|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NAM ĐỊNH Bản án số: 66/HNGĐ-ST Ngày 8- 8 - 2024 V/v: “Ly hôn, nuôi con chung" |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NAM ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Bùi Văn Biền
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Trọng Đại;
Ông Phạm Anh Tuấn.
- Thư ký phiên tòa: ông Bùi Xuân Sơn - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Nam Định.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nam Định tham gia phiên toà: Bà Trần Thu Hà - Kiểm sát viên.
Ngày 08 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Nam Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 50/2024/TLST-HNGĐ ngày 07 tháng 02 năm 2024 về việc “Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 265/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 10 tháng 7 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1980;
Đăng ký hộ khẩu: Đội 13 thôn N, xã T, huyện T, tỉnh Hải Dương.
- Bị đơn: Anh Nguyễn Mạnh D, sinh năm 1978;
Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: số A T, phường T, thành phố N, tỉnh Nam Định.
Tại phiên tòa: chị Nguyễn Thị H vắng mặt, có đơn xin xử vắng mặt, anh nguyễn Mạnh D1 đã được triệu tập hợp lệ lần 2 nhưng vẫn vắng mặt không có lý do.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại đơn khởi kiện, bản tự khai nguyên đơn là chị Phạm T trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Nguyễn Mạnh D tự nguyện đăng ký kết hôn vào ngày 05 tháng 05 năm 2008 tại Ủy ban nhân dân phường T, thành phố N, tỉnh Nam Định.
Anh chị quen nhau tại liên bang N và đi đến hôn nhân, sau khi kết hôn anh chị sống tại liên bang N đến năm 2015 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do bất đồng quan điểm sống, lối sống. Thường xuyên xảy ra xích míc, cãi nhau. Mâu thuẫn ngày càng trầm trong nên chị H đã về Việt Nam để sinh sống và ly thân anh D từ đó đến nay. Anh D2 vẫn ở lại liên bang N làm ăn sinh sống vợ chồng không còn liên quan gì đến nhau nữa. Nay chị đề nghị Toà án giải quyết cho chị ly hôn anh Nguyễn Mạnh D.
Về con chung: Trong quá trình chung sống vợ chồng chị có con chung là cháu Nguyễn Bạch D3, sinh ngày 18/05/2008. Hiện nay con Nguyễn Bạch D3 đang ở với chị H. Ly hôn chị xin được nuôi con không yêu cầu anh D cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản và công nợ chung: Vợ chồng chị không có và không đề nghị Tòa án xem xét, giải quyết
* Cháu Nguyễn Bạch D3 có đơn trình bày: cháu có nguyện vọng xin ở với mẹ.
Anh Nguyễn Mạnh D không có quan điểm về việc giải quyết vụ án. Mặc dù anh đã được bà Đỗ Thị T1, sinh năm 1948 (là mẹ đẻ) thông báo nội dung vụ án và các thông báo của toà án qua mạng xã hội (zalo).
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nam Định phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án:
Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Thư ký đã thực hiện đúng theo quy định của pháp luật, quyền lợi của các đương sự được bảo đảm.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 56, 58, 81,82,83 Luật Hôn nhân và gia đình, xử ly hôn giữa chị Nguyễn Thị H và anh Nguyễn Mạnh D. Về con chung: Giao cháu Nguyễn Bạch D3, sinh ngày 18/5/2008, cho chị Nguyễn Thị H nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục. ghi nhận sự tự nguyện chị H không yêu cầu anh D cấp dưỡng nuôi con chung. Về án phí đề nghị Toà án giải quyết theo pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Chị Nguyễn Thị H có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, căn cứ khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt chị H. Anh Nguyễn Mạnh D đã được tống đạt, niêm yết các văn bản tố tụng nhưng vẫn vắnng mặt không có lý do vì vậy toà án xét xử vắng mặt anh theo quy định tại k3 Điều 228 bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Về nội dung: chị Nguyễn Thị H và anh Nguyễn Mạnh D tự nguyện đăng ký kết hôn vào ngày 05 tháng 05 năm 2008 tại Ủy ban nhân dân phường T, thành phố N, tỉnh Nam Định.
Hôn nhân của anh chị là hôn nhân tiến bộ, hợp pháp. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2015 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do bất đồng quan điểm sống, thường xuyên cãi vã, mâu thuẫn ngày càng trầm trọng, Năm 2015 chị từ liên bang N về Nước, từ đó đến nay vợ chồng sống ly thân. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Nam Định giải quyết cho chị được ly hôn với. Xét mâu thuẫn của anh chị kéo dài ngày càng trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không còn tồn tại, nên xử cho anh chị ly hôn phù hợp với quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.
[3] Về con chung: Anh Nguyễn Mạnh D không có quan điểm tại Toà án, chị Nguyễn Thị H đề nghị giao cháu Nguyễn Bạch D3, sinh ngày 18/05/2008 cho chị trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục. Hiện nay con Nguyễn Bạch D3 đang ở với chị H. Nay anh chị ly hôn chị xin được nuôi con, không yêu cầu anh D cấp dưỡng nuôi con chung. Cháu Nguyễn Bạch D3 có đơn trình bày: cháu có nguyện vọng xin ở với mẹ. xét thấy đề nghị của chị H và nguyện vọng của cháu D3 là có căn cứ, đúng pháp luật nên được chấp nhận. Ghi nhận sự tự nguyện chị H không yêu cầu anh D cấp dưỡng nuôi con chung.
[4] Về tài sản, công nợ chung: Các đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[5] Về án phí dân sự sơ thẩm và án phí cấp dưỡng nuôi con: Chị Nguyễn Thị H phải nộp theo quy định của pháp luật. Về án phí cấp dưỡng nuôi con chị H không phải nộp vì chị không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nam Định phát biểu quan điểm giải quyết vụ án là có căn cứ, đúng pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 56, 58, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
- Xử ly hôn giữa chị Nguyễn Thị H và anh Nguyễn Mạnh D.
- Về con chung: giao cháu Nguyễn Bạch D3, sinh ngày 18/05/2008 cho chị Nguyễn Thị H trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục. Anh nguyễn Mạnh D1 không phải cấp dưỡng nuôi con. Anh Dũng có quyền chăm sóc, thăm nom con chung, không ai được cản trở, nhưng không được lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con của chị H.
- Về án phí dân sự sơ thẩm:
- Chị Nguyễn Thị H phải nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000đ tại biên lai số 0005710 ngày 06/02/2024 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Nam Định, chị H đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: anh D1 có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn một tháng kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ, chị H được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự, có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Bùi Văn Biền |
Bản án số 66/HNGĐ-ST ngày 08/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NAM ĐỊNH về tranh chấp ly hôn, nuôi con chung
- Số bản án: 66/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 08/08/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NAM ĐỊNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn, nuôi con chung H - D
