|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG BÌNH Bản án số: 66/2024/HS-PT Ngày: 10 - 9 - 2024 |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Dương Viết Hải
Các Thẩm phán: Ông Võ Bá Lưu và bà Từ Thị Hải Dương.
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Thúy Hằng - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Bình tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Bích Đào - Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 9 năm 2024, Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Bình mở phiên toà xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 95/2024/TLPT-HS ngày 16 tháng 8 năm 2024, đối với bị cáo Trần Tiến Đ, do có kháng cáo của bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số 26/2024/HS-ST ngày 08/7/2024 của Toà án nhân dân huyện Tuyên Hóa, tỉnh Quảng Bình.
Bị cáo có kháng cáo: Trần Tiến Đ, sinh ngày 20 tháng 12 tháng 2004 tại huyện T, tỉnh Quảng Bình; nơi cư trú: Thôn Đ, xã T, huyện T, tỉnh Quảng Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: lớp 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Xuân H và bà Hoàng Thị H1; tiền án, tiền sự: không. Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện T từ ngày 24/12/2023 cho đến nay, có mặt theo lệnh trích xuất.
Ngoài ra trong vụ án còn có các bị cáo Đinh Văn T, Đinh Hải N, Cao Phúc L, Nguyễn Duy N1; người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Anh Cao Đình C, chị Đinh Thị T1; người làm chứng chị Lê Thị Kim O, anh Trần Anh T2 nhưng không có kháng cáo, kháng nghị; kháng cáo của bị cáo không liên quan đến những người này nên Tòa án không triệu tập đến phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo bản án sơ thẩm và các tài liệu có trong hồ sơ, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 19 giờ 30 phút, ngày 23/12/2023, Đinh Văn T, Cao Phúc L, Đinh Hải N, cùng trú tại thôn Y, xã L, huyện T, tỉnh Quảng Bình; Nguyễn Duy N1, Trần Anh T2 (sinh năm 2007) cùng trú tại xã K, huyện T, tỉnh Quảng Bình và Trần Tiến Đ trú tại Thôn Đ, xã T, huyện T, tỉnh Quảng Bình, ngồi ăn nhậu tại quán “Mỳ cay" của ông Trần Xuân L1, trú tại T, thị trấn Đ, huyện T, tỉnh Quảng Bình. Quá trình ngồi nhậu, T hỏi Đ có biết chỗ nào bán ma tuý thì mua về cùng nhau sử dụng, Đ đồng ý. Sau đó, T đưa cho Đ số tiền 400.000 đồng (Bốn trăm nghìn đồng), Đ rủ N cùng đi mua ma tuý, N đồng ý. Đ mượn xe mô tô, biển kiểm soát: 95B1-729.03 của L và Nam mượn điện thoại di động IPHONE 7 PLUS của T để Đ dùng liên lạc mua ma tuý. Đ điều khiển xe mô tô chở N đến gần nhà thờ giáo xứ T3 ở xã Đ, huyện T dừng lại rồi đưa 400.000 đồng cho N, Đ dùng điện thoại của T gọi vào số điện thoại: 0822.821.xxx của một người đàn ông không biết tên, tuổi, địa chỉ cụ thể hỏi mua ma tuý, người đàn ông này bảo đến gần cổng UBND xã Đ. Khi đến, N đưa cho người đàn ông này số tiền 400.000 đồng rồi đi đến lấy một khẩu trang màu trắng, bên trong có chứa 04 (Bốn) viên ma tuý, loại hồng phiến bỏ dưới đất theo hướng dẫn của người đàn ông trên. Sau khi mua được ma túy, Đ điều khiển xe chở N quay về, khi đến đoạn gần nhà thờ giáo xứ T3 thuộc địa phận xã Đ thì Đ dừng xe lại. N mở khẩu trang ra kiểm tra thấy bên trong có bốn viên ma túy, loại hồng phiến, Đ nói “Lấy ra cho tau một viên ma túy”, N lấy ra đưa cho Đ bỏ viên ma túy trong gói thuốc “SÀI GÒN” rồi Đ cất giấu vào túi áo khoác bên trái đang mặc trên người, ba viên ma tuý còn lại, Nam gói lại như cũ rồi đưa cho Đ. Sau đó, N điều khiển xe mô tô chở Đ quay lại quán Mỳ cay, Đ đưa khẩu trang màu trắng, bên trong chứa 03 (Ba) viên ma tuý, loại hồng phiến cho T (T không biết việc N và Đ cất giấu 01 viên ma túy). Nhậu được một lúc T rủ mọi người cùng đi sử dụng ma tuý thì Đ, N, L, N1 và T2 đồng ý. Tiếp đó, L rủ mọi người đến nhà bỏ hoang ở Tiểu khu L, thị trấn Đ, huyện T, tỉnh Quảng Bình để sử dụng ma túy. Năng điều khiển xe mô tô, biển kiểm soát: 95B1-729.03 chở Đ, T và L, L ngồi sau chỉ đường cho N1. Khi đến nhà hoang thì Đ, T và L vào trước, còn N1 quay lại chở N, sau đó quay lại chở Trần Anh T2 và Lê Thị Kim O. Khi Đ, T và L vào trong nhà vệ sinh của nhà hoang thấy có một chai nhựa, trên thân chai có đục lỗ gắn một tờ tiền 1.000 đồng (Một nghìn đồng) được quấn tròn, do tờ tiền bị ướt T dùng bật lửa hong khô rồi quấn tròn gắn vào lỗ. Tiếp đó, Đ lấy một chai nước lọc nhãn hiệu: Aquafina đổ nước vào chai nhựa; T lấy khẩu trang có chứa 03 (Ba) viên ma tuý, loại hồng phiến lấy ra 01 (Một) viên, gói vào giấy bạc dùng bật lửa đốt và hút trước, rồi đưa cho Đ và L cùng hút. Tiếp đó, N đi vào và sử dụng ma tuý cùng với T, Đ và L. Một lúc sau, N1 chở T2 và Lê Thị Kim O, sinh năm 2008, trú tại tiểu khu Đ, thị trấn Đ, huyện T, tỉnh Quảng Bình đến. N1 và T2 vào cùng tham gia sử dụng ma tuý, còn O ngồi ngoài cửa không sử dụng. Đến khoảng 23 giờ 30 phút cùng ngày thì bị lực lượng Công an thị trấn Đ, huyện T bắt quả tang, thu giữ tang vật gồm: 01 viên ma túy loại hồng phiến trên nền nhà vệ sinh; 01 viên ma túy hồng phiến trong túi áo khoác bên trái đang mặc trên người của Trần Tiến Đ cùng các tang vật liên quan.
Tại bản kết luận giám định số: 43/KL-KTHS ngày 29/12/2023 của Phòng KTHS Công an tỉnh Q, kết luận: Mẫu ký hiệu A1, thu giữ tại nền nhà vệ sinh một viên nén hình tròn là chất ma tuý, loại Methamphetamine, có khối lượng 0,097 gam thu giữ của Đinh Văn T. Mẫu ký hiệu A2, thu giữ trong túi áo khoác đang mặc trên người Trần Tiến Đ một viên nén hình tròn là chất ma tuý, loại Methamphetamine, có khối lượng 0,1 gam. Tổng khối lượng mà Trần Tiến Đ và Đinh Hải N tàng trữ trái phép chất ma tuý là: 0,097 gam + 0,1 gam =0,197 gam.
Tại Bản án hình sự số 26/2024/HS-ST ngày 08/7/2024 của Toà án nhân dân huyện Tuyên Hóa, tỉnh Quảng Bình đã quyết định tuyên bố các bị cáo Đinh Văn T, Cao Phúc L và Nguyễn Duy N1 phạm tội "Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý” ; các bị cáo Trần Tiến Đ, Đinh Hải N phạm tội "Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý” và “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Về điều luật áp dụng và hình phạt:
Áp dụng các điểm b, c khoản 2 Điều 255, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 17, 38, 58 của Bộ luật hình sự đối với các bị cáo Đinh Văn T, Cao Phúc L và Nguyễn Duy N1, xử phạt bị cáo Đinh Văn T 08 năm tù, Cao Phúc L 07 năm 03 tháng tù, Nguyễn Duy N1 07 năm 03 tháng tù.
Áp dụng các điểm b, c khoản 2 Điều 255, điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 17, 38, 55, 58 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo Trần Tiến Đ và Đinh Hải N, áp dụng thêm điểm điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 56 đối với bị cáo Đinh Hải N xử phạt bị cáo Trần Tiến Đ 07 năm 06 tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và 13 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Tổng hợp hình phạt buộc bị cáo Đ phải chấp hành hình phạt chung của hai tội là 08 năm 07 tháng tù. Xử phạt bị cáo Đinh Hải N 08 năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và 13 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Tổng hợp hình phạt buộc bị cáo N phải chấp hành hình phạt chung của hai tội là 09 năm 01 tháng tù.
Ngoài ra bản án còn tuyên về xử lý vật chứng vụ án, tuyên buộc các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và tuyên quyền kháng cáo cho các bị cáo.
Trong hạn luật định, ngày 19/7/2024, bị cáo Trần Tiến Đ kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt để bị cáo có cơ hội sửa chữa sai lầm, bị cáo là lao động chính trong gia đình, bố mẹ già yếu.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo giữ nguyên đơn kháng cáo cho rằng hình phạt cấp sơ thẩm áp dụng là quá nặng nên xin HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo được sớm trở về với gia đình và xã hội.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Bình phát biểu quan điểm:
Về tố tụng: Những người tiến hành tố tụng và bị cáo đã tuân thủ đúng, đầy đủ các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.
Về nội dung: Tại phiên tòa sơ thẩm, Hội đồng xét xử sơ thẩm đã xem xét quyết định về tội danh, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đặc điểm nhân thân và hình phạt đối với bị cáo Đ là có căn cứ, phù hợp với tính chất, mức độ, hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện. Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo không cung cấp thêm tài liệu, chứng cứ mới có ý nghĩa cho việc xem xét giảm nhẹ hình phạt. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 355 và Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự. Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo. Giữ nguyên mức hình phạt đối với bị cáo Trần Tiến Đ tại Bản án hình sự sơ thẩm số 26/2024/HS-ST ngày 08/7/2024 của Tòa án nhân dân huyện Tuyên Hóa, tỉnh Quảng Bình. Kháng cáo của bị cáo không được chấp nhận, nên phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Ngày 08/7/2024, Tòa án nhân dân huyện Tuyên Hóa, tỉnh Quảng Bình xét xử vụ án. Ngày 19/7/2024 bị cáo Trần Tiến Đ làm đơn kháng cáo. Đơn kháng cáo của bị cáo làm trong hạn luật định, đảm bảo về người kháng cáo, hình thức, nội dung kháng cáo theo quy định tại các Điều 331, 332, 333 của Bộ luật tố tụng hình sự. Vì vậy, Hội đồng xét xử phúc thẩm xem xét nội dung kháng cáo của bị cáo theo trình tự, thủ tục phúc thẩm.
Sau khi xét xử sơ thẩm, các bị cáo Đinh Văn T, Đinh Hải N, Cao Phúc L, Nguyễn Duy N1 không kháng cáo, Viện kiểm sát không kháng nghị. Bản án hình sự sơ thẩm đối với các bị cáo T, L, N1 và N đã có hiệu lực pháp luật. Do đó, phần bản án hình sự sơ thẩm đối với các bị cáo T, L, N1 và N có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
[2] Về tội danh: Tại phiên tòa, bị cáo Trần Tiến Đ khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện, đúng như nội dung bản Cáo trạng và bản án sơ thẩm đã quyết định. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của các bị cáo Đinh Văn T, Đinh Hải N, Cao Phúc L, Nguyễn Duy N1, biên bản bắt người phạm tội quả tang, lời khai của những người liên quan, tang vật bị thu giữ, cũng như các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử có cơ sở kết luận: Khoảng 19 giờ 30 phút, ngày 23/12/2023 khi cả nhóm gồm Đinh Văn T, Cao Phúc L, Đinh Hải N, Nguyễn Duy N1, Trần Anh T2 (sinh năm 2007) và Trần Tiến Đ ngồi ăn nhậu tại quán “Mỳ cay” của ông Trần Xuân L1. T đã rủ cả nhóm cùng sử dụng ma túy và đưa 400.000 đồng cho Đ đi mua ma túy, Đặt rủ N đi mua ma túy cùng về sử dụng, cả nhóm đều đồng ý. Đ, N đi mua được 04 viên ma túy hồng phiến, nhưng đã cố ý cất giấu bớt 01 viên để sử dụng riêng, còn 03 viên đưa về cho T để cả nhóm sử dụng. Quá trình sử dụng ma túy T là người khởi xướng, rủ rê đưa tiền cho Đ và N đi mua ma túy, Đ là người chuẩn bị công cụ, L là người tìm địa điểm, N1 là người chuyên chở mọi người đến địa điểm sử dụng ma túy, trong nhóm sử dụng ma túy có Trần Anh T2, sinh năm 2007 (người dưới 18 tuổi). Khi cả nhóm đang sử dụng ma túy thì bị lực lượng công an phát hiện bắt quả tang, thu giữ 01 viên ma túy loại Methamphetamine, có khối lượng 0,097 gam tại địa điểm các bị cáo sử dụng và thu giữ 01 viên ma túy loại Methamphetamine, có khối lượng 0,1 gam trong túi áo khoác bên trái đang mặc trên người của Trần Tiến Đ đã cất giấu khi đi mua ma túy cho cả nhóm sử dụng (việc này chỉ bị cáo và N biết, còn các bị cáo khác không biết), nên các bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo các điểm b, c khoản 2 Điều 255 BLHS; còn việc bị cáo và N cố ý cất giấu 01 viên ma túy loại Methamphetamine, có khối lượng 0,1 gam và 01 viên ma túy loại Methamphetamine, có khối lượng 0,097 gam thu giữ tại địa điểm các bị cáo sử dụng đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trử trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS. Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy. Ngoài ra, còn trực tiếp đe doạ nghiêm trọng đến sức khỏe và sự phát triển của bản thân, gây thiệt hại về kinh tế cho gia đình và làm ảnh hưởng đến an ninh trật tự trị an. Vì vậy, Hội đồng xét xử sơ thẩm tuyên bố bị cáo Trần Tiến Đ phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại các điểm b, c khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự và phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3] Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Trần Tiến Đ, Hội đồng xét xử thấy:
Bị cáo không có tình tiết tăng nặng, quá trình điều tra và tại phiên tòa đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, phạm tội rất nghiêm trọng, trong một thời gian phạm hai tội. Hội đồng xét xử sơ thẩm đã áp dụng các Điều 17, 38 và điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 55, 58 Bộ luật hình sự đối với bị cáo để xử phạt bị cáo 07 năm 06 tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và 13 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chấy ma túy”. Tổng hợp hình phạt của hai tội. Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của hai tội là 08 năm 07 tháng tù là có căn cứ, phù hợp, tương xứng với mức độ, tính chất, vai trò của bị cáo khi thực hiện hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và đặc điểm nhân thân của bị cáo. Trong quá trình xét xử phúc thẩm và tại phiên tòa bị cáo không cung cấp thêm tài liệu, chứng cứ mới có ý nghĩa cho việc xem xét giảm nhẹ hình phạt, nên không có căn cứ xem xét giảm nhẹ hình phạt đối với bị cáo. Vì vậy, Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355 và Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự. Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trần Tiến Đ. Giữ nguyên bản án sơ thẩm đối với bị cáo Đ về phần hình phạt.
[4] Về án phí: Kháng cáo của bị cáo không được cấp phúc thẩm chấp nhận, nên bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
[5] Các quyết định khác của án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 của Bộ luật tố tụng hình sự 2015; điểm b khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trần Tiến Đ, giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số 26/2024/HS-ST ngày 08/7/2024 của Toà án nhân dân huyện Tuyên Hóa, tỉnh Quảng Bình.
- Tuyên bố bị cáo Trần Tiến Đ phạm tội "Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý” và phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
Áp dụng các điểm b, c khoản 2 Điều 255; điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 17, 38, 55, 58 của Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Trần Tiến Đ 07 năm 06 tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và 13 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của hai tội là 08 năm 07 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam 24/12/2023.
Tiếp tục tạm giam bị cáo theo Quyết định tạm giam số 140/2024/HSPT-QĐTG ngày 19/8/2024 để đảm bảo thi hành án.
- Về án phí: Bị cáo Trần Tiến Đ phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm để nộp ngân sách nhà nước.
- Các quyết định khác của án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Dương Viết Hải |
Bản án số 66/2024/HS-PT ngày 10/09/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Bình về hình sự (tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý và tàng trữ trái phép chất ma tuý)
- Số bản án: 66/2024/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý và Tàng trữ trái phép chất ma tuý)
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 10/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Bình
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trần Tiến Đ, giữ nguyên bản án sơ thẩm
