Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN THỚI LAI

THÀNH PHỐ CẦN THƠ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 66/2024/HNGĐ-ST

Ngày 13 - 6 - 2024

“V/v tranh chấp ly hôn, nuôi dưỡng con chung”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỚI LAI, THÀNH PHỐ CẦN THƠ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Tuấn Kiệt

Các Hội thẩm nhân dân.

  1. Ông Lê Hoàng Long.
  2. Ông Lý Văn Til.

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Võ Tường Vy – Cán bộ Tòa án nhân dân huyện Thới Lai, thành phố Cần Thơ.

Trong ngày 13 tháng 6 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thới Lai, thành phố Cần Thơ xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 54/2024/TLST-HNGĐ ngày 15 tháng 3 năm 2024 về tranh chấp “Ly hôn, nuôi dưỡng con chung" theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 257/2024/QĐXX-HNGĐ ngày 02 tháng 5 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 301/2024/QĐST ngày 23 tháng 5 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ông Huỳnh Văn D, sinh năm 1990. Có đơn xin xét xử vắng mặt.

Trú tại: ấp Đ T, xã Đ Th, huyện Thới Lai, TP Cần Thơ.

- Bị đơn: Bà Phạm Đình G, sinh năm 1986. Vắng mặt

Trú tại: ấp Đ T, xã Đ Th, huyện Thới Lai, TP Cần Thơ.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và trình bày của các đương sự, vụ án được tóm tắt như sau:

Ông Huỳnh Văn D với bà Phạm Đình G tự nguyện tìm hiểu rồi tiến tới hôn nhân, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Đ Th, huyện Thới Lai vào ngày 27/12/2010. Thời gian đầu vợ chồng chung sống với nhau có 02 con chung là là Huỳnh Phạm Ngọc Giàu, sinh ngày 01/9/2011 (nữ); Huỳnh Phạm Gia Huy, sinh ngày 09/02/2015 (nam). Thời gian sau thì vợ chồng phát sinh mâu thuẩn do bất đồng quan điểm trong cuộc sống, vợ chồng thường xuyên cải nhau, ông đã đã tìm cách hàn gắn nhưng vẫn không có kết quả. Nay ông khởi kiện yêu cầu như sau:

- Về hôn nhân: Yêu cầu ly hôn với bà Phạm Đình G.

- Về con chung: có 02 con chung là Huỳnh Phạm Ngọc Giàu, sinh ngày 01/9/2011 (nữ); Huỳnh Phạm Gia Huy, sinh ngày 09/02/2015 (nam). Hiện tại bà G đang nuôi dưỡng, ông đồng ý để cho bà G tiếp tục nuôi dưỡng đến trưởng thành, ông không phải cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: Ông D xác định không có.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ pháp luật: Ông Huỳnh Văn D khởi kiện xin ly hôn với bà Phạm Đình G nên xác định đây là vụ án hôn nhân và gia đình; bị đơn cư trú tại ấp Đ T, xã Đ Th, huyện Thới Lai nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân huyện Thới Lai quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn đã được Tòa án tống đạt giấy triệu tập lần thứ hai để tham dự phiên tòa nhưng vẫn vắng mặt nên Tòa án xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định tại Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[3] Về quan hệ hôn nhân: Ông D và bà G tự nguyện tiến tới hôn nhân, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Đ Th, huyện Thới Lai, TP Cần Thơ nên xác định đây là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật công nhận và bảo vệ.

Hội đồng xét xử nhận thấy: Nguyên tắc của hôn nhân phải được xây dựng trên cơ sở tự nguyện, tiến bộ, xây dựng gia đình ấm no hạnh phúc; các thành viên trong gia đình có nghĩa vụ tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau. Xét ông D trình bày, do chung sống nhưng cả hai đều không có tiếng nói chung, không quan tâm chăm sóc nhau, vợ chồng thường xuyên cải nhau, ông D cũng đã tìm cách hàn gắn nhưng vẫn không có kết quả, sau đó bà G bỏ về bên cha mẹ ruột và dẫn theo hai con. Phía bà G đã được Tòa án tống đạt các văn bản tố tụng, triệu tập xét xử nhưng vẫn vắng mặt không lý do, cho thấy giữa vợ chồng không còn thiết tha gì đến việc hàn gắn tình cảm. Qua đó thể hiện, mâu thuẫn gia đình của ông bà thật sự trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài. Nay ông D yêu cầu xin ly hôn với bà G là có căn cứ nên được chấp nhận theo quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình.

[4] Về con chung: có 02 con chung là Huỳnh Phạm Ngọc Giàu, sinh ngày 01/9/2011 (nữ); Huỳnh Phạm Gia Huy, sinh ngày 09/02/2015 (nam). Hiện tại bà G nuôi dưỡng, ông D đồng ý để cho bà G tiếp tục nuôi dưỡng đến trưởng thành, ông D không phải cấp dưỡng nuôi con. Do bà G vắng mặt, không có trình bày gì về việc cấp dưỡng nuôi con nên Tòa án không đặt ra xem xét giải quyết.

[5] Về tài sản chung, nợ chung: Ông D xác định không có nên không đặt ra xem xét giải quyết.

[7] Về án phí: Ông D phải chịu án phí theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

  • Các Điều 51, 56, 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;
  • Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, 227, 228, 266, 271, 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự;
  • Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Huỳnh Văn D. Ông Huỳnh Văn D được ly hôn với bà Phạm Đình G.
  2. Về con chung: có 02 con chung là Huỳnh Phạm Ngọc Giàu, sinh ngày 01/9/2011 (nữ); Huỳnh Phạm Gia Huy, sinh ngày 09/02/2015 (nam). G các con cho bà G trực tiếp nuôi dưỡng đến trưởng thành, ông D không phải cấp dưỡng nuôi con.

    Dành quyền thăm nom con chung cho ông D theo quy định của pháp luật, không ai được quyền cản trở ông D thực hiện quyền này.

    Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con.

  3. Về tài sản chung, nợ chung: Ông D xác định không có nên không đặt ra xem xét giải quyết.
  4. Về án phí sơ thẩm: Ông Huỳnh Văn D phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng), được trừ vào tiền tạm ứng án phí ông D đã nộp theo biên lai thu số 0007556 ngày 07/3/2024 (ông D đã thực hiện xong).
  5. Về quyền kháng cáo: Trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án nguyên đơn được quyền kháng cáo; kể từ ngày bị đơn nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định để yêu cầu xét xử lại vụ án theo thủ tục phúc thẩm.
  6. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Đương sự;
  • - VKSND H. Thới Lai;
  • - Chi cục THADS H. Thới Lai;
  • - TAND TP. Cần Thơ;
  • - UBND xã Đông Thuận;
  • - Lưu hồ sơ vụ án

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Bùi Tuấn Kiệt

HỘI THẨM NHÂN DÂN

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lý Văn Til

Nguyễn Văn Đen

Bùi Tuấn Kiệt

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 66/2024/HNGĐ-ST ngày 13/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỚI LAI, THÀNH PHỐ CẦN THƠ về tranh chấp ly hôn, nuôi dưỡng con chung

  • Số bản án: 66/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, nuôi dưỡng con chung
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 13/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỚI LAI, THÀNH PHỐ CẦN THƠ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger