Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH THÁI BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 66/2024/HS-PT

Ngày: 05/9/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Ngô Thế Tương;

Các Thẩm phán: Bà Đỗ Thị Hà và bà Nguyễn Thị Minh Huệ

Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thị Thùy Dung - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình tham gia phiên tòa:

Ông Đỗ Xuân Trường - Kiểm sát viên.

Ngày 05 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 125/2024/TLPT-HS ngày 14 tháng 8 năm 2024 đối với bị cáo Khổng Minh H do có kháng cáo của bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số 94/2024/HS-ST ngày 11 tháng 7 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình.

Bị cáo có kháng cáo:

Khổng Minh H, sinh năm 1998; Nơi cư trú: Thôn A, xã T, huyện V, thành phố Hải Phòng; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 11/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông Khổng Minh K, sinh năm 1965 và bà Hoàng Thị T, sinh năm 1978; Có vợ là Nguyễn Thị Lan A, sinh năm 1999; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 29/3/2024 đến ngày 04/4/2024 được thay thế bằng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú. Hiện đang bị tạm giam theo Lệnh tạm giam số 77 ngày 09/8/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình về hành vi cướp giật tài sản ngày 02/8/2022. Bị cáo được trích xuất có mặt tại phiên tòa.

Ngoài ra, trong vụ án còn có bị hại không kháng cáo, không triệu tập.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Sáng ngày 29/3/2024, Khổng Minh H đi xe mô tô nhãn hiệu Honda Airblade, sơn màu đen, không gắn biển kiểm soát từ nhà đến huyện T, tỉnh Thái Bình để trộm cắp tài sản mang bán lấy tiền chi tiêu cá nhân. Khoảng 11 giờ, H đi đến khu vực cánh đồng, thuộc thôn T, Xã T, huyện T, H nhìn thấy 01 chiếc xe máy điện nhãn hiệu 133S, sơn màu đen của chị Nguyễn Thị N dựng ở sát mép đường bên phải, theo chiều đi của H. Quan sát thấy đường vắng, chị N đang làm cỏ dưới ruộng, cách vị trí để xe máy điện khoảng 200m; H dùng xe, đi đến chỗ để xe máy điện, dùng 02 tay bật phần nắp nhựa màu đen ở chỗ để chân của xe máy điện, giật dây điện đấu nối giữa các bình ắc quy với xe máy điện ra, lấy 02 bình ắc quy nhãn hiệu Tsun, loại 6-FD-30, vỏ màu đen cho vào trong cốp xe mô tô, rồi điều khiển xe đi nhanh về phía thị trấn D. Ngay lúc đó, chị N phát hiện, tri hô và đuổi theo nhưng không kịp.H tiếp tục điều khiển xe mô tô đến khu vực cánh đồng, thuộc địa phận tổ dân phố H, thị trấn D; nhìn thấy có 02 chiếc xe máy điện nhãn hiệu Momentin, sơn màu đỏ - đen để cạnh nhau (01 chiếc của bà Nguyễn Thị T1, sinh năm 1963; 01 chiếc của bà Tạ Thị H1, sinh năm 1962, cùng trú tại thôn T, xã T, huyện T) dựng ở trên bờ ruộng bên đường; H quan sát xung quanh thấy không có ai, H đi đến chỗ xe máy điện của bà T1, H dùng 02 tay bật phần nắp nhựa màu đen ở chỗ để chân của xe máy điện, giật dây điện đấu nối giữa các bình ắc quy với xe máy điện ra lấy được 01 hộp nhựa màu đen, có in dòng chữ "GIANT" trên nắp hộp, kích thước (36 x 20,5 x 11,5)cm, bên trong có 04 bình ắc quy nhãn hiệu Tsun, loại 6-FD-14, vỏ màu đen. Sau đó H đi đến vị trí để xe máy điện của bà H1 và cũng lấy được 01 hộp nhựa màu đen (không có nắp), bên ngoài được quấn dây chì màu đen, kích thước (36 x 20,5 x 11,5)cm, bên trong có 04 bình ắc quy nhỏ H để 02 chiếc hộp chứa các bình ắc quy lên gac-ba-ga xe mô tô của mình rồi điều khiển xe đi thì bị bà T1, bà H1 phát hiện, tri hô; người dân xung quanh biết việc và cùng với tổ công tác Công an thị trấn D đi tuần tra đuổi theo, bắt quả tang và thu giữ toàn bộ tang vật gồm 10 bình ắc quy và 02 hộp nhựa; 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Airblade. Cơ quan điều tra đã xử lý vật chứng, trả lại tài sản (bình ắc quy và hộp nhựa) cho người bị hại; đối với chiếc xe mô tô, tài liệu điều tra xác định là tài sản của chị Khổng Thị Q, sinh năm 2003, trú tại thôn A, xã T, huyện V, thành phố Hải Phòng (em gái bị cáo); chị Q không biết việc bị cáo đi trộm cắp tài sản, Cơ quan điều tra đã trả lại xe mô tô cho chị Q.

Bản kết luận định giá tài sản số 09/KL-HĐĐGTS ngày 03/4/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện T kết luận: “02 bình ắc quy nhãn hiệu Tsun, loại 6-FD-30, vỏ màu đen, đã qua sử dụng của chị Nguyễn Thị N trị giá 834.000; 08 bình ắc quy nhãn hiệu Tsun, loại 6-FD-14, vỏ màu đen và 02 chiếc hộp đựng bình ắc quy bằng nhựa màu đen, đã qua sử dụng của bà Nguyễn Thị T1 và bà Tạ Thị H1 trị giá 2.730.000 đồng. Tổng tài sản trị giá 3.564.000 đồng"

Bản án hình sự sơ thẩm số 94/2024/HS-ST ngày 11/7/2024 của Tòa án nhân dân huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình đã quyết định:

  • - Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Khổng Minh H phạm tội “Trộm cắp tài sản";
  • - Về hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm h, s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 50 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Khổng Minh H 01 năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo thi hành án nhưng được trừ đi 06 ngày tạm giữ từ 29/3/2024 đến 04/4/2024.

Ngoài ra bản án sơ thẩm còn quyết định về án phí và tuyên quyền kháng cáo theo luật định.

Ngày 22/7/2024, bị cáo Khổng Minh H kháng cáo xin được giảm nhẹ hình phạt. Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo của mình.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình sau khi phân tích toàn bộ nội dung vụ án, đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội mà các bị cáo đã gây ra, xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà bị cáo được hưởng, cũng như nhân thân của bị cáo, Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng Hình sự, chấp nhận kháng cáo của bị cáo, sửa bản án sơ thẩm về mức hình phạt, giảm cho bị cáo 03 tháng tù.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thủ tục kháng cáo: Đơn kháng cáo của bị cáo làm và gửi đến Tòa án trong thời hạn luật định là hợp lệ, nên được xem xét theo trình tự xét xử phúc thẩm.

[2]Về nội dung: Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo H thừa nhận hành vi phạm tội của mình như bản án sơ thẩm đã mô tả. Trong khoảng thời gian từ 11 giờ 00 phút đến 11 giờ 20 phút ngày 29/3/2024, tại thôn T, xã T và thị trấn D, huyện T, lợi dụng sự mất cảnh giác của các bị hại, bị cáo đã có hành vi lén lút chiếm đoạt 10 chiếc bình ắc quy trị giá 3.564.000 đồng. Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo Khổng Minh H về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.

[3] Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy: Trong giai đoạn điều tra cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội, thái độ ăn năn hối cải, tài sản bị chiếm đoạt đã được cơ quan điều tra quản lý và trả lại cho bị hại nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Tòa án cấp sơ thẩm đã đánh giá tính chất, mức độ hậu quả hành vi phạm tội, căn cứ nhân thân, áp dụng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để xử phạt bị cáo 01 năm tù là có phần nghiêm khắc. Xét thấy tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo tiếp tục thể hiện thái độ thành khẩn, ăn năn hối cải, tài sản chiếm đoạt có giá trị không lớn và đã được thu hồi ngay, chưa gây thiệt hại, do đó cần áp dụng điểm b khoản 1 Điều 355, điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng Hình sự, chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giảm cho bị cáo một phần hình phạt như đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát là phù hợp.

[4] Về án phí: Do kháng cáo của bị cáo được chấp nhận, nên bị cáo H không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

[5] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

[6] Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 355, điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng Hình sự, chấp nhận kháng cáo của bị cáo Khổng Minh H, sửa bản án sơ thẩm số 94/2024/HS-ST ngày 11 tháng 7 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình.
  2. Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm h, s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 50 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Khổng Minh H 07 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo thi hành án nhưng được trừ đi 06 ngày tạm giữ từ 29/3/2024 đến 04/4/2024.
  3. Về án phí: Áp dụng Điều 135 và Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; điểm h khoản 2 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, bị cáo Khổng Minh H không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
  4. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
  5. Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Thái Bình;
  • - TA, VKS, CA, THADS h. Thái Thụy;
  • - Bị cáo kháng cáo;
  • - Bị hại;
  • - Lưu hồ sơ vụ án;
  • - Lưu HCTP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Ngô Thế Tương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 66/2024/HS-PT ngày 05/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 66/2024/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 05/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Khổng Minh H
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger