|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ BÌNH TỈNH THÁI NGUYÊN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 66/2024/HSST. Ngày: 08/8/2024. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ BÌNH, TỈNH THÁI NGUYÊN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Quang Thái
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Vũ Thị Lệ - Ông Nguyễn Văn Hợi.
Thư ký phiên tòa: Bà Đào Huyền My – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên.
Đại diện Viện kiểm sát Nhân dân huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Quỳnh Anh - Kiểm sát viên.
Ngày 08 tháng 8 năm 2024 tại Tòa án nhân dân huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 61/2024/TLST-HS ngày 13 tháng 6 năm 2024, đối với bị cáo:
Họ và tên: Lê Bảo T;
Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày 18 tháng 4 năm 1986 tại tỉnh Bắc Kạn; Nơi đăng ký HKTT: Không; Nơi ở hiện tại: Tổ dân phố M, phường H, Thành phố P, tỉnh Thái Nguyên; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 6/12; Nghề nghiệp: Không nghề; Con ông: Lê Văn C, sinh năm 1956 (đã chết) và bà: Hà Thị S, sinh năm 1964 (đã chết); Vợ, con: Chưa có; Tiền án: 07 tiền án:
- + Tại Bản án số 54/2006/HSST ngày 11/4/2006, Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên xử phạt 24 tháng tù về tội “Cướp giật tài sản”.
- + Tại Bản án số 95/2006/HSST ngày 06/6/2006, Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên xử phạt 15 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Tổng hợp hình phạt của cả Bản án số 54/2006/HSST buộc Lê Bảo T phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai bản án là 39 tháng tù, chấp hành xong hình phạt tù ngày 12/01/2009.
- + Tại Bản án số 03/2010/HSST ngày 20/01/2010, Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên xử phạt 15 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.
- + Tại Bản án số 48/2010/HSST ngày 22/3/2010, Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên xử phạt 18 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Tổng hợp hình phạt của cả Bản án số 03/2010/HSST buộc Lê Bảo T phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai bản án là 33 tháng tù, chấp hành xong hình phạt tù ngày 23/5/2012.
- + Tại Bản án số 37/2013/HSST ngày 31/01/2013, Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên xử phạt 36 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 16/9/2015.
- + Tại Bản án số 196/2016/HSST ngày 20/7/2016, Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên xử phạt 36 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 10/3/2019.
- + Tại Bản án số 261/2020/HSST ngày 23/6/2020, Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên xử phạt 36 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 21/02/2023.
- Tiền sự: Không
- Nhân thân:
- + Tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 86-QĐ/XPVPHC ngày 12/7/2002, Công an phường P, thành phố T xử phạt 50.000 đồng về hành vi “Trộm cắp tài sản”.
- + Tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 294-QĐ/XPVPHC ngày 24/7/2002, Công an thành phố T xử phạt 100.000 đồng về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”.
- + Tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 103-QĐ/XPVPHC ngày 13/10/2002, Công an phường G, thành phố T xử phạt 50.000 đồng về hành vi “Trộm cắp tài sản”.
- + Tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 107/QĐ ngày 21/10/2002, Công an phường P, thành phố T xử phạt 50.000 đồng về hành vi “Trộm cắp tài sản".
- + Tại Quyết định số 398/QĐ-UB ngày 27/4/2002, Ủy ban nhân dân thành phố T áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng trong thời hạn 24 tháng kể từ ngày 12/5/2003.
Bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 23/3/2024 cho đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện P, tỉnh Thái Nguyên.
(Có mặt tại phiên tòa)
* Bị hại: Anh Trần Quang H, sinh năm 2000 (Có mặt tại phiên tòa).
Nơi đăng ký HKTT: Xóm L, xã M, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.
Nơi ở hiện tại: Xóm T, xã Đ, huyện P, tỉnh Thái Nguyên.
* Người làm chứng:
- Chị Lục Thị X, sinh năm 1993 (Vắng mặt)
Nơi cư trú: Thôn R, xã M, huyện V, tỉnh Bắc Giang.
- Chị Bùi Thị Phương T1, sinh năm 2000 (Vắng mặt)
Nơi cư trú: Tổ G, phường G, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên.
- Ông Đinh Văn T2, sinh năm 1976 (Vắng mặt)
Nơi cư trú: Xóm T, xã Đ, huyện P, tỉnh Thái Nguyên.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 01 giờ 30 phút ngày 22/3/2024, Lê Bảo T, sinh năm 1986, không có nơi đăng ký hộ khẩu thường trú, đi bộ một mình từ phòng trọ tại tổ dân phố M, phường H, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên đến khu công nghiệp Đ và các nhà trọ xung quanh khu công nghiệp tìm tài sản để trộm cắp. Khi đi, T đội mũ lưỡi chai, đeo khẩu trang, mặc áo mưa nhằm mục đích để không bị phát hiện và mang theo đèn pin, tua vít để làm công cụ trộm cắp tài sản. Đến khoảng 03 giờ cùng ngày, khi đi đến dãy nhà trọ của ông Đinh Văn T2, sinh năm 1976; trú tại: Xóm T, xã Đ, huyện P, T nhìn thấy ở dãy hành lang tầng một có để 02 chiếc xe mô tô, trong đó 01 chiếc nhãn hiệu YAMAHA, loại SIRIUS, màu: xám – xanh - đen, biển kiểm soát 20F1-660.19; 01chiếc nhãn hiệu HONDA, loại BLADE, màu: xanh - đen, biển kiểm soát 20F1-543.70 của anh Trần Quang H, sinh năm 2000; trú tại: Xóm L, xã M, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên đang để hành lang tầng một của dãy trọ nhà ông T2. Dãy nhà trọ đóng cửa, cổng móc khóa nhưng không khóa. T dùng tay lấy khóa treo trên cửa cổng ném xuống bãi cỏ ở đối diện với dãy nhà trọ, rồi mở cửa cổng đi vào hành lang tầng một của nhà trọ. Kiểm tra hai chiếc xe mô tô thấy cả hai đều không khóa cổ, T dùng tay dắt chiếc xe mô tô biển kiểm soát 20F1-660.19 ra khỏi dãy nhà trọ, rồi dắt ra đường tỉnh lộ 266, rẽ phải đi về hướng đường tròn Điềm Thụy khoảng 100 mét rồi đi vào khu đất trống ở phía sau cửa hàng bán xăng dầu thuộc xóm T, xã Đ, huyện P thì dừng lại, T sử dụng tua vít tháo phần mặt nạ phía trước của xe mô tô, đấu điện để khởi động xe, sau đó lắp lại phần mặt nạ rồi điều khiển xe mô tô về phòng trọ tại tổ dân phố M, phường H, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên. T dựng xe mô tô ở dãy hành lang trước cửa phòng trọ rồi đi bộ quay lại dãy nhà trọ của ông T2 để trộm cắp chiếc xe còn lại bằng phương thức cũ rồi điều khiển xe đi về phòng trọ dựng ở dãy hành lang trước cửa phòng. Khi về đến phòng trọ T gọi bạn gái là Lục Thị X, sinh năm 1993; trú tại: Thôn R, xã M, huyện V, tỉnh Bắc Giang hiện đang ở cùng T dậy mở cửa, X mở cửa và hỏi là xe ở đâu thì T trả lời là xe của bạn gửi, X không hỏi gì thêm và tiếp tục lên giường ngủ. T vào phòng cất mũ, áo mưa, giầy và đèn pin ở trong phòng. Sau đó, T sử dụng điện thoại di động của Trường lắp thẻ sim số thuê bao 0879.796.297 gọi vào số thuê bao 0566.009.388 để bán xe. Qua điện thoại, người đàn ông nhận mua hai chiếc xe cho T với số tiền là 5.000.000 đồng, đồng thời hẹn T giao xe tại khu vực gần siêu thị G thuộc tổ A, phường T, thành phố T thì T đồng ý. Tiếp đó, T dắt hai chiếc xe mô tô vừa trộm cắp được vào trong phòng trọ, dùng cờ lê tháo biển kiểm soát của hai xe mô tô và gương chiếu hậu của chiếc xe Sirius rồi lồng hai chiếc biển số vào một chiếc ống quần rách cho vào một túi Nilon màu đen và một túi Nilon màu xanh để mang đi vứt, chiếc gương xe T để vào trong gầm giường ngủ tại phòng trọ, sau đó T lên giường nằm nghỉ. Khoảng 30 phút sau, T nhờ X giúp T điều khiển một chiếc xe lên khu vực siêu thị G để đưa cho bạn, X đồng ý. Sau đó, X điều khiển xe mô tô HONDA BLADE đi trước, T điều khiển xe mô tô YAMAHA SIRIUS đi sau và mang theo túi nilong chứa hai chiếc biển số xe tháo ra lúc trước. Trên đường đi, T điều khiển xe vượt trước X, cả hai điều khiển xe theo đường Tỉnh lộ 266, Quốc lộ C và đường V để đến khu vực gần siêu thị G. Khi đi trên đường Q đến đoạn Km 52+800 thuộc tổ dân phố G, phường L, thành phố S, T ném túi Nilon chứa hai chiếc biển kiểm soát xe mô tô xuống bãi đất ở rìa bên phải đường theo hướng đi. Đến nơi, T thấy có một người đàn ông lạ mặt khoảng 30 tuổi đang đứng đợi, T dừng xe lại, nói chuyện thì xác định đây là người mà T đã liên lạc qua điện thoại trước đó, sau khi xem xe người này trả cho T số tiền 2.000.000 đồng rồi điều khiển chiếc xe YAMAHA SIRIUS đi. Một lúc sau X đi đến, T bảo X cùng đứng đợi, khoảng 15 phút thì người đàn ông mua xe lúc trước đi bộ đến xem xe mô tô HONDA BLADE, sau đó trả cho T số tiền 3.000.000 đồng rồi điều khiển xe đi. Sau đó, chị Bùi Thị Phương T1, sinh năm 2000, nơi thường trú: Tổ G, phường G, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên (là em cùng mẹ khác bố của T) gọi điện thoại rủ T đi chơi. T nói đang ở khu vực siêu thị G nên T1 đi xe taxi đến đón, tuy nhiên do muốn sử dụng ma túy nên T bảo T1 đưa về phòng trọ. T1 đưa T và X về cổng phòng trọ, T và X xuống xe về phòng trọ, T1 đi taxi về. Sau khi về phòng trọ, X đi ngủ, còn T đi đến khu vực thành phố S mua ma túy của một người không quen biết rồi sử dụng một mình tại khu vực thành phố S, T không xác định được chính xác vị trí sử dụng ma túy, số tiền còn lại T sử dụng tiêu sài cá nhân hết 4.000.000 đồng. Khoảng 06 giờ cùng ngày, anh H phát hiện bị mất hai chiếc xe mô tô có đặc điểm nêu trên để ở cửa phòng trọ nên đã đến Công an xã Đ để trình báo sự việc, đề nghị giải quyết theo quy định pháp luật. Sau khi tiếp nhận nguồn tin, xác minh ban đầu Công an xã Đ đã xác định được người thực hiện hành vi trộm cắp tài sản là Lê Bảo T, tại Công an xã Đ đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu trên, sau khi củng cố tài liệu ban đầu Công an xã Đ đã chuyển hồ sơ đến Công an huyện P để giải quyết theo thẩm quyền.
Ngày 25/3/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện P (CSĐT) ra Quyết định trưng cầu giám định số: 380/QĐ-ĐTTH trưng cầu Trung tâm pháp y tỉnh T giám định các chất ma túy trong mẫu máu của Lê Bảo T. Ngày 29/3/2024, Trung tâm pháp y tỉnh T ra bản kết luận giám định độc chất số 37/KLGĐĐC-TTPY kết luận: Trong mẫu máu không tìm thấy các loại ma túy.
Ngày 19/4/2024, Cơ quan CSĐT Công an huyện P ra Quyết định trưng cầu giám định số:485/QĐ-ĐTTH và Quyết định trưng cầu giám định bổ sung số:592/QĐ-ĐTTH ngày 24/5/2024 trưng cầu phòng K Công an tỉnh T giám định đường vân tay in trên các danh chỉ bản của Lê Bảo T. Phòng K Công an tỉnh T ra bản kết luận giám định số 548/KL-KTHS ngày 25/4/2024 và bản kết luận giám định số 641/KL-KTHS ngày 28/5/2024 kết luận: Dấu vân tay in trên danh, chỉ bản cần giám định so với dấu vân tay in trên danh, chỉ bản (phô tô) mẫu so sánh là do cùng một người in ra.
Ngày 25/3/2024, Cơ quan CSĐT Công an huyện P đã ra yêu cầu định giá tài sản số: 781/YC-ĐTTH, yêu cầu hội đồng định giá tài sản huyện P xác định giá trị tài sản của 02 chiếc xe mô tô nêu trên. Tại bản kết luận định giá tài sản số: 19/KL-HĐĐGTS, ngày 29/3/2024 của Hội đồng định giá tài sản huyện P kết luận: 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA loại SIRIUS, màu: xám – xanh - đen, biển kiểm soát 20F1-660.19 giá trị là: 10.350.000 đồng; 01chiếc nhãn hiệu HONDA loại BLADE, màu: xanh - đen, biển kiểm soát 20F1-543.70 giá trị là: 8.900.000 đồng. Tổng cộng giá trị là: 19.250.000 đồng.
Ngày 03/4/2024 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện P đã ra quyết định số 414, 415 quyết định truy tìm vật đối với 02 chiếc xe mô tô nêu trên, đến nay chưa thu giữ được.
Tại cơ quan điều tra, Lê Bảo T đã thành khẩn khai nhận hành vi của mình như đã nêu trên. Lời khai của T là tự nguyện, khách quan và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác thu thập được có trong hồ sơ.
Về trách nhiệm dân sự: Anh Trần Quang H yêu cầu Lê Bảo T bồi thường cho mình số tiền là 19.250.000 đồng, đến nay T vẫn chưa bồi thường.
Vật chứng của vụ án: 01 áo mưa dài tay có mũ màu xanh tím than; 01 áo rét dài tay màu xanh tím than; 01 mũ lưỡi trai màu ghi; 01 tua vít hai đầu, một đầu dẹt, một đầu bốn cạnh, có chuôi nhựa màu đen; 01 quần bò dài ống màu ghi; 01 đèn pin hình trụ màu hồng; 01 đôi giày giả da màu nâu, đế màu đen; 01 cờ lê có hai đầu bằng kim loại, một đầu có số A, một đầu có số 12, đã qua sử dụng. Tất cả được niêm phong trong hộp cattong ký hiệu “D”; 01 điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA, màu đen, đã qua sử dụng; 01 túi ni lông màu đen, 01 túi ni lông màu xanh, 01 ống quần bò lửng màu xanh, tất cả đã qua sử dụng được niêm phong trong hộp cattong ký hiệu “VC1”; 01 biển kiểm soát xe mô tô số 20F1-606.19; 01 biển kiểm soát xe mô tô số 20F1- 543.70, tất cả đã qua sử dụng, niêm phong trong hộp cattong ký hiệu “VC2”; 01 gương chiếu hậu xe môtô, màu đen, mặt sau có dòng chữ “FI MP 999”, tình trạng đã qua sử dụng, niêm phong trong hộp cattong ký hiệu “G1”; 01 ổ khóa VIỆT TIỆP, màu đen, cũ đã qua sử dụng niêm phong trong túi niêm phong mã số NS3A 110872.
Số tiền 1.000.000 đồng thu giữ của Lê Bảo T hiện đang được bảo quản tại tài khoản tạm gửi của Công an huyện P tại kho bạc huyện P chờ xử lý sau.
Tại bản cáo trạng số 63/CT-VKSPB ngày 11/6/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên đã truy tố về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như cáo trạng đã truy tố.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng điềm g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo từ 42 đến 48 tháng tù.
Hình phạt bổ sung: Do bị cáo không có nghề nghiệp ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo Lê Bảo T bối thường cho anh Trần Quang H số tiền là 19.250.000 đồng.
Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
- Tịch thu tiêu hủy:
- + 01 áo mưa dài tay có mũ màu xanh tím than; 01 áo rét dài tay màu xanh tím than; 01 mũ lưỡi trai màu ghi; 01 tua vít hai đầu, một đầu dẹt, một đầu bốn cạnh, có chuôi nhựa màu đen; 01 quần bò dài ống màu ghi; 01 đèn pin hình trụ màu hồng; 01 đôi giày giả da màu nâu, đế màu đen; 01 cờ lê có hai đầu bằng kim loại, một đầu có số A, một đầu có số 12, đã qua sử dụng. Tất cả được niêm phong trong hộp cattong ký hiệu “D”; 01 ổ khóa VIỆT TIỆP màu đen, cũ đã qua sử dụng niêm phong trong túi niêm phong mã số NS3A 110872.
- + 01 túi ni lông màu đen, 01 túi ni lông màu xanh, 01 ống quần bò lửng màu xanh, tất cả đã qua sử dụng được niêm phong trong hộp cattong ký hiệu “VC1”.
- Tịch thu sung ngân sách nhà nước:
- + 01 điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA, màu đen, đã qua sử dụng.
- + Số tiền 1.000.000 đồng thu giữ của Lê Bảo T do phạm tội mà có.
- Truy thu số tiền 4.000.000 đồng mà bị cáo thu lời bất chính do việc bán hai chiếc xe máy trộm cắp được của anh Trần Quang H để sung quỹ nhà nước.
- Trả lại cho chủ sở hữu:
- + 01 biển kiểm soát xe mô tô số 20F1-606.19; 01 biển kiểm soát xe mô tô số 20F1- 543.70, tất cả đã qua sử dụng, niêm phong trong hộp cattong ký hiệu “VC2”; 01 gương chiếu hậu xe môtô, màu đen, mặt sau có dòng chữ “FI MP 999”, tình trạng đã qua sử dụng, niêm phong trong hộp cattong ký hiệu “G1”.
Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Trong phần tranh luận, bị cáo không có ý kiến tranh luận, thừa nhận việc truy tố, xét xử là đúng người đúng tội, không oan. Bị cáo nói lời sau cùng ăn năn hối hận vì hành vi phạm tội của mình và xin Hội đồng xét xử cho được hưởng mức án thấp nhất để sớm trở về với gia đình và xã hội.
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét khách quan toàn bộ các chứng cứ, ý kiến đề nghị của kiểm sát viên, lời khai của bị cáo; bị hại, người làm chứng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng trong vụ án từ khi khởi tố vụ án, điều tra, truy tố: Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Cơ quan điều tra Công an huyện P, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Bình; Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.
[2]. Xét về hành vi của bị cáo thấy rằng: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa là khách quan, phù hợp với đơn trình báo, biên bản sự việc, sơ đồ hiện trường, biên bản xác định hiện trường, vật chứng tạm giữ, lời khai của bị hại, người làm chứng cùng những tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án có căn cứ xác định: Bị cáo Lê Bảo T là đối tượng có nhân thân rất xấu, do cần tiền để tiêu sài cá nhân nên vào ngày 22/3/2024 tại xóm T, xã Đ, huyện P, Lê Bảo T đã có hành vi lén lút chiếm đoạt 02 xe mô tô, có tổng giá trị là 19.250.000 đồng của anh Trần Quang H, sinh năm 2000; nơi cư trú: Xóm L, xã M, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên để bán lấy tiền tiêu sài cá nhân. Về phần trách nhiệm dân sự: Anh Trần Quang H yêu cầu Lê Bảo T bồi thường cho mình số tiền là 19.250.000 đồng, đến nay bị cáo vẫn chưa bồi thường.
Hội đồng xét xử xác định bị cáo có đầy đủ năng lực nhận thức và khả năng điều khiển hành vi. Nhưng vì lòng tham, lợi dụng sự sơ hở của người khác, bị cáo đã thực hiện hành vi trộm cắp tài sản của người khác với lỗi cố ý. Hành vi của các bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự. Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng người đúng tội, đúng pháp luật.
Khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự quy định:
“1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:
...
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:
...
g) Tái phạm nguy hiểm”.
[3]. Xét tính chất hành vi phạm tội: Hành vi của bị cáo thuộc trường hợp nghiêm trọng, đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự, trị an tại địa phương, gây bức xúc trong quần chúng nhân dân, lỗi của bị cáo là lỗi cố ý trực tiếp.
[4]. Xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo T đã “Thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải”, vì vậy bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm g, điểm h Điều 52 Bộ luật hình sự.
[5]. Xét nhân thân của bị cáo thì thấy: Bị cáo T có nhân thân xấu, nên cần phải có mức án nghiêm khắc đối với bị cáo khi xét xử.
[6]. Xét đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát trong lời luận tội đối với bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng, hình phạt, xử lý vật chứng là phù hợp với quy định của pháp luật nên cần chấp nhận.
[7]. Về hình phạt bổ sung: Hiện nay bị cáo T không có công ăn việc làm, không có tài sản gì. Do đó xét thấy không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo là phù hợp.
[8]. Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo Lê Bảo T phải bồi thường cho anh Trần Quang H số tiền là 19.250.000 đồng.
[9]. Về vật chứng:
- Tịch thu tiêu hủy:
- + 01 áo mưa dài tay có mũ màu xanh tím than; 01 áo rét dài tay màu xanh tím than; 01 mũ lưỡi trai màu ghi; 01 tua vít hai đầu, một đầu dẹt, một đầu bốn cạnh, có chuôi nhựa màu đen; 01 quần bò dài ống màu ghi; 01 đèn pin hình trụ màu hồng; 01 đôi giày giả da màu nâu, đế màu đen; 01 cờ lê có hai đầu bằng kim loại, một đầu có số A, một đầu có số 12, đã qua sử dụng. Tất cả được niêm phong trong hộp cattong ký hiệu “D”; 01 ổ khóa VIỆT TIỆP màu đen, cũ đã qua sử dụng niêm phong trong túi niêm phong mã số NS3A 110872.
- + 01 túi ni lông màu đen, 01 túi ni lông màu xanh, 01 ống quần bò lửng màu xanh, tất cả đã qua sử dụng được niêm phong trong hộp cattong ký hiệu “VC1”.
- Tịch thu sung ngân sách nhà nước:
- + 01 điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA, màu đen, đã qua sử dụng.
- + Số tiền 1.000.000 đồng thu giữ của Lê Bảo T do phạm tội mà có.
- Truy thu số tiền 4.000.000 đồng mà bị cáo thu lời bất chính do việc bán hai chiếc xe máy trộm cắp được của anh Trần Quang H để sung quỹ nhà nước.
- Trả lại cho anh Trần Quang H:
- 01 biển kiểm soát xe mô tô số 20F1-606.19; 01 biển kiểm soát xe mô tô số 20F1- 543.70, tất cả đã qua sử dụng, niêm phong trong hộp cattong ký hiệu “VC2”; 01 gương chiếu hậu xe môtô, màu đen, mặt sau có dòng chữ “FI MP 999”, tình trạng đã qua sử dụng, niêm phong trong hộp cattong ký hiệu “G1”.
Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Trong phần tranh luận, bị cáo không có ý kiến tranh luận, thừa nhận việc truy tố, xét xử là đúng người đúng tội, không oan. Bị cáo nói lời sau cùng ăn năn hối hận vì hành vi phạm tội của mình và xin Hội đồng xét xử cho được hưởng mức án thấp nhất để sớm trở về với gia đình và xã hội.
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét khách quan toàn bộ các chứng cứ, ý kiến đề nghị của kiểm sát viên, lời khai của bị cáo; bị hại, người làm chứng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng trong vụ án từ khi khởi tố vụ án, điều tra, truy tố: Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Cơ quan điều tra Công an huyện P, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Bình; Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.
[2]. Xét về hành vi của bị cáo thấy rằng: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa là khách quan, phù hợp với đơn trình báo, biên bản sự việc, sơ đồ hiện trường, biên bản xác định hiện trường, vật chứng tạm giữ, lời khai của bị hại, người làm chứng cùng những tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án có căn cứ xác định: Bị cáo Lê Bảo T là đối tượng có nhân thân rất xấu, do cần tiền để tiêu sài cá nhân nên vào ngày 22/3/2024 tại xóm T, xã Đ, huyện P, Lê Bảo T đã có hành vi lén lút chiếm đoạt 02 xe mô tô, có tổng giá trị là 19.250.000 đồng của anh Trần Quang H, sinh năm 2000; nơi cư trú: Xóm L, xã M, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên để bán lấy tiền tiêu sài cá nhân. Về phần trách nhiệm dân sự: Anh Trần Quang H yêu cầu Lê Bảo T bồi thường cho mình số tiền là 19.250.000 đồng, đến nay bị cáo vẫn chưa bồi thường.
Hội đồng xét xử xác định bị cáo có đầy đủ năng lực nhận thức và khả năng điều khiển hành vi. Nhưng vì lòng tham, lợi dụng sự sơ hở của người khác, bị cáo đã thực hiện hành vi trộm cắp tài sản của người khác với lỗi cố ý. Hành vi của các bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự. Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng người đúng tội, đúng pháp luật.
Khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự quy định:
“1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:
...
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:
...
g) Tái phạm nguy hiểm”.
[3]. Xét tính chất hành vi phạm tội: Hành vi của bị cáo thuộc trường hợp nghiêm trọng, đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự, trị an tại địa phương, gây bức xúc trong quần chúng nhân dân, lỗi của bị cáo là lỗi cố ý trực tiếp.
[4]. Xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo T đã “Thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải”, vì vậy bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm g, điểm h Điều 52 Bộ luật hình sự.
[5]. Xét nhân thân của bị cáo thì thấy: Bị cáo T có nhân thân xấu, nên cần phải có mức án nghiêm khắc đối với bị cáo khi xét xử.
[6]. Xét đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát trong lời luận tội đối với bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng, hình phạt, xử lý vật chứng là phù hợp với quy định của pháp luật nên cần chấp nhận.
[7]. Về hình phạt bổ sung: Hiện nay bị cáo T không có công ăn việc làm, không có tài sản gì. Do đó xét thấy không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo là phù hợp.
[8]. Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo Lê Bảo T phải bồi thường cho anh Trần Quang H số tiền là 19.250.000 đồng.
[9]. Về vật chứng:
- Tịch thu tiêu hủy:
- + 01 áo mưa dài tay có mũ màu xanh tím than; 01 áo rét dài tay màu xanh tím than; 01 mũ lưỡi trai màu ghi; 01 tua vít hai đầu, một đầu dẹt, một đầu bốn cạnh, có chuôi nhựa màu đen; 01 quần bò dài ống màu ghi; 01 đèn pin hình trụ màu hồng; 01 đôi giày giả da màu nâu, đế màu đen; 01 cờ lê có hai đầu bằng kim loại, một đầu có số A, một đầu có số 12, đã qua sử dụng. Tất cả được niêm phong trong hộp cattong ký hiệu “D”; 01 ổ khóa VIỆT TIỆP màu đen, cũ đã qua sử dụng niêm phong trong túi niêm phong mã số NS3A 110872.
- + 01 túi ni lông màu đen, 01 túi ni lông màu xanh, 01 ống quần bò lửng màu xanh, tất cả đã qua sử dụng được niêm phong trong hộp cattong ký hiệu “VC1”.
- Tịch thu sung ngân sách nhà nước:
- + 01 điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA, màu đen, đã qua sử dụng.
- + Số tiền 1.000.000 đồng thu giữ của Lê Bảo T do phạm tội mà có.
- Truy thu số tiền 4.000.000 đồng mà bị cáo thu lời bất chính do việc bán hai chiếc xe máy trộm cắp được của anh Trần Quang H để sung quỹ nhà nước.
- Trả lại cho anh Trần Quang H:
- 01 biển kiểm soát xe mô tô số 20F1-606.19; 01 biển kiểm soát xe mô tô số 20F1- 543.70, tất cả đã qua sử dụng, niêm phong trong hộp cattong ký hiệu “VC2”; 01 gương chiếu hậu xe môtô, màu đen, mặt sau có dòng chữ “FI MP 999”, tình trạng đã qua sử dụng, niêm phong trong hộp cattong ký hiệu “G1”.
Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Trong phần tranh luận, bị cáo không có ý kiến tranh luận, thừa nhận việc truy tố, xét xử là đúng người đúng tội, không oan. Bị cáo nói lời sau cùng ăn năn hối hận vì hành vi phạm tội của mình và xin Hội đồng xét xử cho được hưởng mức án thấp nhất để sớm trở về với gia đình và xã hội.
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét khách quan toàn bộ các chứng cứ, ý kiến đề nghị của kiểm sát viên, lời khai của bị cáo; bị hại, người làm chứng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng trong vụ án từ khi khởi tố vụ án, điều tra, truy tố: Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Cơ quan điều tra Công an huyện P, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Bình; Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.
[2]. Xét về hành vi của bị cáo thấy rằng: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa là khách quan, phù hợp với đơn trình báo, biên bản sự việc, sơ đồ hiện trường, biên bản xác định hiện trường, vật chứng tạm giữ, lời khai của bị hại, người làm chứng cùng những tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án có căn cứ xác định: Bị cáo Lê Bảo T là đối tượng có nhân thân rất xấu, do cần tiền để tiêu sài cá nhân nên vào ngày 22/3/2024 tại xóm T, xã Đ, huyện P, Lê Bảo T đã có hành vi lén lút chiếm đoạt 02 xe mô tô, có tổng giá trị là 19.250.000 đồng của anh Trần Quang H, sinh năm 2000; nơi cư trú: Xóm L, xã M, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên để bán lấy tiền tiêu sài cá nhân. Về phần trách nhiệm dân sự: Anh Trần Quang H yêu cầu Lê Bảo T bồi thường cho mình số tiền là 19.250.000 đồng, đến nay bị cáo vẫn chưa bồi thường.
Hội đồng xét xử xác định bị cáo có đầy đủ năng lực nhận thức và khả năng điều khiển hành vi. Nhưng vì lòng tham, lợi dụng sự sơ hở của người khác, bị cáo đã thực hiện hành vi trộm cắp tài sản của người khác với lỗi cố ý. Hành vi của các bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự. Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng người đúng tội, đúng pháp luật.
Khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự quy định:
“1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:
...
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:
...
g) Tái phạm nguy hiểm”.
[3]. Xét tính chất hành vi phạm tội: Hành vi của bị cáo thuộc trường hợp nghiêm trọng, đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự, trị an tại địa phương, gây bức xúc trong quần chúng nhân dân, lỗi của bị cáo là lỗi cố ý trực tiếp.
[4]. Xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo T đã “Thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải”, vì vậy bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm g, điểm h Điều 52 Bộ luật hình sự.
[5]. Xét nhân thân của bị cáo thì thấy: Bị cáo T có nhân thân xấu, nên cần phải có mức án nghiêm khắc đối với bị cáo khi xét xử.
[6]. Xét đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát trong lời luận tội đối với bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng, hình phạt, xử lý vật chứng là phù hợp với quy định của pháp luật nên cần chấp nhận.
[7]. Về hình phạt bổ sung: Hiện nay bị cáo T không có công ăn việc làm, không có tài sản gì. Do đó xét thấy không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo là phù hợp.
[8]. Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo Lê Bảo T phải bồi thường cho anh Trần Quang H số tiền là 19.250.000 đồng.
[9]. Về vật chứng:
- Tịch thu tiêu hủy:
- + 01 áo mưa dài tay có mũ màu xanh tím than; 01 áo rét dài tay màu xanh tím than; 01 mũ lưỡi trai màu ghi; 01 tua vít hai đầu, một đầu dẹt, một đầu bốn cạnh, có chuôi nhựa màu đen; 01 quần bò dài ống màu ghi; 01 đèn pin hình trụ màu hồng; 01 đôi giày giả da màu nâu, đế màu đen; 01 cờ lê có hai đầu bằng kim loại, một đầu có số A, một đầu có số 12, đã qua sử dụng. Tất cả được niêm phong trong hộp cattong ký hiệu “D”; 01 ổ khóa VIỆT TIỆP màu đen, cũ đã qua sử dụng niêm phong trong túi niêm phong mã số NS3A 110872.
- + 01 túi ni lông màu đen, 01 túi ni lông màu xanh, 01 ống quần bò lửng màu xanh, tất cả đã qua sử dụng được niêm phong trong hộp cattong ký hiệu “VC1”.
- Tịch thu sung ngân sách nhà nước:
- + 01 điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA, màu đen, đã qua sử dụng.
- + Số tiền 1.000.000 đồng thu giữ của Lê Bảo T do phạm tội mà có.
- Truy thu số tiền 4.000.000 đồng mà bị cáo thu lời bất chính do việc bán hai chiếc xe máy trộm cắp được của anh Trần Quang H để sung quỹ nhà nước.
- Trả lại cho anh Trần Quang H:
- 01 biển kiểm soát xe mô tô số 20F1-606.19; 01 biển kiểm soát xe mô tô số 20F1- 543.70, tất cả đã qua sử dụng, niêm phong trong hộp cattong ký hiệu “VC2”; 01 gương chiếu hậu xe môtô, màu đen, mặt sau có dòng chữ “FI MP 999”, tình trạng đã qua sử dụng, niêm phong trong hộp cattong ký hiệu “G1”.
Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Trong phần tranh luận, bị cáo không có ý kiến tranh luận, thừa nhận việc truy tố, xét xử là đúng người đúng tội, không oan. Bị cáo nói lời sau cùng ăn năn hối hận vì hành vi phạm tội của mình và xin Hội đồng xét xử cho được hưởng mức án thấp nhất để sớm trở về với gia đình và xã hội.
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét khách quan toàn bộ các chứng cứ, ý kiến đề nghị của kiểm sát viên, lời khai của bị cáo; bị hại, người làm chứng.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ áp dụng pháp luật:
- - Về hình phạt chính: Căn cứ vào điểm g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hỡnh sự năm 2015; Điều 329 của Bộ Luật tố tụng Hình sự năm 2015; Điều 357, 468 của Bộ Luật dân sự năm 2015.
- - Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào Điều 46, 47 của Bộ luật hình sự năm 2015; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
- - Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Về tội danh: Bị cáo Lê Bảo T phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.
- Về hình phạt: Xử phạt Lê Bảo T 48 (Bốn mươi tám) thàng tù, thời hạn tù tính từ ngày 23/3/2024.
- Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo Lê Bảo T phải có trách nhiệm bồi thường cho anh Trần Quang H số tiền là 19.250.000 đồng.
- Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
- Tịch thu tiêu hủy:
- + 01 áo mưa dài tay có mũ màu xanh tím than; 01 áo rét dài tay màu xanh tím than; 01 mũ lưỡi trai màu ghi; 01 tua vít hai đầu, một đầu dẹt, một đầu bốn cạnh, có chuôi nhựa màu đen; 01 quần bò dài ống màu ghi; 01 đèn pin hình trụ màu hồng; 01 đôi giày giả da màu nâu, đế màu đen; 01 cờ lê có hai đầu bằng kim loại, một đầu có số A, một đầu có số 12, đã qua sử dụng. Tất cả được niêm phong trong hộp cattong ký hiệu “D”; 01 ổ khóa VIỆT TIỆP màu đen, cũ đã qua sử dụng niêm phong trong túi niêm phong mã số NS3A 110872.
- + 01 túi ni lông màu đen, 01 túi ni lông màu xanh, 01 ống quần bò lửng màu xanh, tất cả đã qua sử dụng được niêm phong trong hộp cattong ký hiệu “VC1”.
- Tịch thu sung ngân sách nhà nước:
- + 01 điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA, màu đen, đã qua sử dụng.
- + Số tiền 1.000.000 đồng thu giữ của Lê Bảo T do phạm tội mà có.
- Truy thu số tiền 4.000.000 đồng mà bị cáo thu lời bất chính do việc bán hai chiếc xe máy trộm cắp được của anh Trần Quang H để sung quỹ nhà nước.
- Trả lại cho anh Trần Quang H:
- 01 biển kiểm soát xe mô tô số 20F1-606.19; 01 biển kiểm soát xe mô tô số 20F1- 543.70, tất cả đã qua sử dụng, niêm phong trong hộp cattong ký hiệu “VC2”; 01 gương chiếu hậu xe môtô, màu đen, mặt sau có dòng chữ “FI MP 999”, tình trạng đã qua sử dụng, niêm phong trong hộp cattong ký hiệu “G1”.
- Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/QH ngày 30/12/2016 quy định mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án buộc bị cáo T phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 962.500 án phí dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật nộp ngân sách nhà nước.
- Quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Áp dụng Điều 329 của Bộ luật tố tụng hình sự: Quyết định tạm giam bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.
Về nghĩa vụ thi hành án: Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, anh Trần Quang H có đơn yêu cầu thi hành, nếu bị cáo Lê Bảo T không tự nguyện thi hành được khoản tiền bồi thường nêu trên, thì hàng tháng còn phải chịu khoản tiền lãi được xác định theo khoản 2 Điều 468 BLDS tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành án.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 27/6/2024 và Ủy nhiệm chi ngày 25/6/2024 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện P và Chi cục Thi hành án dân huyện Phú Bình).
|
Nơi nhận:
|
TM . HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Phạm Quang Thái |
Bản án số 66/2024/HSST ngày 08/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ BÌNH, TỈNH THÁI NGUYÊN về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 66/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 08/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ BÌNH, TỈNH THÁI NGUYÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trộm cắp tài sản
