Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH TRÀ VINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 66/2024/HS-PT

Ngày: 02 -12 -2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TRÀ VINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Mến

Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Văn Thành

Ông Huỳnh Đắc Đương

- Thư ký phiên tòa: Ông Đinh Duy Quyền - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Trà Vinh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Trà Vinh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Đoàn - Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Trà Vinh mở phiên tòa xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 78/2024/HSPT, ngày 17 tháng 10 năm 2024 đối với bị cáo Trần Nguyễn Hoàng B, bị cáo Trầm Đăng K do có kháng cáo của bị cáo Trần Nguyễn Hoàng B, bị cáo Trầm Đăng K đối với bản án hình sự sơ thẩm số: 71/2024/HSST ngày 04/9/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Trà Vinh, tỉnh Trà Vinh.

- Bị cáo có kháng cáo:

1. Trần Nguyễn Hoàng B, sinh ngày 23/9/2006, tại tỉnh Vĩnh Long. Nơi cư trú: ấp X, xã H, huyện C, tỉnh Trà Vinh; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 8/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Phật giáo; quốc tịch: Việt Nam; giới tính: Nam; con ông Trần Vĩnh N, sinh năm 1974 và bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1984; tiền án: không; tiền sự: không; bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 17/4/2024 cho đến đến nay, bị cáo có mặt tại phiên tòa.

2. Trầm Đăng K, sinh ngày 17/3/2007, tại tỉnh Trà Vinh. Nơi cư trú: số B, khóm G, phường F, thành phố T, tỉnh Trà Vinh; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; giới tính: Nam; con ông Trầm Nhựt K1, sinh năm 1987 và bà Nguyễn Thị Mỹ L, sinh năm 1987; tiền án: không; tiền sự: không; bị cáo bị cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 08/4/2024 cho đến đến nay, bị cáo tại ngoại có mặt tại phiên tòa.

Người đại diện hợp pháp của bị cáo Trầm Đăng K: Bà Nguyễn Thị Mỹ L, sinh năm 1987. Nơi cư trú: Số: 24, khóm G, phường F, thành phố T tỉnh Trà Vinh (mẹ của bị cáo Trầm Đăng K) (có mặt).

Người bào chữa cho bị cáo Trầm Đăng K: Bà Phan Thị Cẩm T, Luật sư của Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh T (có mặt).

Ngoài ra trong vụ án còn các bị cáo, bị hại, người đại diện hợp pháp cho bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan do không có kháng cáo và không liên quan đến kháng cáo, không có kháng nghị nên không triệu tập ra phiên tòa phúc thẩm.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 20 giờ 30 phút ngày 01/7/2023, bị cáo Nguyễn Ngọc T1 đã tập hợp nhóm của mình tại nhà của Kiên Thị Huỳnh C (sinh ngày 23/12/2004, nơi thường trú: số C, khóm H, phường G, thành phố T, tỉnh Trà Vinh, là vợ T1) để giải quyết mâu thuẫn với nhóm của Lý Chí T2, gồm có:

  1. Nguyễn Huy H1, sinh ngày 05/4/2008, nơi thường trú: số A, khóm G, phường F, thành phố T, tỉnh Trà Vinh;
  2. Nguyễn Hoàng N1, sinh ngày 25/6/2008, nơi thường trú: khóm 5, phường 9, thành phố Trà Vinh, tỉnh Trà Vinh;
  3. Thang Vĩnh Lộc, sinh ngày 25/9/2007, nơi thường trú: số 59D, khóm I, phường F, thành phố T, tỉnh Trà Vinh;
  4. Trầm Đăng K, sinh ngày 17/3/2007, nơi thường trú: số B, khóm G, phường F, thành phố T, tỉnh Trà Vinh;
  5. Bùi Hữu N2, sinh ngày 29/8/2008, nơi thường trú: khóm F, phường G, thành phố T, tỉnh Trà Vinh;
  6. Trần Hoàn M, sinh ngày 22/5/2008, nơi thường trú: số E, khóm H, phường F, thành phố T, tỉnh Trà Vinh;
  7. Nguyễn Toàn Q, sinh ngày 10/10/2008, nơi thường trú: số A, khóm A, phường I, thành phố T, tỉnh Trà Vinh;
  8. Sơn Văn C1, sinh ngày 29/11/2003, nơi thường trú: ấp B, xã Đ, huyện D, tỉnh Trà Vinh;
  9. Thạch Thị Lin Đ, sinh ngày 09/3/2004, nơi thường trú: số G, khóm A, phường G, thành phố T, tỉnh Trà Vinh;
  1. Trần Quốc T3, sinh ngày 02/7/2008, nơi thường trú: số B, khóm A, phường I, thành phố T, tỉnh Trà Vinh.

Sau khi tập hợp xong, bị cáo T1 kêu cả nhóm đi đến khu vực khán đài đua ghe ngo tại bờ kè sông L rồi bị cáo T1 lấy ra 01 (một) cái vỏ, loại vỏ chứa cần câu, bên trong có: 01 (một) ống tuýp sắt; 03 (ba) cây dao tự chế; 01 (một) cây dao cắt thịt; 01 (một) cây búa tự chế và 01 (một) cây kéo và một kết vỏ chai bia (loại thủy tinh). Sau đó Thang Vĩnh L1 mang vỏ bao chứa hung khí cùng cả nhóm đi bộ đến hẻm A, đường Đ, khóm H, phường F, thành phố T, tỉnh Trà Vinh cất giấu hung khí rồi đi ra đầu hẻm đợi nhóm của Lý Chí T2 đến.

Đối với nhóm của Lý Chí T2, sau khi nghe T2 nói có mâu thuẫn với nhóm của bị cáo T1 và có hẹn đánh nhau nên bị cáo Lâm Hoàng Đ1 đã thông báo cho những người bạn trong nhóm tập hợp tại hẻm B, đường P thuộc khóm A, phường G, thành phố T, tỉnh Trà Vinh và chuẩn bị sẵn hung khí để đi đánh nhau nhưng lúc này bị cáo Lý Chí T2 không có mặt nên không có tham gia. Lúc đi, Thạch Lâm Nhựt T4 (sinh ngày 16/8/2007, nơi thường trú: khóm D, phường G, thành phố T, tỉnh Trà Vinh) điều khiển xe mô tô loại MIO đem theo cây côn nhị khúc tự chế, có hai đoạn kim loại hình trụ tròn, kích thước mỗi đoạn 40cm, đường kính 2,5cm, được nối với nhau bằng 01 sợi dây xích bằng kim loại dài 39cm, trên hai đầu thanh kim loại được quấn băng keo nhựa, màu đen, để trên xe và chở 03 (ba) người ngồi sau gồm: bị cáo Trần Hữu P (cầm cây dao tự chế, tổng chiều dài 46cm, cán bằng gỗ dài 13,5cm, lưỡi dao bằng kim loại dài 32,5cm, có một cạnh sắc, mũi dao bằng, bề rộng nhất lưỡi dao 6,2cm, bề hẹp nhất lưỡi dao 2,8cm); Kim Ngọc S (cầm theo cây dao tự chế dài khoảng 1,6m được hàn cán bằng ống tuýp sắt) và bị cáo Lâm Hoàng Đ1 (cầm theo cây dao tự chế bằng kim loại, tổng chiều dài 108,5cm, cán bằng kim loại hình trụ tròn dài 61,5cm, đường kính 2,7cm (loại ống tuýp), lưỡi dao bằng kim loại dài 47cm, mũi dao nhọn, phần rộng nhất lưỡi dao 05cm, phần hẹp nhất lưỡi dao 3,2cm). Ngoài ra, còn có Giang Lê M1 (sinh ngày 05/7/2008, nơi thường trú: ấp C, xã V, huyện C, tỉnh Trà Vinh) điều khiển xe Sirius chở 03 (ba) người ngồi sau gồm: Thạch Tấn N3 (cầm cây dao tự chế dài khoảng 70cm, cán bằng ống tuýp được hàn với lưỡi dao, sắc bén một cạnh, mũi dao nhọn), bị cáo Nguyễn Trọng N4 (cầm cây dao tự chế tổng chiều dài 47,5cm, cán dao bằng gỗ dài 13 cm, lưỡi dao bằng kim loại, sắc bén một cạnh, mũi dao nhọn dài 34,5cm, trên lưỡi dao có nhiều rãnh và lỗ, bản rộng nhất lưỡi dao 6,7cm, bản hẹp nhất lưỡi dao 2,9cm) và bị cáo Trần Nguyễn Hoàng B, (cầm cây dao tự chế tổng chiều dài 90cm, cán bằng gỗ dài 41cm, lưỡi dao bằng kim loại có một cạnh sắc, dài 39cm, mũi dao bằng, phần rộng nhất lưỡi dao 6,8cm, phần hẹp nhất lưỡi dao 2,8cm). Tổng cộng có 08 người đi trên 02 xe mô tô, xe của G Lê Minh chạy trước đi từ đường P chạy ra đường N hướng về cầu L rồi rẽ trái vào đường Đ, khi đến trước kho vật liệu xây dựng Hai Y thì thấy nhóm của bị cáo T1 đứng

trên đường Đ nên cả hai nhóm đồng thanh la lớn “chém chết mẹ tụi nó”, rồi cả ba bị cáo Nguyễn Trọng N4, Thạch Tấn N3 và Trần Nguyễn Hoàng Bửu N5 xuống xe trên tay cầm dao tự chế rượt đuổi nhóm bị cáo T1 bỏ chạy vào hẻm A, bị cáo Nguyễn Trọng N4 kêu Giang Lê M1 quay xe lại rồi cả 03 leo lên xe định chạy đi thì nhóm của bị cáo T1 từ trong hẽm 194 chạy ra bị cáo T1 cầm đoạn ống tuýp sắt, C1 cầm cây búa tự chế, còn Vĩnh L1, Quốc T3 mỗi người cầm cây dao tự chế, bị cáo K cầm cây búa tự chế, Hữu N2, Hoàn M cầm vỏ chai bia, bị cáo T1 cầm võ chai bia ném trúng vào xe của G Lê Minh L2 cho cả người và xe ngã xuống đường, bị cáo T1 chạy đến cầm đoạn ống tuýp đánh vào nhóm người của G Lê M1 nhưng không trúng, bị cáo Tấn N3, bị cáo Trọng N4, bị cáo Hoàng Bửu Đ2 dậy trên tay cầm dao rượt đuổi nhóm bị cáo T1 bỏ chạy, lúc này xe của Nhựt T4 vừa chạy đến và những người ngồi trên xe nhảy xuống cùng tham gia rượt đuổi nhóm của bị cáo T1 chạy vào bên trong hẻm A, khi chạy được khoảng 50m thì Nguyễn Toàn Q là người trong nhóm T1 chạy vào một căn chòi bên trái trốn thì bị cáo Nguyễn Trọng N4 đuổi theo và cầm dao tự chế chém vào tay trái làm cho Nguyễn Toàn Q bị thương 03 ngón tay trái với tỷ lệ thương tích là 12%. Sau khi chém Nguyễn Toàn Q xong, bị cáo Nguyễn Trọng N4 chạy ra đường Đ rồi lên xe chạy đi, riêng Nguyễn Toàn Q được người thân đưa đến Bệnh viện đa khoa tỉnh T cấp cứu và điều trị đến ngày 03/7/2023 thì xuất viện.

Tại bản án hình sự sơ thẩm số: 71/2024/HSST ngày 04/9/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Trà Vinh, tỉnh Trà Vinh đã quyết định:

Tuyên bố bị cáo Trần Nguyễn Hoàng Bửu T5 “Cố ý gây thương tích” và tội “ Gây rối trật tự công cộng”.

Căn cứ: Điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b khoản 2 Điều 318; điểm b,s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 91; Điều 101; Điều 17; điều 55, Điều 56 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Trần Nguyễn Hoàng B 02 (hai) năm tù tội “Cố ý gây thương tích”, 02 (hai) năm tù tội “Gây rối trật tự công cộng”. Buộc bị cáo chấp hành 02 (hai) năm 03 (hai) tháng tù theo Bản án số: 45/2024/HSST ngày 31/5/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Trà Vinh, tỉnh Trà Vinh về tội “Cố ý gây thương tích” và tội “ Gây rối trật tự công cộng”. Tổng hợp hình phạt chung bị cáo phải chấp hành là 06 (sáu) năm 03 (ba) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 17/4/2024.

Tuyên bố bị cáo Trầm Đăng K tội “Gây rối trật tự công cộng”.

Căn cứ: Điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 17 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Trầm Đăng K 02 (hai) năm tù tội “Gây rối trật tự công cộng”, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án.

Ngày 18/9/2024, bị cáo Trần Nguyễn Hoàng B kháng cáo yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Ngày 19/9/2024, bị cáo Trầm Đăng K kháng cáo yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo Trần Nguyễn Hoàng B, bị cáo Trầm Đăng K đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung bản án sơ thẩm. các bị cáo giữ nguyên yêu cầu kháng cáo xin được giảm nhẹ hình phạt, bị cáo K cung cấp thêm tình tiết gia đình khó khăn; Cấp phúc thẩm gia đình bị cáo B cung cấp thêm có nhiều người thân có công với cách mạng ngoài ra hai bị cáo không cung cấp tài liệu, chứng cứ tại phiên tòa phúc thẩm.

Quan điểm đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Trà Vinh:

Sau khi xem xét toàn diện nội dung vụ án, lời trình bày của bị cáo và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Xét thấy Tòa án cấp sơ thẩm xử bị cáo Trần Nguyễn Hoàng Bửu T5 “Cố ý gây thương tích” và tội “Gây rối trật tự công cộng” theo Điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017, bị cáo Trầm Đăng K tội “Gây rối trật tự công cộng” theo Điểm b khoản 2 Điều 318 là có căn cứ đúng pháp luật. Tại phiên tòa phúc hôm nay bị cáo trình bày các tình tiết giảm nhẹ để xin được giảm nhẹ, xét thấy những tình tiết mà bị cáo trình bày tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay đã được Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng cho bị cáo, vì vậy tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay bị cáo không cung cấp thêm tình tiết giảm nhẹ nào đặc biệt mới. Tính chất của vụ án là rất nghiêm trọng, hành vi của các bị cáo ảnh hưởng rất lớn đến tình hình trật tự xã hội, an ninh chính trị ở địa phương. Vì vậy phải có mức hình phạt nghiêm khắc để răng đe và phòng ngừa chung cho xã hội. Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng đầy đủ các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ cho các bị cáo. Kiểm sát viên nhận thấy mức hình phạt mà Tòa án cấp sơ thẩm đã xử bị cáo Trần Nguyễn Hoàng B và bị cáo Trầm Đăng K là đúng tính chất, đúng với hành vi phạm tội của bị cáo cũng không cần đề xuất để tăng nặng hay giảm nhẹ. Từ những phân tích nêu trên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự. Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị cáo Trần Nguyễn Hoàng B, bị cáo Trầm Đăng K, giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm Tòa án nhân dân thành phố Trà Vinh, tỉnh Trà Vinh.

Quan điểm người bào chữa cho bị cáo Trầm Đăng K:

Người bào chữa hoàn toàn thống nhất với tội danh và khung hình phạt mà Tòa án cấp xét xử phúc thẩm xử phạt bị cáo. Tuy nhiên Tòa án cấp xét xử sơ thẩm xử phạt bị cáo 02 năm tù là quá nghiêm khắc. Do đó tại phiên Tòa hôm nay xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ cho bị cáo. Bởi vì trong vụ án này xuất phát không phải từ riêng cá nhân của

bị cáo, bị cáo không có bàn bạc trước, cũng như bị cáo không chuẩn bị hung khí. Tuy bị cáo K có cầm dao tự chế nhưng khi bị rượt đuổi bị cáo không tấn công mà bỏ chạy vì vậy vai trò của bị cáo trong vụ án này là thứ yếu. Hoàn cảnh gia đình của K khó khăn, cha mẹ ly hôn từ sớm, mẹ K phải làm thuê để gánh vác cuộc sống gia đình. Bị cáo K có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, đây là lần vi phạm lần đầu của Bị cáo. Tại thời điểm phạm tội bị cáo K là người chưa thành niên, xét về nhận thức bị cáo K còn nhiều hạn chế. Ngoài ra trong quá trình tố tụng từ khi khởi tố, truy tố và xét xử tại phiên tòa hôm nay bị cáo K đã nhận thức được lỗi lầm của bản thân, luôn thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội và mong nhận được sự khoan hồng của pháp luật. Từ những phân tích trên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm s khoản 1, Điều 51, khoản 2 Điều 51, Điều 91, Điều 101 Bộ luật hình sự năm 2015, xem xét và giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, xử phạt bị cáo không qua ¾ mức hình phạt thấp nhất của khung hình phạt, mong Hội đồng xét xử xem xét.

Lời nói sau cùng của bị cáo Trần Nguyễn Hoàng B, bị cáo Trầm Đăng K: Bị cáo đã ăn năn hối cải, bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ cho bị cáo để bị cáo sớm về hòa nhập với cộng đồng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Đơn kháng cáo của các bị cáo là còn trong thời hạn luật định nên được Hội đồng xét xử chấp nhận xem xét theo thủ tục phúc thẩm.

[2] Đối với yêu cầu kháng cáo của bị cáo Trần Nguyễn Hoàng B, bị cáo Trầm Đăng K Hội đồng xét xử xét thấy: Tại phiên tòa hôm nay các bị cáo Trần Nguyễn Hoàng B, bị cáo Trầm Đăng K thừa nhận: Vào khoảng 20 giờ 00 phút ngày 01/7/2023, tại khu vực thuộc khóm H, phường F, thành phố T, tỉnh Trà Vinh, hai bị cáo đã tập trung nhiều người la hét gây náo loạn cả khu vực và dùng nhiều hung khí như: dao tự chế, kéo, côn nhị khúc, vỏ chai bia để tấn công, rượt đuổi nhau. Nhóm của bị cáo B đã dùng dao chém em Nguyễn Toàn Q bị thương 03 ngón tay trái với tỷ lệ thương tật là 12% và gây mất an ninh trật tự tại địa phương làm cho người dân trong khu vực lo sợ. Bản thân bị cáo B cầm dao tự chế là hung khí nguy hiểm, riên bị cáo K cầm búa để cùng nhau rượt đuổi tấn công, chém nhau. Do đó tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Trần Nguyễn Hoàng Bửu T5 “Cố ý gây thương tích” và tội “Gây rối trật tự công cộng” được quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật hình sự; bị cáo Trầm Đăng K tội “Gây rối trật tự công cộng” được quy định tại điểm b khoản 2 Điều 318 là phù hợp với quy định của pháp luật.

[3] Xét hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo biết. Tính chất nghiêm trọng, hiện nay tình hình thanh thiếu niên mâu thuẩn xảy ra trên thành phố T liên tục, ấm ức trong lòng của các bị cáo trả thù vì vậy các bị cáo đã thực hiện các hành vi xảy ra như nêu trên, nhiều nơi trên địa bàn thành phố tình hình tội phạm hết sức phức tạp do đó cần xử lý nghiêm để phòng ngừa và răng đe chung cho xã hội. Tại phiên Tòa ngày hôm nay mặc dù các bị cáo không có tình tiết tăng nặng và có nhìu tình tiết giảm nhẹ như thật thà khai báo, ăn năn hối cải, hoàn cảnh gia đình của bị cáo khó khăn. Tại phiên Tòa hôm nay gia đình bị cáo B có cung cấp thêm tình tiết gia đình có nhiều người có công với cách mạng, tuy nhiên các tình tiết của các bị cáo thuộc khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự, không có tình tiết đặc biệt mới. Với tính chất và tình tiết nêu trên vì vậy xét thấy yêu cầu kháng cáo của hai bị cáo là không có cơ sở. Do đó, Hội đồng xét xử không có chấp nhận yêu cầu kháng cáo xin được giảm nhẹ của bị cáo Trần Nguyễn Hoàng B và bị cáo Trầm Đăng K. Giữ nguyên Bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân thành phố Trà Vinh, tỉnh Trà Vinh.

[4] Đề nghị của Kiểm sát viên xét xử phúc thẩm phù hợp với tình tiết khách quan vụ án và nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Quan điểm của người bào chữa cho bị cáo Trầm Đăng K: Hội đồng xử án cân nhắc tuy nhiên với nhận định trên, tính chất vụ án và tình hình đấu tranh của loại tội phạm hết sức cần thiết đối với hành vi phạm tội của các thanh thiếu niên tại thành phố T. Vì vậy Hội đồng xét xử không chấp nhận giảm nhẹ hình phạt đối với bị cáo Trầm Đăng K.

[5] Về án phí: Do kháng cáo của bị cáo Trần Nguyễn Hoàng B và bị cáo Trầm Đăng K không được chấp nhận nên bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định pháp luật.

[6] Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị cáo Trần Nguyễn Hoàng B và bị cáo Trầm Đăng K.

Giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số: 71/2024/HSST ngày 04/9/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Trà Vinh, tỉnh Trà Vinh.

Tuyên bố bị cáo Trần Nguyễn Hoàng Bửu T5 “Cố ý gây thương tích” và tội “ Gây rối trật tự công cộng”.

Căn cứ: Điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b khoản 2 Điều 318; điểm b,s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 91; Điều 101; Điều 17; điều 55, Điều 56 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Trần Nguyễn Hoàng B 02 (hai) năm tù tội “Cố ý gây thương tích”, 02 (hai) năm tù tội “Gây rối trật tự công cộng”. Buộc bị cáo chấp hành 02 (hai) năm 03 (hai) tháng tù theo Bản án số: 45/2024/HSST ngày 31/5/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Trà Vinh, tỉnh Trà Vinh về tội “Cố ý gây thương tích” và tội “ Gây rối trật tự công cộng”. Tổng hợp hình phạt chung bị cáo phải chấp hành là 06 (sáu) năm 03 (ba) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 17/4/2024.

Tuyên bố bị cáo Trầm Đăng K tội “Gây rối trật tự công cộng”.

Căn cứ: Điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 17 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Trầm Đăng K 02 (hai) năm tù tội “Gây rối trật tự công cộng”, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án.

Về án phí phúc thẩm: Căn cứ Điều 136 Bộ tố tụng hình sự; Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Buộc bị cáo Trần Nguyễn Hoàng B và bị cáo Trầm Đăng K mỗi bị cáo phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự phúc thẩm.

Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Trà Vinh;
  • - TAND thành phố Trà Vinh;
  • - VKSND thành phố Trà Vinh;
  • - Cơ quan THAHS TP Trà Vinh;
  • - Phòng HS Công an tỉnh Trà Vinh;
  • - Cơ quan CSĐT thành phố Trà Vinh;
  • - Chi cục THADS TP Trà Vinh;
  • - Sở Tư pháp;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu HS, VT.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Văn Mến

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 66/2024/HS-PT ngày 02/12/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Trà Vinh về hình sự phúc thẩm (cố ý gây thương tích và gây rối trật tự công cộng)

  • Số bản án: 66/2024/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm (Cố ý gây thương tích và Gây rối trật tự công cộng)
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 02/12/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân tỉnh Trà Vinh
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: gây rối trật tự công công, cố ý gây thương tích
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger