Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH PHÚ THỌ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 66/2024/HS-ST

Ngày 14 tháng 9 năm 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Thu Huyền
Thẩm phán: Ông Nguyễn Quang Vũ.
Các Hội Thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Phẩm
Ông Nguyễn Ngọc Thắng
Bà Bùi Thị Hảo

- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Vân - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ.

- Đại diện VKSND tỉnh Phú Thọ tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Quý H - Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ đưa ra xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 70/2024/TLST-HS ngày 30/8/2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 225/2024/QĐXXST-HS ngày 04/9/2024 đối với:

Bị cáo:Họ và tên: Vũ Thị Thanh N - sinh ngày 01/6/1984; Giới tính: Nữ; Tên gọi khác: không; Nơi sinh: tỉnh Phú Thọ; Nơi đăng ký HKTT và nơi ở: Khu G, thị trấn T, huyện T, tỉnh Phú Thọ; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp trước khi phạm tội: Giáo viên Trường mầm non xã T, huyện T, tỉnh Phú Thọ; Bố đẻ: Vũ Đình H1, sinh năm 1952; Mẹ đẻ: Nguyễn Thị C, sinh năm 1954; hiện bố, mẹ ở : Khu G, thị trấn T, hyện Thanh Thuỷ, tỉnh Phú Thọ;Anh chị em ruột: Gia đình có hai chị em, bị cáo là con thứ hai;Chồng: Đỗ Quang T, sinh năm 1979 (đã ly hôn);Con: có 02 con, con lớn sinh năm 2008, con nhỏ sinh năm 2013, hiện ở Khu G, thị trấn T, hyện Thanh Thuỷ, tỉnh Phú Thọ;

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị tạm giam từ ngày 15/3/2024, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh P (Có mặt).

Người bào chữa cho bị cáo: Ông Chu Văn Q – Luật sư thuộc Công ty L2 - Đoàn luật sư tỉnh P; địa chỉ: Số nhà A, đường Â, phường T, thành phố V, tỉnh Phú Thọ (có mặt).

2. Bị hại:

2.1. Anh Nguyễn Tiến D, sinh năm 1982; địa chỉ: Khu G, phường V, thành phố V, tỉnh Phú Thọ; nơi ở hiện nay: Kho công binh - C kho binh chủng - Bộ T10 thuộc xã B, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ (Có mặt).

2.2. Chị Nguyễn Thị T1, nơi công tác: Trường mầm non N5, xã N, huyện Y, tỉnh Hà Giang.Chị Nguyễn Thị T1 uỷ quyền cho anhNguyễn Tiến Dưỡng.

3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:Ông Vũ Đình H1, sinh năm 1952; địa chỉ: Khu G, thị trấn T, huyện T, tỉnh Phú Thọ (Có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Vào khoảng đầu năm 2020, do bản thân nợ nần nhiều, không có tiền trả nợ nên khi biết anh Nguyễn Tiến D, sinh năm 1982 ở phường V, T, tỉnh Phú Thọ muốn xin chuyển công tác cho vợ mình là chị Nguyễn Thị T1, sinh năm 1983, là giáo viên trường mầm non N5, xã N, huyện Y, tỉnh Hà Giang về công tác tại huyện T, tỉnh Phú Thọ, nên Vũ Thị Thanh N, sinh năm 1984 ở khu7, thị trấn T, huyện T, tỉnh Phú Thọ nảy sinh ý định lừa dối anh D về việc bản thân có nhiều mối quan hệ, có thể nhờ xin chuyển trường cho chị T2 lấy tiền trả nợ và tiêu sài cá nhân.

Để chiếm đoạt được tiền của anh D và chị T1, N đã đưa ra các thông tin gian dối, sử dụng nhiều số điện thoạikhác nhau để giả mạo là người đang công tác tại huyện T nhắn tin cho anh D (N không gọi điện, không nghe điện thoại vì sợ anh D phát hiện giọng nói). Nhàn nhắn tin đưa ra các lý do khác nhau như: Khó khăn trong việc xin chuyển công tác, đăng ký cho chị T1 đi học cao học để sau này có thể xin cho chị T1 làm chuyên viên tại Phòng giáo dục huyện T...mục đích để anh D chuyển tiền mà không nghi ngờ gì. Để anh D chuyển tiền, N đã liên hệ với nhiều người quen để mượn số tài khoản gửi cho anh D chuyển tiền. Khi mượn số tài khoản, N đưa ra các lý do như: mượn tài khoản để người khác trả nợ, tài khoản đang vay thấu chi không rút được, tài khoản đang bị lỗi...sau đó những người này lại chuyển khoản lại cho N hoặc chuyển trả bằng tiền mặt đúng bằng số tiền mà anh D chuyển. Khi không mượn được tài khoản của người khác thì N lại đưa ra lý do: Phải đưa tiền trực tiếp cho những người ở Ủ banhuyện để anh D chuyển tiền cho N rồi nhờ N đưa giúp anh D, cụ thể như sau:

Nhàn sử dụng số điện thoại 0963.102.xxx giả mạo là M – cán bộ huyện T nhắn tin với anh D để giả là người trực tiếp tiếp nhận và lo xin chuyển công tác cho chị T1.

Nhàn sử dụng số điện thoại 0868.396.xxx, 0789077472 giả mạo là T3 - cán bộ huyện T nhắn tin với anh D để giả là người tiếp tục tiếp nhận hồ sơ, lo chuyển công tác cho chị T1.

Ngoài ra, N sử dụng số điện thoại 0389.573.xxx giả làm người đàn ông tên T4 (tức H2) và để đăng ký 01 tài khoản Zalo (chưa xác định tên tài khoản được tạo) để tham gia nhóm Z “Lớp Học” do N tạo ra.

Các tài khoản mà N đã mượn của nhiều người quen để nhắn cho anh D, chị T1 chuyển tiền đến với tổng số tiền là 793.253.000 đồng, cụ thể:

  • - N hỏi mượn tài khoản số 2717215027555 mở tại ngân hàng A của chị Nguyễn Thị M1, là giáo viên cùng trường với N để nhận tiền từ anh D chuyển cho N. Chị M1 đồng ý. Từ ngày 08/05/2020 đến ngày 03/12/2021 theo yêu cầu của N, anh D đã chuyển tiền vào tài khoản của chị M1 18 lần với số tiền là 170.000.000 đồng. Sau khi nhận tiền, chị M1 đã chuyển vào tài khoản ngân hàng cho N số tiền 93.400.000 đồng và đưa tiền mặt cho N số tiền là 76.600.000 đồng.
  • - N hỏi mượn tài khoản số 2717215021361 mở tại ngân hàng N6 của chị Phan Thị Hải H3, sinh năm 1989, ở: khu E, xã T, huyện T, tỉnh Phú Thọ là giáo viên cùng trường với N. Chị H3 đồng ý. Từ ngày 19/06/2020 đến ngày 20/01/2021, theo yêu cầu của N, anh D đã chuyển tiền vào tài khoản ngân hàng
  • của chị H3 03 lần với số tiền là 21.000.000 đồng. Sau khi nhận tiền, chị H3 đã chuyển vào tài khoản ngân hàng của N số tiền 16.990.000 đồng và đưa tiền mặt cho N số tiền 4.000.000 đồng, còn 10.000 đồng phí Ngân hàng thu khi chuyển khoản.
  • - N hỏi mượn tài khoản số [...] mở tại ngân hàng V2 của chị Vi Hồng V, sinh năm 1984, ở: Khu F, thị trấn T, huyện T, tỉnh Phú Thọ là hàng xóm của N để nhận tiền từ anh D chuyển cho N. Chị V đồng ý. Từ ngày 14/11/2020 đến ngày 03/05/2022 theo yêu cầu của N, anh D đã chuyển tiền vào tài khoản của chị V 32 lần với số tiền là 293.900.000 đồng. Sau khi nhận tiền, chị V đã chuyển vào tài khoản ngân hàng của N số tiền 279.311.700 đồng và đưa tiền mặt cho N số tiền 14.588.300 đồng.
  • - N hỏi mượn tài khoản số 2717205105669 mở tại ngân hàng A của chị Nguyễn Thị V1, sinh năm 1995,ở: khu A, xã T, huyện T, tỉnh Phú Thọ là giáo viên cùng công tác với N, chị V1 đồng ý. Ngày 12/01/2023 theo yêu cầu của N, anh D chuyển tiền vào tài khoản ngân hàng của chị V1 01 lần với số tiền 8.500.000 đồng. Sau khi nhận tiền, chị V1 đưa tiền mặt cho N số tiền 8.500.000 đồng.
  • - N hỏi mượn tài khoản số 2717205292016 mở tại ngân hàng A của chị Ma Thị H4, sinh năm 1987, ở: khu G, thị trấn T, huyện T, tỉnh Phú Thọ là hàng xóm của N để nhận tiền từ anh D chuyển cho N. Chị H4 đồng ý. Ngày 11/11/2023, theo yêu cầu của N, anh D chuyển vào tài khoản của chị H4 01 lần với số tiền 10.000.000 đồng. Sau khi nhận tiền, chị H4 đã chuyển vào tài khoản Ngân hàng của N số tiền 10.000.000 đồng.
  • - N hỏi mượn tài khoản số [...] mở tại Ngân hàng V2 của chị Nguyễn Thị D1, sinh năm 1992, ở: khu D, thị trấn T, huyện T, tỉnh Phú Thọ, hiện đang bán thuốc tại thị trấn T. Chị D1 đồng ý. Ngày 11/04/2023, theo yêu cầu của N, anh D đã chuyển vào tài khoản của chị D1 01 lần với số tiền 30.000.000 đồng. Sau khi nhận tiền, chị D1 đã chuyển vào tài khoản ngân hàng của N số tiền 29.650.000 đồng, còn 350.000 đồng là số tiền N trả tiền thuốc mua của chị D1 trước đó.
  • - N hỏi mượn tài khoản số 7804215034258 mở tại Ngân hàng A của chị Hà Thị O, sinh năm 1986, ở: khu G, thị trấn T, huyện T, tỉnh Phú Thọ là hàng xóm của N. Chị O đồng ý. Từ ngày 16/06/2023 đến ngày 21/7/2023, theo yêu cầu của N, anh D và chị T1 đã chuyển tiền vào tài khoản ngân hàng của chị O 04 lần với số tiền là 33.880.000 đồng (trong đó, anh D chuyển 01 lần với số tiền là 15.880.000đồng, chị T1 chuyển 03 lần với só tiền là 18.000.000đồng). Sau khi nhận tiền, chị O đã chuyển vào tài khoản ngân hàng của N số tiền 28.880.000 đồng, còn 5.000.000 đồng chị O chuyển vào tài khoản số 9704229206725783266 mang tên Chu Gia L (tài khoản do N sử dụng nhưng nhờ anh Chu Gia L đứng tên).
  • - Nhàn hỏi mượn tài khoản số 986688mở tại Ngân hàng N6 của chị Chu Thị Kim T5, sinh năm 1986, ở: khu E, thị trấn T, huyện T, tỉnh Phú Thọ là anh em họ hàng với N. Chị T5 đồng ý. Ngày 11/11/2023, theo yêu cầu của N, anh D đã chuyển tiền vào tài khoản của chị T5 số tiền 20.000.000 đồng. Sau khi nhận tiền, chị T5 đã chuyển vào tài khoản ngân hàng của N số tiền 20.000.000 đồng.
  • -N hỏi mượn tài khoản số 0888270391 mở tại Ngân hàng N6 của anh Nguyễn Hữu B, sinh năm 1991, ở: khu F, thị trấn T, huyện T, tỉnh Phú Thọ làm

nghề giao hàng tại thị trấn T. Anh B đồng ý. Trong các ngày 26/8/2023, 31/8/2023 và 16/9/2023 theo yêu cầu của N, chị T1 đã chuyển tiền vào tài khoản của anh B 03 lần với số tiền là 41.500.000 đồng. Anh B đưa tiền mặt cho N số tiền 32.450.000 đồng, số tiền còn lại 10.050.000 đồng Nhàn trả tiền hàng cho anh B trước đó.

  • - N hỏi mượn tài khoản số [...] mở tại Ngân hàng V2 của chị Nguyễn Thị Ánh N1, sinh năm 1988, ở: khu A, thị trấn T, huyện T, tỉnh Phú Thọ là người cùng làm tại Trường mầm non xã T với N. Chị N1 đồng ý. Ngày 15/09/2023, theo yêu cầu của N, chị T6 chuyển vào tài khoản của chị N1 số tiền 10.000.000 đồng. Sau khi nhận tiền chị N1 đã chuyển vào tài khoản của N số tiền 10.000.000 đồng.
  • - N hỏi mượn tài khoản số [...] mở tại Ngân hàng N6 của chị Nguyễn Thị H5, sinh năm 1996, ở: khu D, xã T, huyện T, tỉnh Phú Thọ, hiện đang bán thuốc tại huyện T. Chị H5 đồng ý. Từ ngày 19/9/2023 đến 04/10/2023, theo yêu cầu của N, chị T1 đã chuyển tiền vào tài khoản của chị H5 04 lần với số tiền 33.400.000 đồng. Sau khi nhận tiền chị H5 đã chuyển vào tài khoản của N số tiền 33.400.000 đồng.
  • - N hỏi mượn tài khoản số 2717205172637 mở tại Ngân hàng V2 của chị Nguyễn Thị X, sinh năm 1986, ở: khu G, thị trấn T, huyện T, tỉnh Phú Thọ. Chị X đồng ý. Ngày 08/6/2023, theo yêu cầu của N, anh D đã chuyển tiền vào tài khoản của chị X 01 lần với số tiền 5.300.000 đồng. Sau khi nhận tiền, chị X đã chuyển vào tài khoản của N số tiền 5.300.000 đồng.
  • - N hỏi mượn tài khoản số 0356544389 mở tại Ngân hàng L3 của chị Trần Thị Hoa L1, sinh năm 1983, ở:khu G, thị trấn T, huyện T, tỉnh Phú Thọ. Chị L1 đồng ý. Ngày 22/5/2023, theo yêu cầu của N, anh D đã chuyển tiền vào tài khoản của chị L1 02 lần với số tiền 44.873.000 đồng. Sau khi nhận tiền, chị L1 đã chuyển vào tài khoản của N với số tiền 44.673.000 đồng, còn lại 200.000 đồng chị Lư trừ tiền mua hàng mà N còn nợ trước đó.
  • - N hỏi mượn tài khoản số 42810000170973 mở tại Ngân hàng L3 của chị Nguyễn Thị Thanh H6, sinh năm 1987, ở: Khu G,thị trấn T huyện T, tỉnh Phú Thọ. Chị H6 đồng ý. Ngày 14/4/2023 và 18/4/2023 theo yêu cầu của N, anh D đã chuyển vào tài khoản của chị H6 02 lần với số tiền 70.900.000đồng. Sau khi nhận tiền, chị H6 đã chuyển vào tài khoản của N với số tiền 70.900.000 đồng.

Ngoài ra, từ ngày 21/03/2020 đến ngày 28/02/2023, N còn sử dụng 03 số tài khoản đứng tên N và Chu Gia L để anh D, chị T1 chuyển số tiền 876.430.000 đồng, cụ thể:

  • Từ ngày 21/3/2020 đến ngày 28/02/2023,anh D chuyển 57 lần với số tiền 467.660.000 đồng tới số tài khoản 8290105635009 mở tại ngân hàng M2 của N.
  • Từ ngày 11/5/2022 đến ngày 17/5/2023,anh D chuyển 22 lần với số tiền 258.690.000 đồng tới số tài khoản 9704229203478897997 mở tại V của N.
  • Từ ngày 04/7/2023 đến 15/9/2023,N yêu cầu chị T1 chuyển 32 lần với số tiền 150.080.000 đồngtới số tài khoản 9704229206725783266 mở tại V mang tên anh Chu Gia L. Số tài khoản này, N nhờ anh L đứng tên mở hộ nhưng đăng ký theo số điện thoại của N, do N sử dụng.

Như vậy từ năm 2020 đến năm 2023, Vũ Thị Thanh N đã chiếm đoạt của anh Nguyễn Tiến D và chị Nguyễn Thị T1 là: 1.669.683.000 đồng. Trong đó

chiếm đoạt của anh D 1.417.603.000 đồng, chiếm đoạt của chị T1 252.080.000 đồng.

Tại Cơ quan điều tra, Vũ Thị Thanh N đã khai nhận hành vi vi phạm pháp luật như đã nêu trên, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ mà Cơ quan điều tra thu thập được. N khai nhận toàn bộ số tiền chiếm đoạt được của anh Nguyễn Tiến D và chị Nguyễn Thị T7 1.669.683.000 đồng,N đã dùng để trả nợ và tiêu sài cá nhân.

*Vật chứng, tài sản thu giữ: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Redmi màn hình cảm ứng, vỏ màu đen, model M2006J10C, IMEI (Sim lot 1) 863130055228267, IMEI (Sim lot 2) 863130055228275 đã qua sử dụng; 01 (một) điện thoại di động màn hình cảm ứng nhãn hiệu Iphone, màu hồng nhạt, tên kiểu máy Iphone 6s, số IMEI 353272078698303 bên trong lắp 01 sim điện thoại trên sim có dãy số 8984048000919187256 đã qua sử dụng.

* Xác minh tài sản:Vũ Thị ThanhNhàn không có tài sản là nhà và đất trên địa bàn tỉnh Phú Thọ. Nhàn hiện sinh sống trên thửa đất số 10, tờ bản đồ số 12 ở khu G, thị trấn T, huyện T, tỉnh Phú Thọ (Là của ông Vũ Đình H1 – bố đẻ của N).

Cáo trạng số 74/CT-VKSPT-P1 ngày 28/8/2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ truy tố bị cáo Vũ Thị Thanh Nhàn về tội: “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”theo quy định tại điểm a khoản 4 Điều 174 Bộ luật Hình sự.

Điều 174. Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản.

1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

...

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân:

a) Chiếm đoạt tài sản trị giá 500.000.000 đồng trở lên”.

Tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, thừa nhận hành vi như bản cáo trạng đã nêu, thể hiện thái độ ăn năn hối cải.

Quá trình giải quyết vụ án gia đình bị cáo (Ông Vũ Đình H1 là bố bị cáo N) đã tự nguyện nộp khắc phục 200.000.000 đồng (Hai trăm triệu đồng).

Tại phiên tòa bị hại anh Nguyễn Tiến D xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo Vũ Thị Thanh N.

Tại phiên tòa ông Vũ Đình H1 (là bố đẻ bị cáo) trình bày đối với số tiền 200.000.000₫ (hai trăm triệu đồng), ông tự nguyện bồi thường thay bị cáo N và không đề nghị bị cáo N phải trả lại số tiền mà ông đã nộp thay cho bị cáo.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát có quan điểm giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị:

  • - Tuyên bố: Bị cáo Vũ Thị Thanh N2 tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản;
  • - Áp dụng điểm a khoản 4 Điều 174; điểm b,s khoản 1, 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo Vũ Thị Thanh N từ 12 năm đến 13 năm tù về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam.
  • - Hình phạt bổ sung: Không áp dụng đối với bị cáo.
  • - Về vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 BLHS, khoản 2, 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự

Tịch thu bán sung ngân sách nhà nước: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Redmi màn hình cảm ứng, vỏ màu đen, model M2006J10C, IMEI (Sim slot 1) 863130055228267, IMEI (Sim slot 2) 863130055228275 đã qua sử dụng; 01 (một) điện thoại di động màn hình cảm ứng nhãn hiệu Iphone, màu hồng nhạt, tên kiểu máy Iphone 6s, số IMEI 353272078698303 bên trong lắp 01 sim điện thoại trên sim có dãy số 8984048000919187256 đã qua sử dụng – là công cụ, phượng tiện N sử dụng để lừa đảo chiếm đoạt tiền của anh D, chị T1.

Tịch thu tiêu huỷ 03 sim điện thoại: 01 sim điện thoại trên sim có dãy số 8984048000919187256; 01 sim điện thoại trên sim có dãy số 8984048000927433027, 01 sim điện thoại trên sim có dãy số 8984048000389087015.

Trả cho người bị hại do anh Nguyễn Tiến D đại diện nhận số tiền 200.000.000 đồng (chị T1 uỷ quyền cho anh D nhận số tiền gia đình bị cáo N đã khắc phục).

- Trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo Vũ Thị Thanh N phải trả toàn bộ số tiền N đã chiếm đoạt là: 1.669.683.000 đồng. Xác nhận gia đình bị cáo Vũ Thị Thanh N (Ông Vũ Đình H1 là bố đẻ bị cáo) nộp thay là 200.000.000 đồng, tại Cục Thi hành án tỉnh Phú Thọ và không có đề nghị N phải hoàn trả số tiền này. Bị cáo N còn phải trả số tiền còn lại cho người bị hại do anh Nguyễn Tiến D đại diện nhận là 1.469.683.000 đồng (Một tỷ, bốn trăm sáu mươi chín triệu, sáu trăm tám mươi ba nghìn đồng).

- Về án phí:Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự; Khoản 1 Điều 21, điểm a, điểm c khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo Vũ Thị Thanh N phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 56.090.490đ (Năm mươi sáu triệu, không trăm chín mươi nghìn, bốn trăm chín mươi đồng) án phí dân sự sơ thẩm trong án hình sự.

Luật sư bào chữa cho bị cáo không tranh luận về tội danh, điều khoản áp dụng. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét các tình tiết giảm nhẹ và áp dụng điểm b, v,s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Vũ Thị Thanh N.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1].Về hành vi, quyết định tố tụng: Căn cứ Quyết định khởi tố vụ án hình sự số 27/QĐ- VPCQCSĐT ngày 14/3/2024 và Quyết định khởi tố bị can số 156QĐ- VPCQCSĐT ngày 14/3/2024 ngày 14/3/2024 của Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an tỉnh P đối với Vũ Thị Thanh N về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” quy định tại khoản 4 Điều 174 Bộ luật Hình sự; Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình tự.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Vũ Thị Thanh N không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2].Về tội danh: Tại phiên tòa, bị cáo đều khai nhận về hành vi phạm tội của mình. Xét lời khai của bị cáo tại phiên tòa là phù hợp với lời khai của người bị hại, người liên quan và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án như:Do bản thân nợ nần nhiều, nên khi biết anh Nguyễn Tiến D2 ý định muốn xin chuyển công tác cho vợ mình là chị Nguyễn Thị T8 gần nhà, nên Vũ Thị Thanh N3 sinh ý định lừa dối anh D về việc bản thân có nhiều mối quan hệ, có thể nhờ xin chuyển trường cho chị T1 để lấy tiền trả nợ và tiêu sài cá nhân. Để chiếm đoạt được tiền của anh D và chị T1, từ năm 2020 đến năm 2023, N đã đưa ra các thông tin gian dối, sử dụng nhiều số điện thoại, số tài khoản khác nhau để chiếm đoạt của anh Nguyễn Tiến D và chị Nguyễn Thị T1 với số tiền 1.669.683.000 đồng. Trong đó chiếm đoạt của anh D 1.417.603.000 đồng, chiếm đoạt của chị T1 252.080.000 đồng.

Như vậy, hành vi nêu trên của Vũ Thị Thanh N phạm vào tội “ Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm a, khoản 4 Điều 174 Bộ luật hình sự như Quyết định truy tố của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ là đúng quy định pháp luật.

[3]. Xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, tính chất vụ án, Hội đồng xét xử xét thấy:

  • * Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:Bị cáo Vũ Thị Thanh N phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản với tình tiết tăng nặng là “Phạm tội 02 lần trở lên”.
  • * Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên toà bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Vũ Thị Thanh N nhiều năm liền đạt danh hiệu Lao động tiên tiến, đạt giáo viên dạy giỏi cấp trường (năm học 2020 -2021), là cô nuôi dưỡng giỏi cấp huyện (năm học 2015-2016);N có bố đẻlà ông Vũ Đình H1 được Chủ tịch nước tặng Huy chương hạng Nhất, hạng Nhì, Huân chương chiến sĩ vẻ vang hạng Ba; được Hội đồng cố vấn Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa M3 tặng Huy chương chiến sĩ giải phóng hạng Ba. Quá trình giải quyết vụ án N đã tác động gia đình bồi thường cho người bị hại, ông Vũ Đình H1 (là bố đẻ của bị cáo) đã tự nguyện nộp khắc phục tổng số tiền là 200.000.000 đồng (Hai trăm triệu đồng). Tại phiên tòa bị hại là anh Nguyễn Tiến D xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo Vũ Thị Thanh N. Do vậy, bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 BLHS.
  • * Xét tính chất vụ án là rất nghiêm trọng, hành vi của bị cáo Vũ Thị T9 là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác, được pháp luật hình sự bảo vệ. Tính chất của vụ án là đặc biệt nghiêm trọng vì bị cáo chiếm đoạt số tài sản lớn, từ động cơ cá nhân bị cáo đã xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác, làm ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự xã hội. Với tính chất nguy hiểm của hành vi bị cáo thực hiện cần có mức án nghiêm khắc.

Tuy nhiên khi lượng hình cũng cần xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để có một mức án tương xứng với hành vi mà bị cáo đã gây ra.

[4]. Về trách nhiệm dân sự: Anh Nguyễn Tiến D, chị Nguyễn Thị T1 yêu cầu Vũ Thị Thanh N phải trả toàn bộ số tiền N đã chiếm đoạt, tổng cộng là : 1.669.683.000 đồng (Một tỷ, sáu trăm sáu mươi chín triệu, sáu trăm tám mươi ba nghìn đồng). Trong quá trình giải quyết vụ án gia đình bị cáo (Ông Vũ Đình H1 là bố đẻ bị cáo) đã tự nguyện nộp khắc phục tổng số tiền là 200.000.000 đồng (Hai trăm triệu đồng) và không yêu cầu bị cáo phải hoàn trả lại số tiền này.

Bị cáo N còn phải tiếp tục trả số tiền còn lại cho anh D, chị T1 là : 1.469.683.000 đồng (Một tỷ, bốn trăm sáu mươi chín triệu, sáu trăm tám mươi ba nghìn đồng). Nay chị T1 uỷ quyền cho anh D được nhận khoản tiền này, do vậy buộc bị cáo N phải trả số tiền đã chiếm đoạt cho anh D.

[5]. Về hình phạt bổ sung: Tại khoản 5 điều 174 Bộ luật Hình sự còn quy định người phạm tội còn có thể bị phạt tiền; Hội đồng xét xử xét thấy miễn hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo vì bị cáo không có tài sản; Tại khoản 5 điều 174 Bộ luật Hình sự còn quy định cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề đối với người phạm tội, Hội đồng xét xử xét thấy không cần áp dụng đối với bị cáo.

[6]. Về xử lý vật chứng vụ án:

  • -Đối với01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Redmi, màu đen, màn hình cảm ứng, mặt lưng bị nứt vỡ, model M2006J10C, IMEI (Sim lot 1) 863130055228267, IMEI (Sim lot 2) 863130055228275, máy đã cũ, đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng bên trong máy, máy bị xước sát; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6s, màu hồng nhạt, màn hình cảm ứngsố IMEI 353272078698303 bên trong lắp 01 sim điện thoại trên sim có dãy số 8984048000919187256, máy đã cũ, đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng bên trong, máy bị xước sát là công cụ, phương tiện dùng vào việc phạm tội nên cần tịch thu sung ngân sách nhà nước.
  • - 01 sim điện thoại trên sim có dãy số IMEI (Sim lot 1) 863130055228267, IMEI (Sim lot B1) 863130055228275; 01 sim điện thoại trên sim có dãy số 8984048000919187256không còn giá trị sử dụng cần tịch thu để tiêu huỷ.

(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 04/9/2024 tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Phú Thọ).

  • -Đối với số tiền 200.000.000 đ (Hai trăm triệu đồng), ông Vũ Đình H1 nộp tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Phú Thọ để khắc phục cho bị hại nên trả cho người bị hại do anh Nguyễn Tiến D đại diện nhận số tiền 200.000.000 đồng.

[7]. Đối với các trường hợp khác: Chị Nguyễn Thị M1, chị Phan Thị H3, chị Vi Hồng V, chị Nguyễn Thị V1, chị Ma Thị H4, chị Nguyễn Thị D1, chị Hà Thị O, chị Chu Thị Kim T5, anh Nguyễn Hữu B, chị Nguyễn Thị Ánh N1, chị Nguyễn Thị H5, chị Nguyễn Thị X, chị Trần Thị Hoa L1, chị Nguyễn Thị Thanh H6. Đối với các cá nhân cho N mượn số tài khoản. Quá trình điều tra xác định, các cá nhân này đều có mối quan hệ quen biết với N, không biết đó là tiền N lừa anh D và chị T1. Khi nhận được tiền chuyển đến, các các nhân đều chuyển trả lại tiền cho N qua tài khoản hoặc bằng tiền mặt, do đó Cơ quan điều tra không đề cập xử lý là phù hợp.

Ngoài ra, Vũ Thị Thanh N nhờ anh Chu Gia L đứng tên mở tài khoản Viettel Pay, nhưng đăng ký bằng số điện thoại của N, do N sử dụng. Anh Chu Gia L không biết N sử dụng để lừa đảo anh D và chị T1, do đó Cơ quan điều tra không đề cập xử lý là phù hợp.

  • * Xác minh tài sản:Vũ Thị ThanhNhàn không có tài sản là nhà và đất trên địa bàn tỉnh Phú Thọ. Nhàn hiện sinh sống trên thửa đất số 10, tờ bản đồ số 12 ở khu G, thị trấn T, huyện T, tỉnh Phú Thọ (Là của ông Vũ Đình H1 – bố đẻ của N).

[8]. Tại phiên tòa hôm nay, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ đề nghị mức hình phạt đối với bị cáo và các vấn đề khác là phù hợp nên được chấp nhận.

Đề nghị của Luật sư bào chữa cho bị cáo tại phiên toà còn có điểm chưa phù hợp nên không được chấp nhận.

[9]. Về án phí: Bị cáo Vũ Thị Thanh N phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm trong án hình sự theo quy định.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH:

[1]. Về điều luật áp dụng: Áp dụng điểm akhoản 4 Điều 174; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự.

[2] .Về tội danh:

Tuyên bố bị cáoVũ Thị Thanh N4 phạm tội: “ Lừa đảo chiếm đoạt tài sản

[3] .Về hình phạt:

Xử phạt: Bị cáoVũ Thị Thanh Nhàn13 (Mười ba) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giambị cáo từ ngày 15/3/2024, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh P.

Miễn áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[4]. Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo Vũ Thị Thanh N phải trả toàn bộ số tiền N đã chiếm đoạt, tổng cộng là: 1.669.683.000 đồng (Một tỷ, sáu trăm sáu mươi chín triệu, sáu trăm tám mươi ba nghìn đồng).Xác nhận gia đình bị cáo Vũ Thị Thanh N (Ông Vũ Đình H1 là bố đẻ bị cáo) nộp thay là 200.000.000 đồng (Hai trăm triệu đồng) theo Biên lai thu tiền số 0000495 ngày 29/8/2024 và Biên lai thu tiền số 0000551 ngày 12/9/2024 tại Cục Thi hành án tỉnh Phú Thọ. Bị cáo N còn phải trả số tiền còn lại cho anh D, chị T1 do anh D là đại diện nhận là: 1.469.683.000 đồng (Một tỷ, bốn trăm sáu mươi chín triệu, sáu trăm tám mươi ba nghìn đồng).

Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án mà người phải thi hành án chậm thực hiện việc trả số tiền nêu trên thì hàng tháng người phải thi hành án còn phải trả thêm tiền lãi theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015, tương ứng với số tiền và thời gian chưa thi hành án

[5]. Về xử lý vật chứng vụ án: Áp dụngĐiều 47 Bộ luật hình sự, điểm a, b, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

  • - Tịch thu tiêu hủy: 01 sim điện thoại trên sim có dãy số IMEI (Sim lot 1) 863130055228267, IMEI (Sim lot B1) 863130055228275; 01 sim điện thoại trên sim có dãy số 8984048000919187256.
  • -Tịch thu bánsung quỹ nhà nước:
  • +01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Redmi, màu đen, màn hình cảm ứng, mặt lưng bị nứt vỡ, model M2006J10C máy đã cũ, đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng bên trong máy, máy bị xước sát.
  • + 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6s, màu hồng nhạt, màn hình cảm ứngsố IMEI 353272078698303 máy đã cũ, đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng bên trong, máy bị xước sát.

(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 04/9/2024 tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Phú Thọ).

  • -Trả cho người bị hại do anh Nguyễn Tiến D đại diện nhận số tiền 200.000.000₫ (Hai trăm triệu đồng).

[6]. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a, khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo Vũ Thị Thanh N phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 56.090.490đ (Năm mươi sáu triệu, không trăm chín mươi nghìn, bốn trăm chín mươi đồng) án phí dân sự sơ thẩm trong án hình sự.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

[7]. Quyền kháng cáo:Trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm, bị cáo có mặt có quyền kháng cáo để yêu cầu xét xử phúc thẩm.

Bị hại, người có quyền và nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo phần quyền lợi liên quan trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết./.

Nơi nhận:

  • - TAND Cấp cao tại Hà Nội;
  • - VKSND Cấp cao;
  • - VKSND tỉnh Phú Thọ;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Phú Thọ;
  • - PC 01; PC 06 - Công an tỉnh Phú Thọ;
  • - CQ THAHS, dân sự tỉnh Phú Thọ;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu: VT, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Thị Thu Huyền

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 66/2024/HS-ST ngày 14/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ về lừa đảo chiếm đoạt tài sản

  • Số bản án: 66/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 14/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Vụ án Vũ Thị Thanh N phạm tội lừa đảo
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger