hùng

Các hội thẩm nhân dân: Ông Hoàng Công Hải và ông Nguyễn Văn Dũng

Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên toà: Bà Cao Thị Vân - Thẩm tra viên

Toà án nhân dân huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Diễn Châu tham gia phiên toà:

ông Lê Đại - Kiểm sát viên.

Ngày 16/5/2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Diễn Châu; Toà án nhân dân huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An mở phiên tòa trực tuyến xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 48/2024/TLST - HS ngày 28/04/25/3/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 82/2024/QĐXXST - HS ngày 08 tháng 5 năm 2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Lê Sỹ T; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh ngày: 05/11/1999; Sinh quán: xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An; Nơi cư trú: Xóm C, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 9/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Họ và tên cha: Lê Văn H, sinh năm 1981; Họ và tên mẹ: Nguyễn Thị K, sinh năm 1980; Anh em ruột: có 03 người; bị cáo là con thứ nhất trong gia đình; Vợ, con: Chưa có; Tiền sự: không;

- Tiền án: 01 tiền án, tại bản án hình sự phúc thẩm số 145a ngày 29/9/2021 của tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An xử phạt 18 tháng tù về tội Gây rối trật tự công cộng. Tổng hợp hình phạt 21 tháng tù về tội "Tàng trữ tái phép chất ma túy" tại bản án số 156 ngày 17/8/2021 của Tòa án nhân dân huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An, buộc bị cáo phải chấp hành 39 tháng tù. Bị cáo chấp hành xong hình phạt tù ngày 24/9/2023.

- Nhân thân: Tại bản án hình sự sơ thẩm số 51 ngày 15/5/2017, của Tòa án nhân dân huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An xử phạt 06 tháng cải tạo không giam giữ về tội "Đánh bạc" và đã chấp hành xong ngày 23/12/2017.

Bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 22/01/2024. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh N. Có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 20 giờ 00 phút ngày 19/01/2024, Lê Sỹ T gọi điện thoại qua mạng Zalo cho một người đàn ông tên  có tài khoản là "Võ Quốc Â1" hỏi "Anh có pháo gì đó bán cho em", Â1 trả lời "Em thích loại pháo gì", T nói "Bán cho em năm khối loại 36 quả", Â1 đồng ý và nói giá mỗi khối pháo là 600.000 đồng (Sáu trăm nghìn đồng) và yêu cầu T chuyển trước tiền cho Â1. Lê Sỹ T đồng ý, Â1 cho số tài khoản và nói "Em chuyển khoản rồi anh gửi pháo qua xe khách cho em", T đồng ý và nói "Em nhà ở D, huyện D" thì Â1 hẹn khi nào đến Cầu Lồi nhà xe điện em ra mà lấy pháo. Sau đó Lê Sỹ T đi ra quán cà phê và nhờ một người không quen biết chuyển khoản cho Â1 số tiền 3000.000 đồng (Ba triệu đồng). Khoảng 09 giờ ngày 21/01/2024, Â1 gọi điện nói với T "Anh gửi pháo qua xe khách rồi, khoảng 22 giờ nhà xe gọi điện cho em ra lấy", đồng thời nói "Anh gửi thêm năm khối loại 09 quả, em đem về cất đó rồi có người đến lấy" thì T đồng ý. Đến khoảng 22 giờ cùng ngày, Lê Sỹ T nhận được điện thoại của nhà xe gọi đến nói "Anh đến Cầu L nhận hàng" thì T điều khiển xe máy biển kiểm soát 37F2-579.96 đến Cầu L chờ. Lê Sỹ T chờ một lúc thì thấy có một chiếc xe khách (không rõ biển số) dừng lại và giao cho T 01 bì xác rắn màu xám, bên trong chứa pháo. Lê Sỹ T để bì xác rắn chứa pháo lên yên xe rồi đi về nhà cất giấu. Khi đi về đến đoạn đường liên xóm thuộc xóm A, xã D, huyện D thì bị lực lượng Công an xã D, huyện D phát hiện, bắt quả tang, thu giữ ở yên xe phía sau xe máy 01 (Một) bì xác rắn màu xám, bên trong có 01 thùng cát tông chứa 05 (Năm) khối pháo loại 36 quả và 05 (Năm) khối pháo loại 9 quả. Lực lượng Công an đã đưa Lê Sỹ T cùng tang vật về trụ sở Ủy ban nhân dân xã D, huyện D lập biên bản, sau đó chuyển đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện D để xử lý theo thẩm quyền.

Tại biên bản mở niêm phong xác định khối lượng, lấy mẫu giám định và niêm phong lại vào hồi 02 giờ 35 phút ngày 22/01/2024 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện D xác định:

+ 05 (Năm) Khối hình hộp chữ nhật có đặc điểm giống nhau, mỗi khối có kích thước (13 x 13 x 9)cm, bên ngoài được dán giấy nhiều màu sắc có in chữ nước ngoài, nghi là pháo nổ, có tổng khối lượng là 5,993 kilôgam (Năm phẩy chín trăm chín mươi ba kilôgam). Lấy mẫu giám định ký hiệu M1.

+ 05 (Năm) Khối hình hộp chữ nhật có đặc điểm giống nhau, mỗi khối có kích thước (19 x 19 x 13)cm, bên ngoài được dán giấy nhiều màu sắc có in chữ nước ngoài, nghi là pháo nổ có tổng khối lượng 11,002 kilôgam (Mười một phẩy không trăm không hai kilôgam). Lấy mẫu giám định ký hiệu M2.

Tại bản kết luận giám định số 213/KL-KTHS(Đ2-CN) ngày 26/01/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh N kết luận: Các mẫu vật (ký hiệu M1 và M2) gửi giám định là pháo, đều thuộc loại pháo nổ.

Tại bản cáo trạng số 68/CT-VKS-DC ngày 21/3/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Diễn Châu đã truy tố bị cáo Lê Sỹ T về tội "Tàng trữ hàng cấm" theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 191 Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà hôm nay, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Diễn Châu giữ nguyên quan điểm như Cáo trạng truy tố về tội danh và đề nghị Hội đồng xét xử:

- Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 191; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 điều 52; điều 38 của Bộ luật hình sự;

Xử phạt: Lê Sỹ T từ 07 đến 09 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam bị cáo.

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

Vật chứng vụ án: Tịch thu tiêu hủy 01 (Một) Bì xác rắn màu xám được niêm phong theo đúng quy định, trên miệng bì được buộc kín, trên nút buộc có gián giấy niêm phong, trên giấy niêm phong có chữ ký của cán bộ tham gia cùng đối tượng Lê Sỹ T và hình dáu của CQCSĐT Công an huyện D, tỉnh Nghệ An bên trong có chứa 13,478 kg (mười ba phẩy bốn trăm bảy mươi tám kilogam) pháo nổ là vật chứng thu giữ của Lê Sỹ T sau khi đã lấy mẫu đi giám định và bao bì niêm phong ban đầu.

Số vật chứng sau khi lấy mẫu giám định hiện đang được bảo quản tại kho vật chứng của Công an huyện D theo Phiếu nhập kho vật chứng số 44/PNK ngày 22/02/2024.

Tại phiên tòa bị cáo nhận tội, không tranh luận gì mà chỉ xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà. Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên và bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra công an huyện D, điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện D, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên toà, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, các quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều được thực hiện hợp pháp.

[2]. Về căn cứ xác định hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên toà hôm nay, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như cáo trạng truy tố.

Xét lời khai của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với các chứng cứ, tài liệu khác có tại hồ sơ vụ án thì đã có đủ cơ sở để kết luận: Vào khoảng 23 giờ 00 phút ngày 21/01/2024, tại khu vực xóm A, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An, Công an xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An phát hiện bắt quả tang Lê Sỹ T đang có hành vi tàng trữ 05 (Năm) khối pháo loại 36 quả và 05 (Năm) khối pháo loại 09 quả với tổng khối lượng 16,995 kilôgam (Mười sáu phẩy chín trăm chín mươi lăm kilôgam) là pháo nổ, nhằm mục đích để sử dụng.

[3]. Về tính chất vụ án; các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Vụ án có tính chất nghiêm trọng; hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm tới chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước trong việc quản lý hàng cấm là pháo nổ. Bị cáo biết rõ pháo nổ là loại hàng hóa mà nhà nước cấm tàng trữ, sử dụng, mua bán, vận chuyển nhưng vẫn cố ý thực hiện tàng trữ pháo nổ về để sử dụng. Hành vi phạm tội của bị cáo gây mất trật tự trị an trên địa bàn, thể hiện sự xem thường pháp luật nên cần phải lên một mức án nghiêm tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo.

Tình tiết giảm nhẹ:Trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử bị cáo đã có thái độ thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải nên cần áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Tình tiết tăng nặng: Bị cáo có nhân thân xấu, bị cáo phạm tội trong trường hợp tái phạm nên cần xét xử nghiêm minh và cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để cải tạo giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung. Cần tiếp tục tạm giam bị cáo 45 ngày sau khi tuyên án để đảm bảo thi hành án.

Đối với người đàn ông tên Â1 là người bán pháo cho Lê Sỹ T (theo lời khai của Lê Sỹ T), quá trình điều tra, xác minh không xác định được họ tên, địa chỉ cụ thể nên không có căn cứ để xác minh, xử lý.

[4]. Về hình phạt bổ sung: bị cáo không có việc làm, không có tài sản nên không cần thiết phải áp dụng hình phạt tiền đối với các bị cáo.

[5]. Về vật chứng:

- 01 (Một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG GALAXY A23, màu đen, số IMEI1: 353220821728190; số IMEI2: 353319901728193 và 01 (Một) Chiếc xe máy nhãn hiệu Honda, loại Wave Anpha, màu đen, biển kiểm soát 37F2-579.96, xe đã qua sử dụng, qua xác minh là tài sản của chị Nguyễn Thị K cho Lê Sỹ T mượn để sử dụng nhưng không biết T dùng để thực làm phương tiện phạm tội. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện D đã trả cho chủ sở hữu nên miễn xét.

Tịch thu tiêu hủy 01 (Một) Bì xác rắn màu xám được niêm phong theo đúng quy định, trên miệng bì được buộc kín, trên nút buộc có gián giấy niêm phong, trên giấy niêm phong có chữ ký của cán bộ tham gia cùng đối tượng Lê Sỹ T và hình dáu của CQCSĐT Công an huyện D, tỉnh Nghệ An bên trong có chứa 13,478 kg (mười ba phẩy bốn trăm bảy mươi tám kilogam) pháo nổ là vật chứng thu giữ của Lê Sỹ T sau khi đã lấy mẫu đi giám định và bao bì niêm phong ban đầu.

Số vật chứng sau khi lấy mẫu giám định hiện đang được bảo quản tại kho vật chứng của Công an huyện D theo Phiếu nhập kho vật chứng số 44/PNK ngày 22/02/2024.

[6]. Về án phí: Căn cứ vào Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh và hình phạt: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 191; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 điều 52; điều 38 của Bộ luật hình sự.

Tuyên bố bị cáo Lê Sỹ T phạm tội “Tàng trữ hàng cấm”.

Xử phạt: bị cáo Lê Sỹ T 08 (tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam bị cáo (ngày 22/01/2024).

2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ điều 47 Bộ luật hình sự; điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015:

Tịch thu tiêu hủy 01 (Một) Bì xác rắn màu xám được niêm phong theo đúng quy định, trên miệng bì được buộc kín, trên nút buộc có gián giấy niêm phong, trên giấy niêm phong có chữ ký của cán bộ tham gia cùng đối tượng Lê Sỹ T và hình dáu của CQCSĐT Công an huyện D, tỉnh Nghệ An bên trong có chứa 13,478 kg (mười ba phẩy bốn trăm bảy mươi tám kilogam) pháo nổ là vật chứng thu giữ của Lê Sỹ T sau khi đã lấy mẫu đi giám định và bao bì niêm phong ban đầu.

Số vật chứng sau khi lấy mẫu giám định hiện đang được bảo quản tại kho vật chứng của Công an huyện D theo Phiếu nhập kho vật chứng số 44/PNK ngày 22/02/2024.

3. Về án phí: Căn cứ điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a, khoản 1, Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Buộc bị cáo Lê Sỹ T phải chịu 200.000 (Hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSND huyện Diễn Châu;
  • - VKSND tỉnh Nghệ An;
  • - Công an, THA Hình sự huyện Diễn Châu;
  • - THA Dân sự huyện Diễn Châu;
  • - Trại tạm giam;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Nghệ An;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TỌA

Nguyễn Danh Hùng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 66/2024/HS-ST ngày 16/05/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DIỄN CHÂU – TỈNH NGHỆ AN về tàng trữ hàng cấm (tội phạm hình sự)

  • Số bản án: 66/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ hàng cấm (Tội phạm hình sự)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 16/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DIỄN CHÂU – TỈNH NGHỆ AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bị cáo bị XP 8 tháng tù
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger