|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TÂN CHÂU TỈNH AN GIANG |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh Phúc |
|
Bản án số: 66/2024/HS-ST Ngày 09 tháng 8 năm 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TÂN CHÂU, TỈNH AN GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thùy Dương
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Hồng Thuận và bà Phạm Thùy Trang
Thư ký phiên toà: Ông Ngô Tấn Bửu - Thư ký Toà án nhân dân thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Trần Tuyền Trinh - Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Ủy ban nhân dân xã V, thị xã T, tỉnh An Giang Tòa án nhân dân thị xã Tân Châu, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 40/2024/TLST-HS ngày 02 tháng 7 năm 2024, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 51/2024/QĐXXST- HS ngày 26 tháng 7 năm 2024, đối với bị cáo:
Trần Văn N Em (N), sinh ngày 10/10/1988, tại Đồng Tháp; nơi đăng ký thường trú (chỗ ở hiện nay): khóm A, phường A, thành phố H, tỉnh Đồng Tháp; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; đảng, đoàn: Không; con ông Trần Đình B (đã chết) và bà Huỳnh Thị Ngọc L (đã chết); tiền án: Không; tiền sự: Ngày 09/01/2024, bị cáo bị Toà án nhân dân thành phố Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp ra Quyết định đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời hạn 16 tháng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Ngày 31/5/2024, Giám đốc Cơ sở điều trị nghiện tỉnh Đồng Tháp ban hành Quyết định số 62/QĐ-CSĐTN về việc tạm đình chỉ thi hành Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc của Toà án nhân dân thành phố Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp đối với bị cáo Nu E; nhân thân: ngày 13/4/2017, bị cáo Tòa án nhân dân thị xã Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp xử phạt bị cáo 01 (một) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” (Bản án hình sự sơ thẩm số 12/2017/HS-ST), đã chấp hành xong. Ngày 19/11/2019, bị cáo bị Tòa án nhân dân thị xã Hồng Ngự (nay là thành phố H), tỉnh Đồng Tháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc 18 tháng và ngày 26/9/2022, bị cáo bị Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc 12 tháng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy; bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 30/5/2024 cho đến nay (có mặt).
Bị hại: Ông Dương Văn L1, sinh năm 1952; cư trú: Ấp V, xã C, thị xã T, tỉnh An Giang (có mặt).
Người làm chứng: Ngô Thanh D và Lý Văn H (đều vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do cần tiền tiêu xài, mua ma túy sử dụng, khoảng 13 giờ ngày 02/4/2024, bị cáo Trần Văn Nu E1 đi bộ đến khu vực bến đò “Kinh 5 Xã” thuộc ấp V, xã C, thị xã T, tỉnh An Giang, tìm tài sản lấy trộm, nhìn thấy dưới sàn nhà ông Dương Văn L1 có 03 bình xịt máy (loại bình xịt thuốc sâu) và 01 xe đạp, sàn nhà không khoá cửa, không có người trông giữ, bị cáo Nu E1 đột nhập, lấy trộm xe đạp và 01 bình xịt máy đem ra ngoài, chạy xe đạp đi tìm nơi tiêu thụ. Khi đến bến phà C thì bị Công an xã C nghi vấn, mời về làm việc. Qua làm việc, bị cáo Nu E1 khai nhận đã thực hiện hành vi trộm cắp tài sản như trên. Bị hại Dương Văn L1 phát hiện mất tài sản, đến cơ quan Công an xã C trình báo sự việc.
Ngày 27/5/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thị xã T, đã khởi tố, Trần Văn N Em về tội “Trộm cắp tài sản”.
Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật; xử lý vật chứng: 01 (một) máy bơm (máy phun thuốc trừ sâu) có nắp màu đỏ, nhãn hiệu MITSUBISHI TU26, đã qua sử dụng (đã trao trả cho bị hại); 01 (một) xe đạp khung sườn bằng kim loại, phía trước có rỗ bằng kim loại, yên xe màu xám, đã qua sử dụng (đã trao trả cho bị hại); 01 (một) quần lửng màu đen (đã qua sử dụng); 01 (một) nón kết vải màu đỏ (đã qua sử dụng); 01 (một) áo thun tay ngắn, màu trắng (đã qua sử dụng).
Kết luận định giá tài sản, số: 823/KL-HĐĐG.TTHS ngày 17 tháng 5 năm 2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thị xã T, tỉnh An Giang: Một máy bơm (máy phun thuốc trừ sâu) có nắp màu đỏ, nhãn hiệu MITSUBISHI TU 26, đã qua sử dụng trị giá: 2.200.000 đồng (hai triệu hai trăm nghìn đồng); một chiếc xe đạp sườn bằng kim loại, phía trước có rỗ bằng kim loại, yên xe màu xám, đã qua sử dụng có giá trị là 500.000 đồng (năm trăm nghìn đồng). Tổng giá trị tài sản là 2.700.000 đồng.
Kết quả khám nghiệm hiện trường và bản ảnh đã lưu giữ phù hợp với nội dung vụ án đã nêu trên.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Dương Văn L1 xác nhận đã nhận lại được tài sản bị chiếm đoạt, nay ông L1 không yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì khác.
Tại Cơ quan điều tra, bị cáo Nu E1 khai nhận phù hợp với nội dung vụ án đã nêu trên.
Trần Văn B1, Trần Văn V, S, Trương Thanh H1 Cáo trạng số: 42/CT-VKSTC ngày 02/7/2024, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang đã truy tố Nu E1 về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa sơ thẩm bị cáo Nu E1 vẫn khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng đã nêu trên, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
Bị hại giữ nguyên lời khai giai đoạn điều tra, về hình phạt bị hại đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết theo quy định của pháp luật, về phần trách nhiệm dân sự, bị hại không yêu cầu bị cáo bồi thường.
Người làm chứng vắng mặt nhưng quá trình điều tra đều khai nhận phù hợp với nội dung Cáo trạng đã nêu trên.
Đại diện Viện kiểm sát luận tội đối với bị cáo, giữ nguyên quyết định truy tố như Cáo trạng. Căn cứ vào tính chất, mức độ phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nu E1 từ 01 (một) năm 06 (sáu) tháng đến 02 (hai) năm tù. Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy: 01 (một) quần lửng màu đen (đã qua sử dụng); 01 (một) nón kết vải màu đỏ (đã qua sử dụng); 01 (một) áo thun tay ngắn, màu trắng (đã qua sử dụng).
Bị cáo Nu E1 không có tranh luận và bào chữa gì, chỉ xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt. Bị hại thống nhất theo quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng: - Đối với hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên và Kiểm sát viên đã thực hiện đều hợp pháp.
- Tại phiên tòa người làm chứng vắng mặt. Xét thấy, sự vắng mặt của họ không gây trở ngại đến việc xét xử của vụ án. Căn cứ Điều 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung.
[2] Về nội dung: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng đã nêu trên. Lời khai nhận tội của bị cáo là phù hợp với nhau, phù hợp lời khai của bị hại và người làm chứng về thời gian, địa điểm, thủ đoạn, mục đích, động cơ phạm tội và hậu quả do tội phạm gây ra, cùng các tang vật đã thu giữ, các tài liệu chứng cứ khác được thu thập khách quan đúng pháp luật có trong hồ sơ vụ án. Do đó có đủ căn cứ để kết luận:
Khoảng 13 giờ ngày 02/4/2024, dưới sàn nhà ông Dương Văn L1 bị cáo Trần Văn N Em có hành vi lấy trộm một máy bơm (máy phun thuốc trừ sâu) có nắp màu đỏ, nhãn hiệu MITSUBISHI TU 26, đã qua sử dụng trị giá: 2.200.000 đồng (hai triệu hai trăm nghìn đồng) và một chiếc xe đạp sườn bằng kim loại, phía trước có rỗ bằng kim loại, yên xe màu xám, đã qua sử dụng có giá trị là 500.000 đồng (năm trăm nghìn đồng). Tổng giá trị tài sản là 2.700.000 đồng.
Hành vi nêu trên của bị cáo Nu E1 đã phạm tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 có khung hình phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm (tội phạm ít nghiêm trọng).
[3] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác và trật tự công cộng, gây mất trật tự trị an và an toàn cho xã hội, làm quần chúng nhân dân lên án và bất bình.
[4] Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của tội phạm, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, Hội đồng xét xử nhận thấy:
Bị cáo Nu E1 là người đã thành niên, bản thân có sức khỏe và có hiểu biết nhất định về pháp luật nhưng không chịu tu dưỡng, rèn luyện để làm ăn chân chính và hướng thiện. Trong vụ án này, hành vi của bị cáo được thực hiện với lỗi cố ý, động cơ mục đích của tội phạm là chiếm đoạt được tài sản.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên toà bị cáo đã thành khẩn khai báo và thực sự ăn năn hối cải; bị cáo thuộc thành phần lao động, trình độ học vấn thấp nên nhận thức pháp luật có phần hạn chế. Đây là các tình tiết để giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Xét thấy: Trước khi phạm tội bị cáo Nu E1 là người có nhân thân xấu, đã bị Tòa án kết án về hành vi “Trộm cắp tài sản” và 02 lần bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”. Điều đáng nói, bị cáo Nu E1 đang trong thời gian chấp hành Quyết định đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời hạn 16 tháng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Tòa án nhân dân thành phố Hồng Ngự. Bị cáo lại tiếp tục thực hiện hành “Trộm cắp tài sản” với mục đích bán lấy tiền mua ma túy sử dụng. Điều đó chứng tỏ bị cáo không biết ăn năn hối cải để hoàn lương. Cần chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa để buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù một thời gian dài mới có tác dụng giáo dục cải tạo bị cáo trở thành người lương thiện, người công dân có ích cho xã hội.
[5] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 thì người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000đ đến 50.000.000đ. Xét thấy, bị cáo không có tài sản, nghề nghiệp và thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử quyết định miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
[6] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận được tài sản bị chiếm đoạt, nay không yêu cầu bồi thường gì khác, do đó Hội đồng xét xử không đặt ra để xem xét giải quyết tiếp.
[7] Về vật chứng: Đối với 01 (một) quần lửng màu đen (đã qua sử dụng); 01 (một) nón kết vải màu đỏ (đã qua sử dụng); 01 (một) áo thun tay ngắn, màu trắng (đã qua sử dụng) là tài sản cá nhân của bị cáo, bị cáo không yêu cầu nhận lại. Xét, tịch thu tiêu hủy.
[8] Về các vấn đề khác: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017
Tuyên bố bị cáo Trần Văn N Em phạm tội “Trộm cắp tài sản”
Xử phạt bị cáo Trần Văn N Em 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù; thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam (ngày 30/5/2024).
Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015: Tịch thu tiêu hủy 01 (một) quần lửng màu đen (đã qua sử dụng); 01 (một) nón kết vải màu đỏ (đã qua sử dụng); 01 (một) áo thun tay ngắn, màu trắng (đã qua sử dụng).
(Đặc điểm tang vật như Quyết định chuyển vật chứng ngày 02/7/2024).
Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án: Bị cáo Trần Văn Nu E1 phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
Căn cứ Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015: Bị cáo, bị hại có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên toà Nguyễn Thị Thùy Dương |
Bản án số 66/2024/HS-ST ngày 09/08/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TÂN CHÂU, TỈNH AN GIANG về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 66/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 09/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TÂN CHÂU, TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Nu có hành vi trộm cắp tài sản
