Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN THANH TRÌ

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

----------

Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

----------

Bản án số: 66/2025/HSST

Ngày: 16/04/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH TRÌ, THÀNH PHỐ HÀ NỘI:

Với thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - chủ tọa phiên toà: Bà Nguyễn Thị Kim Liên.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Hành.

Ông Nguyễn Văn Tuất.

Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Từ Ngọc Thúy - Thư ký Toà án nhân dân huyện Thanh Trì, Thành phố Hà Nội.

Đại diện VKSND Huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội tham gia phiên toà: Ông Trịnh Minh S - Kiểm sát viên

Ngày 16 tháng 4 năm 2025, tại Trụ sở Toà án nhân dân huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội. Xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 72/2025/HSST ngày 01 tháng 4 năm 2025 đối với bị cáo:

Họ và tên: Trần Phú X, sinh năm 1982; Nơi cư trú: xóm B, thôn A, xã T, huyện Q, thành phố Hà Nội. Nghề nghiệp: Công nhân; Trình độ văn hoá: 12/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; T: Không; Giới tính: Nam, Con ông: Trần Phú V, Con bà: Trần Thị P (đã chết); Có vợ: Phan Thị H, có 02 con, con lớn sinh năm 2011, con nhỏ sinh năm 2013. D chỉ bản số 76 ngày 24/01/2025 Công an huyện T lập; Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt tại phiên toà.

Bị hại: Công ty D1.

Địa chỉ: Số A đường T, H,Thành phố Hà Nội.

Người đại diện hợp pháp của Công ty D1: Anh Nguyễn Anh T - Phó giám đốc công ty theo giấy ủy quyền số 274/2025/EVNHANOI ngày 12/3/2025 của Giám đốc công ty. Có mặt tại phiên toà.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan :

Anh Tô Văn T1, sinh năm: 1979. Vắng mặt.

Địa chỉ: Ngõ D, T, T, thành phố Hà Nội.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Công ty D1 được giao nhiệm vụ thi công, cải tạo lưới điện hạ thế khu vực xã T, huyện T, Công ty D1, giao cho Đội xây lắp khu vực 3 thuộc Công ty D1 do đội trưởng Trần Hữu S1 là đội trưởng thực hiện (trong đó có Trần Phú X là thành viên trong tổ).Nhiệm vụ của tổ 3 Công ty D1 là thi công cải tạo lại đường dây điện, thay dây mới và bỏ số dây cũ đã hết hạn sử dụng tại xã T, T, số dây cũ cắt thành từng đoạn, khoanh tròn và được gửi tại Chùa T4 (địa chỉ tại: Ngõ A, Đội 2, T, T,Hà Nội) để sau này Công ty sẽ đi thu hồi về bán thanh lý. Do lòng tham và lợi dụng sự quản lý sơ hở của Đội xây lắp khu vực 3 nên Trần Phú X đã nảy sinh ý định trộm cắp số dây điện mà nhóm của X gửi trước đó tại Chùa T4 để lấy tiền tiêu sài cá nhân, cụ thể từ ngày 08/11/2024 đến ngày 17/11/2024 X đã thực hiên 02 vụ trộm cắp dây điện gửi tại Chùa T4:

Vụ thứ nhất: Khoảng 16 giờ ngày 08/11/2024 sau khi thi công cải tạo đường dây điện tại khu vực trạm bơm thôn P, H, T xong thì X được giao nhiệm vụ thu gom số đầu mẩu dây cáp điện. Khi thu gom X chủ động cất giấu một số đoạn dây cáp điện vào bụi cây cỏ ven đường. Khi các thành viên trong tổ ra về, X quay lại, lấy các mẩu dây cáp điện và cất giấu dọc theo phía bên trong bờ tường bao nghĩa trang thôn P cạnh công trường. Sau đó X đến cửa hàng thu mua phế liệu của anh Tô Văn T1, sinh năm 1979, và vợ là Vũ Thị Đ có cửa hàng thu mua phế liệu (tại Đội 4, Tả Thanh O, T) để bán, lúc này X bảo anh T1 kéo theo xe ba gác đến để chở, sau khi đưa số đầu mẩu lên xe ba gác của T1, X bảo T1 là còn một ít để ở Chùa T2 cùng đi với X đến để chở thêm về. Khi đến Chùa T2 thấy C đang mở cửa thì X bảo T1 cùng mình bốc khoảng 06 đến 08 cuộn dây cáp điện đang để ở trong Chùa lên xe ba gác và cả hai đi về cửa hàng thu mua phế liệu của T1 và cân được 200Kg, bán với giá 20.000VNĐ/Kg được số tiền 4.000.000 đồng.

Vụ thứ hai: Khoảng 17h50 ngày 27/11/2024 X đến cửa hàng phế liệu của T1 và bảo có ít dây điện phế liệu vẫn để ở Chùa T5 bán. Do trước đó T1 cũng đã mua của X nên T1 đồng ý và không nghi ngờ gì. X dẫn T1 kéo theo xe ba gác phía sau. Đến cổng Chùa T2, thấy cổng C đang mở thì X bảo T1 xuống bốc cùng, sau khi bốc khoảng 10 cuộn dây cáp điện lên xe ba gác, X và T1 điều khiển xe chở số dây cáp điện vừa lấy được về cửa hàng T1 và cân được 225Kg, bán với giá 20.000VNĐ/Kg được số tiền 4.500.000đồng. Cả 02 lần bán X không nói cho anh T1 và chị Đ biết là do X trộm cắp số dây điện mà có, anh T1 và chị Đ mới mua, số tiền 4.500.000đồng X đã ăn tiêu cá nhân hết.

Ngày 28/11/2024 khi Công ty D1 đến Chùa T4 để vận chuyển số dây cáp điện về thì phát hiện có dấu hiệu bị mất trộm nên đã đến Cơ quan Công an trình báo sự việc. Qua rà soát Camera tại Chùa T4, đại diện Công ty D1 đã nhận ra người mặc quần áo thợ điện vào lấy trộm dây điện chính là Trần Phú X là công nhân của Công ty.

Ngày 07/12/2024 Công an xã T mời Trần Phú X đến làm việc, tại Cơ quan Công an, X đã khai nhận toàn bộ hành vi trên, ngoài ra X còn giao nộp 01 xe máy nhãn hiệu Honda Dream biển kiểm soát 29V7 - 103.45. 01 bộ quần áo dài tay màu cam ngực áo bên trái in chữ "Trần Phú X", ngực áo bên trái in chữ "VEN HaNoi". 01 mũ bảo hộ lao động màu trắng.

Cơ quan điều tra đã tiến hành cho Tô Văn T1 và những người liên quan nhận dạng Trần Phú X. Kết quả những người liên quan đã nhận ra X là người đã trộm cắp số dây điện trên. Cơ quan điều tra đã tiến hành dẫn giải X đến vị trí trộm cắp tại chùa T4, vị trí X bán tại cửa hàng thu mua phế liệu. Kết quả X đã chỉ đúng các vị trí trên.

Vật chứng thu giữ:

-Thu giữ của Tô Văn T1: 01 xe máy nhãn hiệu SYM ALGEL không gắn biển kiểm soát, số khung RLGXA10DH6H108855, số máy: VMVA2AD108855; 01 xe hai bánh tự chế kéo sau xe máy.

Không thu giữ được dây cáp điện mà X đã bán cho Tô Văn T1, tuy nhiên cả T1 và X đều xác nhận đã mua và bán 02 lần tổng là 425kg.

Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh và tra cứu xe vật chứng đối với 02 chiếc xe Honda Dream biển kiểm soát 29V7 - 103.45 và xe máy nhãn hiệu SYM ALGEL không gắn biển kiểm soát, số khung RLGXA10DH6H108855, số máy: VMVA2AD108855 trên và không có dữ liệu trong hệ thống xe tang vật, số khung, số máy đối với chiếc xe trên là nguyên thủy. Trần Phú X khai mua xe máy nhãn hiệu Honda Dream biển kiểm soát 29V7 - 103.45 của ông Nguyễn Phạm X1, tuy nhiên đến nay X1 đã đánh mất giấy tờ. Đối với xe máy nhãn hiệu SYM ALGEL không gắn biển kiểm soát, số khung RLGXA10DH6H108855, số máy VMVA2AD108855 anh Tô Văn T1 trình bày đã mất biển kiểm soát chưa làm lại.

Ngày 23/12/2024 Cơ quan CSĐT - Công an huyện T Theo ra yêu cầu định giá tài sản số 7564. Ngày 03/01/2025 Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng huyện T có kết luận định giá tài sản số 05/KL-HĐĐGTS ngày 03/01/2025 kết luận: 200kg dây điện lõi nhôm, bọc nhựa (4*120)mm và (4*70)mm có giá trị 4.300.000 đồng. 225kg dây điện lõi nhôm, bọc nhựa (4*120)mm và (4*70)mm có giá trị 4.837.500 đồng. Tổng trị giá là 9.137.5000 đồng.

Đối với anh Tô Văn T1 và vợ là Vũ Thị Đ có cửa hàng thu mua phế liệu tại Đội 4, Tả Thanh O, T, khi Trần Phú X bán dây cáp điện thì anh T1 có hỏi nguồn gốc thì X bảo dây cũ được Công ty T6 bán phế liệu hơn nữa khi bán X mặc đồ bảo hộ màu cam ngực áo bên trái in chữ "Trần Phú X", ngực áo bên trái in chữ "VEN HaNoi" của Công ty D1 để bán, lên vợ chồng anh T1 không biết là tài sản do phạm tội mà có, sau khi mua được vợ chồng anh T1 đã bán lại cho người không quen biết với giá 21.000 đồng/kg do đó CQĐT không đề cập xử lý là có căn cứ.

Đối với xe máy nhãn hiệu Honda Dream biển kiểm soát 29V7 - 103.45 đăng ký tên ông Nguyễn Phạm X1, ông Nguyễn Phạm X1 đã bán cho Trần Phú X năm 2013. Đối với xe máy nhãn hiệu SYM ALGEL không gắn biển kiểm soát, số khung RLGXA10DH6H108855, số máy VMVA2AD108855 đang ký tên anh Lâm Văn M, anh M trình bày đã bán khoảng 4.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng năm 2016 cho ai lâu ngày anh L không nhớ, biển kiểm soát của xe là 18F7-9405.

Đối với bà Đàm Thị Y là sư trụ trì Chùa T4, khi Trần Phú X đến lấy day cáp điện thì Xuân tự mở cửa và lấy đi bà Đàm Thị Y không biết nên CQĐT không đề cập xử lý là có căn cứ.

Đối với trách nhiệm bồi thường dân sự: ông Nguyễn Anh T là Phó Giám đốc Công ty D1 được Công ty Ủ giải quyết đối với vụ việc trên, không có yêu cầu đề nghị gì về việc đền bù đối với tài sản bị trộm cắp và có đơn xin giảm hình phạt cho Trần Phú X.

Tại CQĐT, Trần Phú X đã thừa nhận và thành khẩn khai hành vi phạm tội của mình. Lời khai của bị can phù hợp với lời khai người làm chứng, vật chứng thu giữ, kết lậu định giá và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ.

Tại bản cáo trạng: số 69/CT-VKS-TT ngày 31/3/2025, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Trì truy tố Trần Phú Xuân về tội "Trộm cắp tài sản" theo khoản 1 Điều 173 -Bộ luật hình sự năm 2015.

Tại phiên toà:

Bị cáo Trần Phú X đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như cáo trạng đã nêu, thừa nhận tội danh bị truy tố là đúng. Bị cáo đã nộp số tiền khắc phục hậu quả là 9.137.000 đồng tại Cục thi hành án dân sự huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội và nộp biên lai cho Hội đồng xét xử. Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, xin được hưởng mức án nhẹ nhất.

Bị hại là công ty D1, anh Nguyễn Anh T là đại diện của công ty có ý kiến: anh X là nhân viên của công ty D1, đã có hành vi trộm cắp dây điện phế liệu lõi nhôm bọc nhựa, nhưng công ty không yêu cầu bồi thường về dân sự, vì gia đình anh X có hoàn cảnh kinh tế khó khăn và xin Hội đồng xét xử cho bị cáo X được hưởng mức án nhẹ nhất, được cải tạo ngoài xã hội.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Trì giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Trần Phú X về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015, như nội dung Bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Trì.

Đề nghị HĐXX áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 2 Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015: Xử phạt bị cáo Trần Phú X từ 10 (mười) đến 12 (mười hai) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 20 (hai mươi) đến 24 (hai mươi tư) tháng.

Về vật chứng: Đề nghị HĐXX áp dụng Điều 47 Bộ Luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự:

+ Trả lại bị cáo 01 xe máy nhãn hiệu Honda Dream biển kiểm soát 29V7 – 103.45.

+ Trả cho anh Tô Anh T3 01 xe máy nhãn hiệu SYM ALGEL không gắn biển kiểm soát, số khung RLGXA10DH6H108855, số máy VMVA2AD108855, gắn móc sắt.

+ Tịch thu tiêu huỷ 01 xe hai bánh tự chế kéo sau xe máy của Tô Anh T3.

+ Tịch thu tiêu huỷ 01 bộ quần áo dài tay màu cam ngực áo in chữ “Trần Phú X” và ngực áo in chữ “VEN HaNoi” và 01 mũ bảo hiểm bảo hộ lao động màu trắng của Trần Phú X.

Về dân sự: Đại diện của Công ty D1 là anh Nguyễn Anh T không có yêu cầu gì phần dân sự. Đề nghị Hội đồng xét xử không xét.

Bị cáo không có việc làm ổn định, không có thu nhập, không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án; Căn cứ kết quả thẩm tra chứng cứ và xét hỏi tại phiên toà; Căn cứ vào kết quả tranh luận công khai tại phiên toà. Trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện chứng cứ, ý kiến kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân huyện Thanh Trì, Kiểm sát viên: Trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về Tội danh và hình phạt: Lợi dụng sự quản lý sơ hở của Công ty D1 về đường dây điện cũ sau khi cắt bỏ, trong 02 ngày 08/11/2024 và ngày 27/11/2024 Trần Phú X đã có hành vi trộm cắp 425kg dây điện phế liệu lõi nhôm bọc nhựa (4*120)mm và (4*70)mm là 9.137.000 đồng tại Chùa T4, ngõ A, Đội 2, Tả Thanh O, T, Hà Nội, để chi tiêu cá nhân cụ thể:

Vụ thứ nhất: Khoảng 16 giờ ngày 08/11/2024 Trần Phú X đã trộm cắp 200kg dây điện phế liệu lõi nhôm, bọc nhựa (4*120)mm và (4*70)mm của Công ty D1 trị giá 4.300.000 đồng.

Vụ thứ hai: Khoảng 17h50 ngày 27/11/2024 Trần Phú X đã trộm cắp 200kg dây điện phế liệu lõi nhôm, bọc nhựa (4*120)mm và (4*70)mm của Công ty D1 trị giá 4.837.000 đồng. Đối chiếu pháp luật hình sự Trần Phú X đã phạm tội "Trộm cắp tài sản", được quy định tại khoản 1 Điều 173 - Bộ luật hình sự năm 2015. Viện kiểm sát truy tố bị cáo ra xét xử theo tội danh và điều luật đã viện dẫn là có cơ sở pháp lý.Như vậy hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của Nguyễn Phú X2 đã phạm vào tội: "Trộm cắp tài sản", được quy định tại khoản 1 Điều 173 - Bộ luật hình sự năm 2015. Hành vi của bị cáo đã xâm phạm quyền sở hữu tài sản của người khác, gây mất trật tự trị an xã hội, do vậy cần thiết xử lý bị cáo bằng pháp luật.

[3] Về tình tiết tăng nặng: Trong vụ án này bị cáo phạm tội hai lần được quy định tại điểm g Điều 52 – bộ luật hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, thể hiện có nhân thân tốt, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải.

Hội đồng xét xử xét thấy, bị cáo chưa có tiền án, tiền sự thể hiện có nhân thân tốt, phạm tội hai lần, nhưng đều thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, bị cáo khai báo thành khẩn và tỏ ra ăn năn hối cải, bị hại là Công ty D1 có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Gia đình bị cáo đã khắc phục hậu quả, do đó bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51 - Bộ luật hình sự năm 2015. Tòa xét thấy bị cáo có nhân thân tốt, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Căn cứ Nghị quyết số 02/2022/NQ-HĐTP của hội đồng Thẩm phán TANDTC cho bị cáo được hưởng án treo cải tạo ngoài xã hội, giao bị cáo cho chính quyền địa phương quản lý giáo dục bị cáo trở thành người tốt.

[5] Về phần dân sự: Anh Nguyễn Anh T là người đại diện cho Công ty D1 không có yêu cầu bị cáo bồi thường về dân sự, do vậy Tòa không xem xét.

[6] Về vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 – Bộ luật tố tụng hình sự.

+ Đối với 01 xe máy nhãn hiệu Honda Dream biển kiểm soát 29V7 – 103.45 thu giữ của bị cáo X2, xét thấy không liên quan đến hành vi phạm tội nên trả lại cho bị cáo.

+ Đối với 01 xe máy nhãn hiệu SYM ALGEL không gắn biển kiểm soát, số khung RLGXA10DH6H108855, số máy VMVA2AD108855, gắn móc sắt thu giữ của anh Tô Anh T3, xét thấy việc anh T3 không biết phế liệu anh chở là do bị cáo X2 trộm cắp mà có nên cần trả lại cho anh T3.

+ Đối với 01 xe hai bánh tự chế kéo sau xe máy của Tô Anh T3 không được phép lưu hành nên cần tịch thu tiêu huỷ.

+ Đối với 01 bộ quần áo dài tay màu cam ngực áo in chữ “Trần Phú X” và ngực áo in chữ “VEN HaNoi” và 01 mũ bảo hiểm bảo hộ lao động màu trắng của Trần Phú X, bị cáo sử dụng vào việc phạm tội và cũng còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu huỷ.

[7] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định, do vậy không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[8] Về các vấn đề khác: bà Đàm Thị Y là sư trụ trì Chùa T4, khi Trần Phú X đến lấy dây cáp điện thì Xuân tự mở cửa và lấy đi bà Đàm Thị Y không biết nên CQĐT không đề cập xử lý là có căn cứ. HĐXX không xét.

Đối với anh Tô Văn T1 và vợ là Vũ Thị Đ có cửa hàng thu mua phế liệu tại Đội 4, Tả Thanh O, T, khi Trần Phú X bán dây cáp điện thì anh T1 có hỏi nguồn gốc thì X bảo dây cũ được Công ty T6 bán phế liệu hơn nữa khi bán X mặc đồ bảo hộ màu cam ngực áo bên trái in chữ "Trần Phú X", ngực áo bên trái in chữ "VEN HaNoi" của Công ty D1 để bán, lên vợ chồng anh T1 không biết là tài sản do phạm tội mà có, sau khi mua được vợ chồng anh T1 đã bán lại cho người không quen biết với giá 21.000 đồng/kg do đó CQĐT không đề cập xử lý là có căn cứ. HĐXX không xét.

[9] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự.

[10] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 231, Điều 234 Bộ luật tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố: Bị cáo Trần Phú X phạm tội "Trộm cắp tài sản".

Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 65 - Bộ luật hình sự năm 2015.

Xử phạt: Bị cáo Trần Phú X 10 (mười) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời hạn thử thách là 20 (hai mươi) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 16/04/2025)

Giao bị cáo Trần Phú X cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện Q, Hà Nội quản lý giáo dục trong thời gian thử thách. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Toà án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Trường hợp bị cáo được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo các quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.

Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ Luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự:

+ Trả lại bị cáo 01 xe máy nhãn hiệu Honda Dream biển kiểm soát 29V7 – 103.45.

+ Trả cho anh Tô Văn T1 01 xe máy nhãn hiệu SYM ALGEL không gắn biển kiểm soát, số khung RLGXA10DH6H108855, số máy VMVA2AD108855, gắn móc sắt.

+ Tịch thu tiêu huỷ 01 xe hai bánh tự chế kéo sau xe máy của Tô Anh T3.

+ Tịch thu tiêu huỷ 01 bộ quần áo dài tay màu cam ngực áo in chữ “Trần Phú X” và ngực áo in chữ “VEN HaNoi” và 01 mũ bảo hiểm bảo hộ lao động màu trắng của Trần Phú X.

(Hiện các vật chứng đang lưu giữ tại Chi cục Thi hành án huyện Thanh Trì theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 31/03/2025).

Án phí: áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, Điều 20, 22, Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14.

Bị cáo phải chịu 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm .

Quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 231, Điều 234 Bộ luật tố tụng hình sự.

Bị cáo, bị hại có mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án hình sự sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án .

Nơi nhận

  • - TANDTP Hà Nội;
  • - VKSNDTP Hà Nội;
  • - VKSND huyện Thanh Trì;
  • - Công an huyện Thanh Trì;
  • - THADS huyện Thanh Trì;
  • - Bị cáo;
  • - Bị hại (nếu có);
  • - Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan (nếu có);
  • - Lưu HS, VT.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa.

Nguyễn Thị Kim Liên

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 66/2025/HSST ngày 16/04/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH TRÌ, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 66/2025/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 16/04/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH TRÌ, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: hình sự
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger