Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ BÀ RỊA

TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh Phúc

Bản án số: 66/2024/HS-ST

Ngày 07-6-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BÀ RỊA,

TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Trọng Anh.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Lê Văn Công
  2. Bà Nguyễn Thị Thọ

- Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Lê Anh Thơ - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bà Rịa, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bà Rịa, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh H– Kiểm sát viên.

Ngày 07 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bà Rịa, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, xét xử công khai vụ án hình sự thụ lý số: 72/2024/HS-ST ngày 22 tháng 5 năm 2024 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 73/2024/QĐXXST-HS ngày 27 tháng 5 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Bà Rịa đối với bị cáo:

NGUYỄN VĂN H1, sinh năm 1992 tại Bà Rịa - Vũng Tàu; Hộ khẩu thường trú: khu phố H, phường L, thành phố B, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu;Chỗ ở: Không ổn định; nghề nghiệp: làm thuê; trình độ văn hóa: 01/12; dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Vợ là Nguyễn Thị Mỹ H2 và 02 con, con lớn sinh năm 2018, con nhỏ sinh năm 2019. Con ông Nguyễn Văn T và bà Nguyễn Thị Ngọc Y. Tiền sự: Không.

Tiền án: Ngày 16/11/2021 bị TAND thành phố Bà Rịa xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án hình sự sơ thẩm số 96/2021/HSST. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 19/3/2022.

Bị cáo bị tạm giữ ngày 04/3/2024, chuyển tạm giam ngày 13/3/2024, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố B. Có mặt

- Bị hại: Trung tâm Quản lý Hạ tầng kỹ thuật tỉnh B.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Phạm Đức Q- Chức vụ: Giám đốc

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Trần Văn P- Chức vụ: Chuyên viên phòng kế hoạch-Kỹ thuật. Địa chỉ: 7, B, phường A, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu(Giấy ủy quyền ngày 5/3/2004). Ông P có mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do không có việc làm và thu nhập ổn định nên Nguyễn Văn H3 nảy sinh ý định đi trộm cắp tài sản bán lấy tiền tiều xài. Vào lúc 15 giờ ngày 04/03/2024, H3 điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Vison màu trắng (không rõ biển kiểm soát) chở theo Lý Thị Kim T1 (chưa rõ lai lịch) di chuyển trên các tuyến đường thuộc phường K, thành phố B để trộm cắp các tấm đan gang hố thu nước mặt đường. Khi đi đến đoạn đường tuyến tránh QL56 thuộc phường K, thành phố B, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, H3 dừng xe bên đường, T1 đứng coi xe rồi H3 sử dụng 01 cây sắt có bản dẹp 01 đầu và 01 khóa lục giác hình chữ L để lấy trộm tấm đan, khi H3 đang chuẩn bị lấy tấm đan thì bị tổ tuần tra Công an phường K phát hiện, Lý Thị Kim T1 điều khiển xe bỏ chạy.

Tại cơ quan Công an, Nguyễn Văn H3 đã tự thú về hành vi trộm cắp tấm đan gang hố thu nước mặt đường trên địa bàn phường K, cụ thể như sau:

Vụ thứ nhất: Vào tháng 02 năm 2024, H3 không nhớ rõ ngày, H3 điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Vison màu trắng (không rõ biển kiểm soát) chở theo Lý Thị Kim T1 đến khu vực đường L thuộc khu phố H, phường K, thành phố B, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. Tại đây, T1 đứng cảnh giới còn H3 sử dụng 01(một) cây sắt có bản dẹp một đầu và 01(một) khóa lục giác hình chữ L để lấy trộm 01 tấm đan gang hố thu nước mặt đường kích thước 350x550x45(mm) trên đường L. Sau đó, H3 bán tấm đan gang trộm cắp được cho một người phụ nữ mua phế liệu dạo (chưa rõ lai lịch) với giá 220.000₫ ( Hai trăm hai mươi ngàn đồng), số tiền này H3 đã tiêu xài hết.

Vụ thứ hai: trong khoảng thời gian từ ngày 26/02/2024 đến ngày 29/02/2024, H3 điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Vison màu trắng không rõ biển kiểm soát chở theo Lý Thị Kim T1 đến khu vực đường L thuộc khu phố H, phường K, thành phố B, tỉnh BR-VT và sử dụng 01 cây sắt có bản dẹp 01 đầu và 01 khóa lục giác hình chữ L để lấy trộm 01(một) tấm đan gang hố thu nước mặt đường kích thước 350x550x45(mm), cùng loại với tấm đan gang H3 đã trộm cắp trước đó. H3 cũng đem bán tấm đan gang lấy trộm được cho cho một người phụ nữ mua phế liệu dạo(chưa rõ lai lịch) với giá 220.000₫ (Hai trăm hai mươi ngàn đồng). Sau khi bán tài sản trộm cắp, H3 cho T1 150.000 đồng, số tiền còn lại H3 tiêu xài hết.

Tại Kết luận định giá tài sản số 82/KL-HĐĐGTS ngày 04/4/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố B xác định: 01 tấm đan gang hố thu nước mặt đường kích thước 350x550x45(mm), trị giá 1.238.481₫ (Một triệu hai trăm ba mươi tám ngàn bốn trăm tám mươi mốt đồng) tại thời điểm tháng 02/2024.

Đồ vật, tài liệu tạm giữ:

  • 01 cây sắt có một đầu tù và một đầu dẹt (kích thước dài 26cm, đường kính 1,6cm);
  • 01 khóa lục giác hình chữ L loại 12mm;

Đối với chiếc xe mô tô hiệu Vision (không rõ biển số) H3 sử dụng làm phương tiện đi trộm cắp tài sản. Quá trình điều tra, H3 khai nhận chiếc xe này là của Lý Thị Kim T1, khi bị lực lượng tuần tra Công an phường K phát hiện, T1 điều khiển xe bỏ chạy nên không thu giữ được.

Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bà Rịa ra Quyết định chuyển những vật chứng nêu trên đến Chi cục thi hành án dân sự thành phố Bà Rịa bảo quản chờ xử lý.

Về dân sự: ông Trần Văn P đại diện uỷ quyền của Trung tâm quản lý Hạ tầng kỹ thuật tỉnh B, đơn vị quản lý hệ thống thoát nước tuyến đường L thuộc phường K, thành phố B, yêu cầu Nguyễn Văn H3 bồi thường số tiền 3.586.000đ(Ba triệu năm trăm tám mươi sáu ngàn đồng) tương ứng chi phí mua mới một tấm đan gang hố thu nước mặt đường để thay thế là 1.793.000đ(Một triệu bảy trăm chín mươi ba ngàn đồng)/tấm.

Tại bản Cáo trạng số 81/CT-VKSBR ngày 20-5-2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố phố Bà Rịa, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu truy tố bị cáo Nguyễn Văn H3 về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố. Đề nghị, Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn H3 phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm r, s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự; Đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H3 từ 09 đến 12 tháng tù. Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy : 01 cây sắt có một đầu tù và một đầu dẹt ( kích thước dài 26cm, đường kính 1,6cm); 01 khóa lục giác hình chữ L loại 12mm; Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo Nguyễn Văn H3 bồi thường cho bị hại là 3.586.000₫.

Tại phiên tòa: Bị cáo thành khẩn khai báo, thật sự ăn năn hối cải, khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố; bị cáo đồng ý bồi thường cho bị hại số tiền là 3.586.000đ(Ba triệu năm trăm

tám mươi sáu ngàn đồng); bị cáo không tranh luận gì thêm mà xin được giảm nhẹ hình phạt để sớm về với gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bà Rịa, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi của bị cáo: Tại phiên tòa bị các thừa nhận hành vi phạm tội, lời thừa nhận của bị cáo phù hợp với nội dung bản cáo trạng, phù hợp lời khai bị hại, kết luận giám định và các tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa có cơ sở xác định:

Bị cáo Nguyễn Văn H3 đã có một tiền án về tội “Trộm cắp tài sản”, chưa được xóa án tích và trong thời gian từ tháng 02/2024 đến tháng 03/2024 tại Đường L, thuộc khu phố H, phường K, thành phố B, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu . Bị cáo Nguyễn Văn H3 đã nhiều lần lén lút chiếm đạt tài sản của Trung tâm Quản lý Hạ tầng kỹ thuật tỉnh B cụ thể:

Lần thứ nhất: Vào tháng 02/2024 chiếm đoạt 01 tấm gang hố thu nước mặt đường kích thước 350 x550 x45(mm), trị giá 1.238.481đ (Một triệu hai trăm ba mươi tám ngàn, bốn trăm tám mươi mốt đồng)

Lần thứ hai: Trong khoảng thời gian từ ngày 26/02/2024 đến ngày 29/02/2024,Nguyễn Văn H3 đã chiếm đoạt 01 tấm đan gang hố thu nước mặt đường kích thước 350x550x45(mm) trị giá 1.238.481đ (Một triệu hai trăm ba mươi tám ngàn bốn trăm tám mươi mốt đồng).

Lần thứ ba: Vào ngày 04/3/2024, Nguyễn Văn H3 đang chuẩn bị thực hiện hành vi trộm cắp thì bị phát hiện.

Như vậy, có căn cứ xác định hành vi của bị cáo Nguyễn Văn H3 đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ tuật hình sự

[3] Về tính chất, mức độ của hành vi phạm tội: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác, gây mất trật tự an ninh tại địa phương. Vì vậy, cần xử phạt bị cáo bằng hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ hành vi của bị cáo nhằm giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

[4] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo thực hiện nhiều lần hành vi trộm cắp tài sản, mỗi lần trộm cắp giá trị tài sản chiếm đoạt dưới 2.000.000đ, chưa đủ căn cứ xác định các hành vi trộm cắp được thực hiện kế tiếp, liên tục về mặt thời gian. Theo khoản 2 Điều 52 Bộ luật hình sự bị cáo có tiền án về tội “Trộm cắp tài sản” đã được xem xét là tình tiết định tội nên không coi là tình tiết tăng nặng. Nên không áp dụng tình tiết tăng nặng “Phạm tội 02 lần trở lên” theo điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Do vậy, bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự

[5] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo tự nguyện khai báo về hành vi phạm tội của mình trước khi bị phát hiện là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được áp dụng theo điểm s,r theo khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

[6] Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo gây thiệt hại và đồng ý bồi thường cho bị hại số tiền là 3.586.000đ, nên ghi nhận.

[7] Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy: 01 cây sắt có một đầu tù và một đầu dẹt (kích thước dài 26cm, đường kính 1,6cm); 01 khóa lục giác hình chữ L loại 12mm;

[8] Về án phí sơ thẩm: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm và dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1-Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn H3 phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

- Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s,r khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự

-Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn H3 12(mười hai) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 04/3/2024.

2-Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 Bộ luật hình sự; Điều 584,586 và 587 Bộ luật dân sự

Buộc bị cáo Nguyễn Văn H3 bồi thường cho bị hại là Trung Tâm Quản lý Hạ tầng kỹ thuật tỉnh B số tiền là 3.586.000đ(Ba triệu, năm trăm tám mươi sáu ngàn đồng)

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 357 Bộ luật Dân sự

3-Xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật hình sự và Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự;

Tịch thu tiêu hủy: 01 cây sắt có một đầu tù và một đầu dẹt (kích thước dài 26cm, đường kính 1,6cm); 01 khóa lục giác hình chữ L loại 12mm;

(Các vật chứng trên Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bà Rịa, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu đang tạm giữ theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 21-5-2024).

4-Án phí: Buộc bị cáo Nguyễn Văn H3 phải nộp 200.000₫ (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 300.000đ(Ba trăm ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

5- Quyền kháng cáo: Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu xét xử phúc thẩm

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • TAND tỉnh BR-VT;
  • VKSND tỉnh BR-VT;
  • Sở Tư pháp tỉnh BR-VT;
  • VKSND thành phố Bà Rịa;
  • Công an thành phố Bà Rịa;
  • Công an tỉnh BRVT(PV 06,PC 10)
  • CCTHA dân sự thành phố Bà Rịa;
  • UBND cấp xã nơi bị cáo cư trú;
  • Bị cáo; các đương sự;
  • Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Trọng Anh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 66/2024/HS-ST ngày 07/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BÀ RỊA, TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU về trộm cắp tài sản (criminal case)

  • Số bản án: 66/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Criminal Case)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 07/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BÀ RỊA, TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn Hậu-Trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger