TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂN UYÊN TỈNH BÌNH DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 66/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 02/7/2024
Về việc ly hôn, tranh chấp về
nuôi con
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂN UYÊN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Phạm Thị Hương Diệp.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Thanh Cần;
- Bà Võ Thị Hồng Tươi.
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Mỹ Hạnh, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Võ Anh Duy, Kiểm sát viên.
Ngày 02 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 185/2024/TLST-HNGĐ ngày 14 tháng 5 năm 2024 về việc: ly hôn, tranh chấp về nuôi con, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 48/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 14 tháng 6 năm 2024, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Nguyễn Lê Trường A, sinh năm 1998; địa chỉ: Số nhà E tổ E, khu phố V, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương, có mặt.
Bị đơn: Ông Trần Tử X, sinh năm 1996; địa chỉ: Số nhà E tổ E, khu phố V, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương, có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện đề ngày 08/3/2024 và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Nguyễn Lê Trường A trình bày:
Bà A và ông X chung sống với nhau vào năm 2019, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã (nay là phường) T, thành phố T vào ngày 12/12/2019. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc, đến giữa năm 2023 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do ông X thay đổi về lối sống, thường uống rượu, không quan tâm đến vợ con. Bà A đã khuyên bảo nhiều lần nhưng ông X không sửa đổi. Để có thời gian vợ chồng giải quyết mâu thuẫn, bà A đưa con gái tên Trần An C, sinh ngày 12/4/2020 ra thuê phòng trọ sinh sống nhưng sau đó vợ chồng vẫn không giải quyết được mâu thuẫn, ông X còn có hành vi đánh đập bà A. Do mâu thuẫn vợ chồng không thể giải quyết nên bà A khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn với ông X.
Về con chung: yêu cầu được nuôi con chung tên Trần An C, sinh ngày 12/4/2020, yêu cầu ông Trần Tử X cấp dưỡng nuôi con 6.000.000 đồng/tháng cho đến khi cháu C đủ 18 tuổi.
Về tài sản chung và nợ chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại phiên tòa, bà A thay đổi yêu cầu khởi kiện về việc yêu cầu cấp dưỡng, bà A yêu cầu nuôi con chung và không yêu cầu ông X cấp dưỡng nuôi con.
Ý kiến bị đơn ông Trần Tử X:
Thống nhất ý kiến trình bày của bà A về thời gian kết hôn. Sau khi kết hôn, vợ chồng ông X, bà A sống không hạnh phúc, thường xuyên cãi nhau, nguyên nhân do bà A thường mang con chung ra gây sức ép với ông X. Do tình cảm vợ chồng không còn nên ông X đồng ý ly hôn.
Về con chung: thống nhất ý kiến trình bày của bà A về việc vợ chồng có 01 con chung tên Trần An C, sinh ngày 12/4/2020. Khi ly hôn, ông X yêu cầu được nuôi con chung, không yêu cầu bà A phải cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm tại phiên toà sơ thẩm như sau:
Về tố tụng: quá trình Tòa án giải quyết vụ án, những người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; những người tham gia tố tụng đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung: quá trình Tòa án giải quyết vụ án và tại phiên tòa bà A và ông X thống nhất thuận tình ly hôn nên đề nghị Hội đồng xét xử ghi nhận; về con chung: đề nghị Hội đồng xét xử giao cháu Trần An C, sinh ngày 12/4/2020 cho bà Nguyễn Lê Trường A nuôi dưỡng, ông Trần Tử X không phải cấp dưỡng nuôi con; về tài sản chung, nợ chung: các đương sự không yêu cầu nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Bà Nguyễn Lê Trường A và ông Trần Tử X tự nguyện chung sống với nhau vào năm 2019, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã (nay là phường) T, thành phố T vào ngày 12/12/2019, là hôn nhân hợp pháp.
[2] Về hôn nhân: quá trình Tòa án giải quyết vụ án và tại phiên tòa bà Nguyễn Lê Trường A và ông Trần Tử X đều thừa nhận mâu thuẫn vợ chồng đã thật sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên thống nhất yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn. Căn cứ Điều 55 của Luật Hôn nhân và Gia đình, Hội đồng xét xử công nhận sự thuận tình ly hôn giữa bà A và ông X.
[3] Về con chung: bà A yêu cầu được nuôi con chung tên Trần An C, sinh ngày 12/4/2020, ông X không đồng ý và có yêu cầu giao con chung cho ông nuôi dưỡng vì lý do bà A không đủ điều kiện để chăm sóc, nuôi dưỡng con chung. Xét thấy: ông X cho rằng bà A không đủ điều kiện nuôi con nhưng không cung cấp được chứng cứ để chứng minh cho lời trình bày của ông X là có căn cứ. Ông X và bà A đều có việc làm ổn định, có đủ điều kiện để nuôi con chung, tuy nhiên cháu Trần An C là con gái cần giao cháu cho mẹ nuôi là phù hợp.
[4] Về cấp dưỡng nuôi con: bà A không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra giải quyết.
[5] Về tài sản chung, nợ chung: các đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra giải quyết.
[6] Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[7] Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: nguyên đơn phải chịu theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ:
- - Các điều 28, 35, 39, 147, 235, 266, 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
- - Các điều 55, 56, 81, 82, 83, 84 và 85 của Luật Hôn nhân và Gia đình;
- - Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án;
1. Công nhận sự sự thỏa thuận giữa bà Nguyễn Lê Trường A và ông Trần Tử X.
Về hôn nhân: Bà Nguyễn Lê Trường A và ông Trần Tử X thuận tình ly hôn.
2. Tuyên xử:
Về nuôi con chung: giao con chung tên Trần An C, sinh ngày 12/4/2020 cho bà Nguyễn Lê Trường A nuôi dưỡng. Ông Trần Tử X không phải cấp dưỡng nuôi con.
Hai bên đều có quyền và nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con theo quy định của pháp luật. Vì lợi ích của con chưa thành niên, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con khi có đơn yêu cầu. Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Nếu người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người được trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
- Về tài sản chung và nợ chung: không đặt ra giải quyết.
2. Về án phí: Bà Nguyễn Lê Trường A phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0001418 ngày 09/5/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương.
Các đương sự được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Phạm Thị Hương Diệp |
Bản án số 66/2024/HNGĐ-ST ngày 02/07/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂN UYÊN, TỈNH BÌNH DƯƠNG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Số bản án: 66/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 02/07/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂN UYÊN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
