|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG KHÁNH TỈNH ĐỒNG NAI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số:66/2024/HSST Ngày: 13-05-2024. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG KHÁNH TỈNH ĐỒNG NAI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán-Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hải Yến
- Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Vũ Văn Thăng
2. Ông Bùi Khánh Nam
- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Ông Nguyễn Quang Trực - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Long Khánh, tỉnh Đồng Nai.
- Đại diện Viện KSND Thành phố L tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn C - Kiểm sát viên.
Ngày 13/5/2024 tại hội trường A Tòa án nhân dân thành phố Long Khánh, tỉnh Đồng Nai mở phiên tòa xét xử sơ thẩm, trực tuyến công khai vụ án hình sự thụ lý số: 75/2024/TLST-HS ngày 17/4/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 62/2024/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 5 năm 2024 đối với bị cáo:
Trần Văn T; sinh năm 1980: Nơi sinh: Đồng Nai; Giới tính: Nam; Nơi cư trú: 23, T, tổ B, khu phố A, phường X, thành phố L, tỉnh Đồng Nai; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Phật; nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 12/12; Con ông: Trần Văn M (chết) và bà: Bùi Thị Thu H, sinh năm 1958, mất ngày 01/5/2024; Bị cáo có 01 người em sinh năm 1983; Vợ: Vũ Thị T1, sinh năm 1981; có 03 người con, lớn nhất sinh năm 2004, nhỏ nhất sinh năm 2009; Tiền án, tiền sự. Không
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Bắt bị can để tạm giam” từ ngày 28/01/2024 cho đến nay tại nhà tạm giữ Công an thành phố L.
* Người bị hại:
- Anh Lê Vũ Khải H1, sinh năm 1991 (Có mặt)
- Anh Nguyễn T2, sinh năm 1981 (Vắng mặt)
- Anh Nguyễn Trọng L, sinh năm 1980 (Vắng mặt)
Địa chỉ: 130/6, Nguyễn Tri P, khu phố D, phường X, thành phố L, tỉnh Đồng Nai.
Địa chỉ: B, Hồ Thị H2, khu phố E, phường X, thành phố L, tỉnh Đồng Nai.
Địa chỉ: khu phố E, phường X, thành phố L, tỉnh Đồng Nai.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Anh Võ Công N, sinh năm 1984 (Có mặt)
- Anh Phan Huy H3, sinh năm 1985 (Vắng mặt)
Địa chỉ: B, N, khu phố B, phường X, thành phố L, tỉnh Đồng Nai.
Địa chỉ: E, Nguyễn Trung T3, khu phố A, phường X, thành phố L, tỉnh Đồng Nai.
* Người làm chứng: anh Nguyễn Vĩnh S, sinh năm 1997 (Vắng mặt).
Địa chỉ: khu phố B, phường B, thành phố L, tỉnh Đồng Nai.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Trần Văn T là đối tượng không có công việc làm ổn định để có tiền tiêu xài, trong thời gian từ ngày 16/11/2023 đến ngày 22/11/2023, T đã thực hiện 04 vụ trộm cắp tài sản tại phường X, TP ., Đồng Nai như sau:
Vụ thứ nhất: Vào khoảng 7 giờ 00 phút ngày 16/11/2023, T đến cửa hàng mua bán, sửa chữa máy tính H2K, tại khu phố D, phường X, thành phố L do anh Lê Vũ Khải H1 làm chủ để giả vờ hỏi mua máy tính xách tay. Lợi dụng sơ hở của anh H1, T đã lén lút lấy trộm 01 máy tính xách nhãn hiệu ASUS Notebook UX 425E, màu đen cất giấu vào trong người và bỏ đi. Sau đó, T mang máy tính xách tay trên bán cho anh Phan Huy H3, sinh năm 1985, chủ cửa hàng mua bán, sửa chữa điện thoại di động Huy Hiệp được số tiền 1.000.000 đồng và tiêu xài cá nhân hết số tiền trên.
Vụ thứ hai: Vào khoảng 07 giờ 45 phút ngày 19/11/2023, T tiếp tục đến cửa hàng mua bán, sửa chữa máy tính H2K để giả vờ hỏi mua máy tính xách tay. Lợi dụng lúc anh H1 không để ý, T đã lén lút lấy trộm cắp 01 máy tính xách tay nhãn hiệu ASUS, Notebook UX 430, màu xanh - đen bỏ vào trong người chuẩn bị bỏ đi. Cùng lúc này, anh H1 phát hiện được sự việc và đề nghị T trả lại tài sản rồi đuổi T đi.
Vụ thứ ba: Vào khoảng hơn 08 giờ sáng ngày 19/11/2023, T đi đến cửa hàng mua bán, sửa chữa điện thoại Hoàng T4 tại số B đường H, khu phố E, phường X, L do anh Nguyễn T2 làm chủ. Tại đây, T giả vờ hỏi mua điện thoại và đã được nhân viên của cửa hàng là anh Nguyễn Vĩnh S lấy từ trong hộc tủ trưng bày của cửa hàng 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo A74 màu xanh bạc để giới thiệu. Lúc này, tại cửa hàng có rất đông khách ra vào nên anh S đưa điện thoại cho T xem và qua tư vấn bán, sửa chữa điện thoại cho các khách hàng khác. Lợi dụng lúc không ai để ý nên T đã chiếm đoạt điện thoại di động trên, lén lút bỏ đi. Sau khi lấy trộm được tài sản thì T đã đem đến bán cho anh Phan Huy H3, chủ cửa hàng mua bán, sửa chữa điện thoại di động Huy Hiệp được số tiền 1.200.000 đồng và đã tiêu xài cá nhân hết số tiền trên.
Vụ thứ tư: Vào khoảng 11 giờ 05 phút ngày 22/11/2023, T đi đến cửa hàng mua, bán sửa chữa máy tính Bách Khoa, thuộc khu phố E, phường X, thành phố L, do anh Nguyễn Trọng L làm chủ. Lợi dụng cửa hàng lúc này không có ai trong coi, T đã lén lút trộm cắp 01 máy tính xách tay nhãn hiệu ASUS 453M, màu đen rồi nhanh chóng rời đi. Sau đó, T đã mang máy tính xách tay trộm cắp được, bán cho anh Võ Công N được số tiền 800.000 đồng và tiêu xài cá nhân hết số tiền trên.
Ngày 24/11/2023, anh Nguyễn T2 phát hiện bị mất trộm tài sản nên đã trình báo đến Công an phường X, thành phố L.
Tại bản kết luận định giá tài sản số 127/HĐĐGTSTTTHS ngày 04/12/2023, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố L kết luận:
- - Một điện thoại hiệu Oppo A74, màu xanh bạc, điện thoại đã qua sử dụng, thời điểm ngày 19/11/2023 có giá trị là 2.800.000 đồng.
- - Một máy tính xách tay hiệu A UX.245E, màu đen, đã qua sử dụng thời điểm ngày 16/11/2023, có giá trị là 6.100.000 đồng.
- - Một máy tính xách tay hiệu A UX.430, màu xanh đen, đã qua sử dụng thời điểm ngày 19/11/2023, có giá trị là 3.100.000 đồng.
- - Một máy tính xách tay hiệu Asus 453 M, màu đen, đã qua sử dụng thời điểm ngày 22/11/2023, có giá trị là 1.100.000 đồng.
Vật chứng thu giữ và xử lý:
Đối với 01 máy tính xách tay nhãn hiệu ASUS Notebook UX 425E, màu đen và 01 máy tính xách tay nhãn hiệu ASUS Notebook UX 430, màu xanh đen đã thu giữ, qua điều tra đã xác định được đây là tài sản hợp pháp của anh Lê Vũ Khai H4; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo A74, màu xanh bạc qua điều tra xác định được đây là tài sản hợp pháp của anh Nguyễn T2; 01 máy tính xách tay nhãn hiệu ASUS 453M, màu đen qua điều tra xác định được đây là tài sản hợp pháp của anh Nguyễn Trọng L, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố L đã trả lại cho anh H4, anh T2 và anh L.
03 đoạn clip camera an ninh ghi nhận hình ảnh T thực hiện hành vi trộm cắp tài sản được lưu vào trong 01 đĩa VCD lưu kèm hồ sơ vụ án.
Về dân sự: Anh Phan Huy H3 yêu cầu bị cáo trả lại số tiền 1.200.000 đồng, anh Võ Công N yêu cầu bị cáo trả lại số tiền 800.000 đồng.
Tại bản cáo trạng số 73/CT-VKSLK ngày 17/4/2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Khánh truy tố bị cáo Trần Văn Tâm về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1, Điều 173 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tại phiên toà, anh N không yêu cầu bị cáo trả lại số tiền 800.000đ (Tám trăm ngàn đồng) nên ghi nhận.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố, xét xử bị cáo Trần Văn T về tội “Trộm cắp tài sản” và đề nghị áp dụng khoản 1, Điều 173, điểm s, khoản 1 Điều 51, điểm g, khoản 1, Điều 52 - BLHS”, xử phạt
bị cáo từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù. Buộc bị cáo bồi thường cho anh H3 số tiền 2.200.000₫ (Hai triệu hai trăm ngàn đồng).
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra công an thành phố L, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Khánh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Bị cáo khẳng định khai báo tự nguyện, không ai ép buộc. Do đó các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa bị cáo T khai nhận trong thời gian từ ngày 16/11/2023 đến ngày 22/11/2023, T đã thực hiện 04 vụ trộm cắp tài sản tại phường X, TP ., Đồng Nai. Giá trị tài sản bị chiếm đoạt qua định giá cụ thể điện thoại hiệu Oppo A74, màu xanh bạc, điện thoại đã qua sử dụng, có giá trị là 2.800.000 đồng; máy tính xách tay hiệu Asus Notebook UX.245E, màu đen, đã qua sử dụng, có giá trị là 6.100.000 đồng; máy tính xách tay hiệu Asus Notebook UX.430, màu xanh đen, đã qua sử dụng, có giá trị là 3.100.000 đồng; máy tính xách tay hiệu Asus 453M, màu đen, đã qua sử dụng, có giá trị là 1.100.000 đổng. Tổng giá trị là 13.100.000₫ (Mười ba triệu một trăm ngàn đồng).
Cáo trạng truy tố bị cáo Trần Văn T phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1, Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 là đúng người, đúng tội và đúng quy định của pháp luật.
[3] Bị cáo là thanh niên đã trưởng thành, có trình độ nhưng lười lao động. Để có tiền thoã mãn nhu cầu tiêu xài cá nhân đã nhiều lần trộm cắp tài sản. Hành vi của bị cáo gây nguy hiểm cho xã hội, ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương, xâm phạm đến tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ nên cần phạt tù để bị cáo rèn luyện bản thân, sống biết tuân thủ pháp luật.
[4] Tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1, Điều 51 của Bộ luật hình sự. Bị cáo phạm tội nhiều lần được quy định tại điểm g, khoản 1, Điều 52 – BLHS.
[5] Về vật chứng: Đã trả lại cho người bị hại và người bị hại không yêu cầu gì khác.
[6] Về dân sự: Buộc bị cáo trả lại số tiền 2.200.000đ (Hai triệu hai trăm ngàn đồng) cho anh Phan Huy H3.
[7] Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000₫ (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) án phí DSST.
[8] Quan điểm của Viện kiểm sát thành phố L phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào khoản 1, Điều 173, điểm s, khoản 1, Điều 51, điểm g, khoản 1, Điều 52 BLHS năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017; Áp dụng Điều 589 BLDS năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án
Tuyên bố: Bị cáo Trần Văn T phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.
Xử phạt bị cáo Trần Văn T 01 (một) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 28/01/2024.
Về vật chứng: Đã trả lại cho chủ sở hữu và không có yêu cầu gì khác.
Về dân sự: Buộc bị cáo trả lại số tiền 2.200.000đ (Hai triệu hai trăm ngàn đồng) cho anh Phan Huy H3.
Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000đ (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) án phí DSST.
Bị cáo, người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày tính từ ngày tuyên án. Riêng người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt kể từ ngày nhận được bản án hợp lệ./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán-chủ tọa phiên tòa Nguyễn Thị Hải Yến |
Bản án số 66/2024/HSST ngày 13/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG KHÁNH TỈNH ĐỒNG NAI về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 66/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 13/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG KHÁNH TỈNH ĐỒNG NAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trần Văn T trộm cắp tài sản
