|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 5 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 66/2024/HS-ST
Ngày: 14-6-2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 5 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Ông Lâm Thanh Tiền
Các hội thẩm nhân dân:
Ông Tô Tấn Chương
Bà Trần Nguyệt Mai
Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Đình Tùng Lâm – Thư ký Toà án nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Quang Đẩu - Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 63/2024/TLST-HS ngày 15/5/2024, quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 66/2024/QĐXXST-HS ngày 30 tháng 5 năm 2024 đối với các bị cáo:
-
Đặng T, sinh ngày 16 tháng 5 năm 1962 tại: Thành phố Hồ Chí Minh; giới tính: Nam; Nơi thường trú: 1 P, Phường A, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh; Nghề nghiệp: Không; Học vấn: 02/12; Dân tộc: Hoa; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Đặng T1; con bà: Trần Thế N; Có vợ tên Lê Ngọc Ô; Có 03 người con, lớn nhất sinh năm 1989, nhỏ nhất sinh năm 1994; Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 02/12/2023 đến ngày 06/12/2023 thay thế biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú (có mặt tại phiên tòa).
-
Đặng Bửng H, sinh ngày 15 tháng 8 năm 1994 tại: Thành phố Hồ Chí Minh; giới tính: Nam; Nơi thường trú: 1 P, Phường A, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh; Nghề nghiệp: Chạy xe ôm; Học vấn: 09/12; Dân tộc: Hoa; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Đặng T; con bà: Lê Ngọc Ô; Chưa có vợ, con; Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 02/12/2023 đến ngày 06/12/2023 thay thế biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú (có mặt tại phiên tòa).
-
Trần Thị Thùy K, sinh ngày 10 tháng 02 năm 1995 tại: Thành phố Hồ Chí Minh; giới tính: Nữ; Nơi thường trú: B N, Phường A, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh; Nghề nghiệp: Không; Học vấn: 08/12; Dân tộc: Hoa; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Trần Quan K1; con bà: Nguyễn Thị Ngọc L; Chưa có chồng, con; Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú (có mặt tại phiên tòa).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào lúc 20 giờ 45 ngày 01/12/2023, Tổ công tác 363 Công an Quận 5 trên đường tuần tra đến trước nhà số B H, Phường A, Quận E phát hiện Đặng Bửng H điều khiển xe mô tô không biển số có biểu hiện nghi vấn nên tiến hành kiểm tra. Qua kiểm tra phát hiện trong điện thoại di động H sử dụng có tin nhắn trên ứng dụng Zalo ghi nhận 02 phơi đề mà H có nhiệm vụ giao cho Trần Thị Thùy K (con bạc) do cha ruột của H là Đặng T ghi sau đó chụp lại gửi qua điện thoại cho H đi giao cho K thì bị phát hiện.
Tiếp tục mở rộng điều tra vụ án, ngày 02/12/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Đặng T tại địa chỉ số A P, Phường A, Quận E và số B N, Phường A, Quận E. Kết quả thu giữ: 01 chiếc xe mô tô (không biển số); tiền ghi đề; 02 phơi đề và các dụng cụ phục vụ việc ghi đề.
Cơ quan Cảnh sát điều tra mời Nguyễn Thị Thùy K2 đến làm việc, kết quả K2 khai phù hợp với lời khai của Đặng Bửng H và Đặng T về việc đánh bạc bằng hình thức ghi đề vào ngày 01/12/2023.
Tại Cơ quan điều tra, các bị can Đặng T, Đặng Bửng H và Trần Thị Thùy K khai: Khoảng năm 2020, H có quen bạn gái tên Trần Thị Thùy K. Quá trình quen nhau, H biết K thường xuyên đánh bạc dưới hình thức đánh đề ăn tiền và ba ruột H là Đặng T cũng thường xuyên đánh đề và ghi đề cho những người trong xóm. Từ giữa tháng 11/2023, H nói với Kim nếu có nhu cầu ghi đề ăn tiền thì H sẽ đứng ra nhận phơi đề rồi giao cho T; H cũng trực tiếp tính toán số tiền thắng thua giữa hai người. H được hưởng lợi phần trăm chênh lệch trên tổng tiền phơi đề hằng ngày và 200.000 đồng tiền công tính tiền do T chi trả. Vào ngày 01/12/2023, K và Đặng T đánh đề với 02 phơi đề như sau: phơi thứ 1 ghi đài xổ số miền N, tổng tiền Kim ghi là 4.866.000 đồng, thắng 2.600.000 đồng; còn lại thua 2.266.000 đồng; phơi thứ 2 ghi đài xổ số miền B, tổng tiền Kim ghi là 4.309.000 đồng, không thắng, thua toàn bộ số tiền trên. Các phơi đề do T ghi xong thì chụp ảnh gửi cho H và K, phơi giấy cất giữ tại nhà số A P, Phường A, Quận E. Ngoài ra, K còn đánh đề với T vào những ngày trước đó nhưng không nhớ cụ thể nội dung và số tiền thắng thua. Triều khai nhận phù hợp với lời khai của H về việc ghi số đề ăn tiền với K. Bản thân T có ghi đề trực tiếp cho những người khách vãng lai trong xóm và ghi đề qua điện thoại cho K thông qua H. Triều xác nhận 02 phơi đề thu giữ qua khám xét là do T tự viết ra, thể hiện các con số, số tiền ghi đề với K trong ngày 01/12/2023, số tiền đánh bạc tại phơi số 1 là 4.866.000 đồng; số tiền đánh bạc tại phơi số 2 là 4.309.000 đồng. Tổng số tiền đánh bạc là 9.175.000 đồng. Đối chiếu với kết quả sổ xố trong ngày thì K thắng được 2.600.000 đồng. Số tiền này, T và H đã xác nhận với nhau để gửi cho K. Tuy nhiên, K chưa chuyển tiền thanh toán cho T và H. Ngoài K, T còn ghi đề trực tiếp cho những người khách vãng lai không rõ lai lịch, mỗi ngày dao động từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng; các phơi đề trước đó T đã tiêu hủy (đốt) hết không còn lưu giữ.
Vật chứng thu giữ: 01 (một) điện thoại di động Iphone XS Max, màu vàng, dung lượng 64GB, số Imei1: 353093102740576, số Imei2: 353093102564364 (đã qua sử dụng); 01 (một) cây bút bi màu đỏ (đã qua sử dụng); 03 (ba) cây bút bi màu xanh (đã qua sử dụng); 01 (một) máy tính hiệu Casio; 01 (một) điện thoại di động Iphone XS Max, màu vàng, dung lượng 64GB, số Imeil: 353105104422092, số Imei2: 353105104284781 (đã qua sử dụng); 01 (một) điện thoại di động Iphone 14 Promax màu tím, dung lượng 256GB, số Imeil: 355102568902154, số Imei2: 355012510256015; 01 (một) chiếc xe mô tô không biển số, số khung: 208482, số máy: 0539887; số tiền 10.250.000 đồng (mười triệu hai trăm năm mươi nghìn đồng).
Bản cáo trạng số: 65/CT-VKSQ5 ngày 14/5/2024 của Viện kiểm sát nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố các bị cáo Đặng T, Đặng Bửng H và Trần Thị Thùy K về tội: “Đánh bạc” theo Khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 5 giữ quyền công tố luận tội và tranh luận giữ nguyên quyết định truy tố đối với các bị cáo Đặng T, Đặng Bửng H và Trần Thị Thùy K về tội: “Đánh bạc”. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Khoản 1 Điều 321; điểm i, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017), xử phạt bị cáo Đặng T với mức án từ 09 (chín) tháng đến 01 (một) năm tù nhưng cho hưởng án treo; xử phạt các bị cáo Đặng Bửng H và Trần Thị Thùy K với mức án từ 06 (sáu) tháng đến 09 (chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo; vật chứng xử lý theo quy định của pháp luật.
Các bị cáo Đặng T, Đặng Bửng H và Trần Thị Thùy K không có ý kiến bào chữa, không tranh luận và đều nói lời nói sau cùng xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
-
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Q, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 5, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa các bị cáo, người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
-
Qua thẩm tra xét hỏi và tranh luận tại phiên tòa, các bị cáo Đặng T, Đặng Bửng H và Trần Thị Thùy K đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình. Lời khai của các bị cáo là phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của các bị cáo tại Cơ quan điều tra, cùng với vật chứng thu giữ và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Các bị cáo Đặng T, Đặng Bửng H và Trần Thị Thùy K đã có hành vi đánh bạc bằng hình thức ghi số đề ăn thua bằng tiền, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã xác định được số tiền mà các bị cáo dùng vào việc đánh bạc là 11.775.000 đồng (mười một triệu bảy trăm bảy mươi lăm nghìn đồng). Như vậy, hành vi của các bị cáo Đặng T, Đặng Bửng H và Trần Thị Thùy K đã đủ yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc”, tội phạm và hình phạt được quy định tại Khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Xét các bị cáo là người có đủ năng lực hành vi, có khả năng nhận thức được hành vi phạm tội của mình, bị cáo biết rất rõ Nhà nước ta nghiêm cấm mọi hành vi đánh bạc, tổ chức đánh bạc dưới nhiều hình thức nhưng vì hám lợi mà các bị cáo đã bất chấp pháp luật, cố ý thực hiện hành vi phạm tội.
Xét giữa bị cáo T và H có quan hệ là cha, con ruột với nhau, bị cáo T là người khởi xướng thực hiện và trực tiếp ghi số đề và trực tiếp ăn thua với những người chơi đánh số đề; còn bị cáo H là đồng phạm giúp sức, giúp cho bị cáo T trong việc giao phơi đề, cũng như chung, chi tiền thắng, thua với bị cáo K (vì trước đây K là bạn gái của bị cáo H) và được bị cáo T cho tiền tiêu xài. Còn bị cáo K là người chơi đánh số đề.
Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến trật tự công cộng, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an ở địa phương.
-
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo phạm tội không tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
-
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa các bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; nhân thân chưa có tiền án, tiền sự. Do đó, cần xem xét cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).
-
Về hình phạt áp dụng đối với các bị cáo: Căn cứ Điều 50 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017). Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo Đặng T là người trực tiếp ghi số đề ăn thua trực tiếp bằng tiền với người chơi đề, bị cáo ghi số đề phần lớn cho những người lao động có thu nhập thấp nên số tiền đánh bạc không lớn; còn bị cáo Đặng Bửng H là đồng phạm giúp sức, giúp cho bị cáo T (là C ruột) trong việc giao phơi đề cho bị cáo K (K trước đây là bạn gái của H) và mang tiền chung, chi với K sau khi có kết quả trúng hoặc không trúng đề; còn bị cáo Kim c là người chơi đánh số đề. Các bị cáo đều có nhân thân tốt, mới phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; có nơi cư trú rõ ràng, ổn định và phạm tội có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; trong thời gian được tại ngoại các bị cáo chấp hành tốt quy định của địa phương và không có vi phạm gì nên không cần thiết phải bắt các bị cáo chấp hành hình phạt tù mà xem xét cho các bị cáo được hưởng án treo cũng đủ tác dụng giáo dục và phù hợp với quy định tại Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).
-
Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo Đặng T2 đánh bạc nhằm mục đích hưởng lợi nên Hội đồng xét xử xem xét áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo theo quy định tại Khoản 3 Điều 321 Bộ luật hình sự (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Riêng bị cáo Đặng Bửng H là người giúp sức hưởng lợi không đáng kể và Trần Thị Thùy K là người chơi đánh số đề chưa được hưởng lợi, không có việc làm ổn định, khó khăn về kinh tế nên không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với các bị cáo H và K.
-
Về tiền thu lợi bất chính: Xét bị cáo T và H phạm tội có được hưởng lợi, tuy nhiên không xác định được số tiền các bị cáo hưởng lợi trước đây nên không có cơ sở xem xét buộc các bị cáo T và H nộp lại tiền thu lợi bất chính để sung ngân sách nhà nước. Riêng bị cáo K thì chưa được hưởng lợi nên cũng không xem xét nộp lại tiền thu lợi bất chính để sung ngân sách nhà nước
-
Viện kiểm sát nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh truy tố để xét xử và đề nghị mức hình phạt đối với các bị cáo là có cơ sở pháp luật, đúng người, đúng tội, không oan sai.
-
Đối với các đối tượng khác ghi số đề từ bị cáo Đặng T, hiện chưa rõ lai lịch nên Cơ quan Cảnh sát điều tra tiếp tục truy xét, khi nào làm việc được sẽ củng cố chứng cứ và xem xét xử lý sau nên Hội đồng xét xử không xem xét.
-
Về vật chứng:
Xét 01 (một) điện thoại di động Iphone XS Max, màu vàng, dung lượng 64GB, số Imeil: 353093102740576, số Imei2: 353093102564364 (đã qua sử dụng); 01 (một) điện thoại di động Iphone XS Max, màu vàng, dung lượng 64GB, số Imeil: 353105104422092, số Imei2: 353105104284781 (đã qua sử dụng); 01 (một) điện thoại di động Iphone 14 Promax màu tím, dung lượng 256GB, số Imei1: 355102568902154, số Imei2: 355012510256015 là tài sản cá nhân của các bị cáo T, H và K và các bị cáo có sử dụng vào việc phạm tội nên Hội đồng xét xử xem xét tịch thu sung ngân sách nhà nước.
Xét số tiền 10.250.000 đồng (mười triệu hai trăm năm mươi nghìn đồng) là tiền mà bị cáo Đặng T sử dụng vào việc đánh bạc nên Hội đồng xét xử xem xét tịch thu sung ngân sách nhà nước.
Xét 01 (một) cây bút bi màu đỏ (đã qua sử dụng); 03 (ba) cây bút bi màu xanh (đã qua sử dụng) là vật dụng mà bị cáo T sử dụng để ghi số đề và hiện không còn giá trị sử dụng nữa nên tịch thu tiêu hủy.
Xét 01 (một) máy tính hiệu Casio là tài sản cá nhân của bị cáo, sử dụng vào việc phạm tội nên Hội đồng xét xử tịch thu sung ngân sách nhà nước.
Xét 01 (một) chiếc xe mô tô không biển số, số khung: 208482, số máy: 0539887 là tài sản của bị cáo H (bị cáo H mới mua chưa làm thủ tục đăng ký lưu hành, cấp biển số theo quy định) và không liên quan đến hành vi phạm tội nên Hội đồng xét xử xem xét trả lại cho bị cáo H.
-
Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội; Luật phí và lệ phí.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Khoản 1, Khoản 3 Điều 321; điểm i, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Điều 50; Điều 17; Điều 58; Khoản 1, Khoản 2 Điều 65 Bộ luật Hình sự 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Xử phạt bị cáo Đặng T 01 (một) năm tù về tội “Đánh bạc” nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 02 (hai) năm, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo Đặng T cho Ủy ban nhân dân Phường A, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trong trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật thi hành án hình sự năm 2019.
Trong thời gian thử thách, bị cáo Đặng T được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 (hai) lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo T phải chấp hành hình phạt tù của bản án.
Tiếp tục duy trì Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú số: 16/2024/HSST-LCĐKNCT ngày 15/5/2024 của Tòa án nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh cho đến khi bị cáo T chấp hành án.
Buộc bị cáo Đặng T nộp phạt bổ sung số tiền 10.000.000 đồng (mười triệu đồng) để sung ngân sách nhà nước.
Căn cứ Khoản 1 Điều 321; điểm i, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Điều 50; Điều 17; Điều 58; Khoản 1, Khoản 2 Điều 65 Bộ luật Hình sự 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Xử phạt bị cáo Đặng Bửng H 09 (chín) tháng tù về tội “Đánh bạc” nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 01 (một) năm 06 (sáu) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo Đặng Bửng H cho Ủy ban nhân dân Phường A, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trong trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật thi hành án hình sự năm 2019.
Trong thời gian thử thách, bị cáo Đặng Bửng H được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 (hai) lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo H phải chấp hành hình phạt tù của bản án.
Tiếp tục duy trì Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú số: 17/2024/HSST-LCĐKNCT ngày 15/5/2024 của Tòa án nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh cho đến khi bị cáo H chấp hành án.
Căn cứ Khoản 1 Điều 321; điểm i, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Điều 50; Khoản 1, Khoản 2 Điều 65 Bộ luật Hình sự 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Xử phạt bị cáo Trần Thị Thùy K 09 (chín) tháng tù về tội “Đánh bạc” nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 01 (một) năm 06 (sáu) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo Trần Thị Thùy K cho Ủy ban nhân dân Phường A, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trong trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật thi hành án hình sự năm 2019.
Trong thời gian thử thách, bị cáo Trần Thị Thùy K được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 (hai) lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo K phải chấp hành hình phạt tù của bản án.
Tiếp tục duy trì Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú số: 18/2024/HSST-LCĐKNCT ngày 15/5/2024 của Tòa án nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh cho đến khi bị cáo Kim chấp h án.
Căn cứ điểm b, c Khoản 1, Khoản 2 Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017); điểm a Khoản 2; điểm b Khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015.
Tịch thu sung ngân sách nhà nước:
01 (một) điện thoại di động Iphone XS Max, màu vàng, dung lượng 64GB, số Imeil: 353093102740576, số Imei2: 353093102564364 (đã qua sử dụng); 01 (một) điện thoại di động Iphone XS Max, màu vàng, dung lượng 64GB, số Imeil: 353105104422092, số Imei2: 353105104284781 (đã qua sử dụng); 01 (một) điện thoại di động Iphone 14 Promax màu tím, dung lượng 256GB, số Imei1: 355102 568902154, số Imei2: 355012510256015; 01 (một) máy tính hiệu Casio; số tiền 10.250.000 đồng (mười triệu hai trăm năm mươi nghìn đồng).
Tịch thu tiêu hủy:
01 (một) cây bút bi màu đỏ (đã qua sử dụng); 03 (ba) cây bút bi màu xanh (đã qua sử dụng).
Trả lại cho bị cáo Đặng Bửng H:
01 (một) chiếc xe mô tô không biển số, số khung: 208482, số máy: 0539887.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 07 tháng 5 năm 2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh; Giấy nộp tiền vào tài khoản số 3949.0.9061559.00000 của Công an Q tại Kho bạc Nhà nước Q, do Phạm Chí B nộp) .
Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội; Luật phí và lệ phí.
Mỗi bị cáo chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Các bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
(Đã giải thích chế định án treo cho các bị cáo).
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lâm Thanh Tiền |
Bản án số 66/2024/HS-ST ngày 14/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 5 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về hình sự sơ thẩm (đánh bạc)
- Số bản án: 66/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Đánh bạc)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 14/06/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 5 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Đặng T- Đánh bạc
