TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1- HÀ TĨNH Bản án số: 66/2025/HS-ST Ngày: 11-12-2025 | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - HÀ TĨNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trần Thị Thúy Hạnh
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Hoàng Nữ Ngọc Oanh; Nghề nghiệp: Giáo viên
- Ông Nguyễn Sỹ Hùng; Nghề nghiệp: Giáo viên
- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Danh Dũng, Thư ký Tòa án nhân khu vực 1 - Hà Tĩnh;
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 1 – Hà Tĩnh tham gia phiên tòa: Ông Lê Vũ Hoàng- Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 1 - Hà Tĩnh xét xử công khai vụ án Hình sự sơ thẩm thụ lý số 75/2025/TLST-HS, ngày 18 tháng 11 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 66/2025/QĐXXST-HS ngày 27 tháng 11 năm 2025 đối với bị cáo:
Họ và tên: Lê Hữu Thiện N; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh ngày 24/5/2008 tại xã Đ, tỉnh Hà Tĩnh. Căn cước số [...]; Nơi đăng ký thường trú và chỗ ở hiện nay: Thôn T, xã Đ, tỉnh Hà Tĩnh. Quốc tịch: Việt Nam, Dân tộc: Kinh, Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: Lớp 11/12, Nghề nghiệp: Học sinh; Họ và tên cha: Lê Hữu N1; Sinh năm 1982 Nghề nghiệp: Công nhân; Họ và tên mẹ: Trần Thị K; Sinh năm 1983; Nghề nghiệp: Công nhân; Hiện đang sinh sống tại thôn T, xã Đ, tỉnh Hà Tĩnh. Anh chị em ruột: Có 2 người, bị cáo là con thứ nhất trong gia đình. Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú kể từ ngày 12/9/2025 cho đến nay tại xã Đ, tỉnh Hà Tĩnh. Có mặt.
- Người đại diện hợp pháp của bị cáo (đồng thời là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan) chị: Trần Thị K, sinh năm 1983; nghề nghiệp: Công nhân; địa chỉ: Thôn T, xã Đ, tỉnh Hà Tĩnh; có mặt
- Người bào chữa cho bị cáo: Ông Trần Thanh M, trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm T1- Sở tư pháp tỉnh Hà Tĩnh (có mặt).
2
- Bị hại: Công ty cổ phần X; địa chỉ: Số H, ngách C, ngõ A L, Phường P, Thành phố Hà Nội.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Dương Anh T; sinh năm 1988; chức vụ: Cán bộ phòng K1; địa chỉ: Xóm Đ, phường V, tỉnh Nghệ An (Theo văn bản ủy quyền số 21/2025/UQ/HT, ngày 22/9/2025); vắng mặt.
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
- + Cháu Lê Hữu Hải Đ, sinh ngày 20/8/2012, địa chỉ: Thôn T, xã Đ, tỉnh Hà Tĩnh. Nghề nghiệp: Học sinh; vắng mặt.
- + Người đại diện hợp pháp của cháu Đ: Chị Nguyễn Thị L, sinh năm 1986; nghề nghiệp: Lao động tự do; địa chỉ: Thôn T, xã Đ, tỉnh Hà Tĩnh; vắng mặt.
- + Bà Bùi Thị M1, sinh năm 1961; nghề nghiệp: Buôn bán phế liệu; Địa chỉ: Thôn T, xã Đ, tỉnh Hà Tĩnh; vắng mặt.
- + Ông: Trần Văn L1, sinh năm 1955; địa chỉ: Thôn N, xã Đ, tỉnh Hà Tĩnh; nghề nghiệp: Lao động tự do; có mặt.
- Người tham gia tố tụng khác: Trường Trung học phổ thông N2. Người đại diện: Ông Trần Minh L2 - Giáo viên chủ nhiệm nơi bị cáo đang học tập. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Trong các ngày 17/7/2025, ngày 18/7/2025 và ngày 19/7/2025, lợi dụng sơ hở trong việc quản lý tài sản của công ty cổ phần X tại bãi tập kết các thanh xà bằng thép mạ kẽm thuộc địa phận thôn H, xã V, tỉnh Hà Tĩnh, Lê Hữu Thiện N (sinh ngày 24/5/2008, trú tại thôn T, xã Đ, tỉnh Hà Tĩnh) đã cùng Lê Hữu Hải Đ (sinh ngày 20/8/2012, trú cùng thôn) có hành vi lén lút thực hiện 3 vụ trộm cắp tài sản, cụ thể:
Lần thứ nhất: Vào thời điểm giữa tháng 7 năm 2025, Lê Hữu Thiện N nhiều lần đi qua bãi tập kết vật liệu của công ty cổ phần X tại thôn H, xã V, tỉnh Hà Tĩnh và phát hiện có nhiều thanh sắt tại đây không có ai quản lý nên đã nảy sinh ý định trộm cắp tài sản. Đến khoảng 16 giờ chiều ngày 16/7/2025, Lê Hữu Thiện N rủ Lê Hữu Hải Đ đi trộm sắt tại bãi tập kết vật liệu trên và hẹn nhau thực hiện hành vi trộm cắp vào buổi tối, Đ đồng ý. Đến khoảng 0 giờ 45 phút ngày 17/7/2025, N điều khiển xe máy điện thuộc sở hữu của mình (không có biển kiểm soát) đến đón Đ tại nhà riêng, sau đó cả hai đi theo hướng quốc lộ A, qua cầu L, đến bãi tập kết vật liệu của công ty cổ phần X tại thôn H, xã V, tỉnh Hà Tĩnh để thực hiện hành vi trộm cắp. Tại đây, N và Đ để xe ở bãi đất gần khu công trường rồi cùng nhau bê sắt ra xe. Tài sản cả hai trộm cắp được bao gồm: 12 thanh sắt hình chữ Y (màu trắng, mỗi thanh dài 1,29m, nặng 17 kg) và 10 thanh sắt hình chữ V (màu trắng,
3
mỗi thanh dài 55,5 cm, nặng 3 kg). Sau khi trộm, N điều khiển xe điện chở Đ ngồi sau, chở 4 chuyến đem số sắt cất giấu dưới bụi cỏ gần cầu L. Đến khoảng 12 giờ trưa ngày 17/7/2025, N tiếp tục chở Đ cùng số sắt nói trên đến nhà bà Bùi Thị M1 (sinh năm 1961, trú tại thôn T, xã Đ, tỉnh Hà Tĩnh) – làm nghề thu mua phế liệu để bán. Khi bà M1 có hỏi về nguồn gốc, Đ có trả lời những tài sản trên lấy ở nhà đi bán. Bà Minh C và mua với giá 1.500.000 đồng, đưa tiền cho N. Sau đó N chia cho Đ 500.000 đồng, giữ lại 1.000.000 đồng. Lê Hữu Thiện N hưởng lợi số tiền 1.000.000 đồng, Lê Hữu Hải Đ hưởng lợi số tiền 500.000 đồng; cả hai đã tiêu xài hết số tiền này.
Tại bản kết luận định giá tài sản số 636/KL-HĐĐG ngày 22/8/2025 của Hội đồng định giá thường xuyên cấp tỉnh trong tố tụng hình sự kết luận những tài sản mà Lê Hữu Thiện N và Lê Hữu Hải Đ trộm cắp được, trong đó có: 12 thanh sắt hình chữ Y (màu trắng, mỗi thanh dài 1,29m, nặng 17 kg); 10 thanh sắt hình chữ V (màu trắng, mỗi thanh dài 55,5 cm, nặng 3 kg) có giá trị: 9.009.000 đồng (Chín triệu không trăm lẻ chín nghìn đồng). Tổng giá trị tài sản Lê Hữu Thiện N chiếm đoạt được trong lần phạm tội này là 9.009.000 đồng (Chín triệu không trăm lẻ chín nghìn đồng).
Lần thứ hai: Đến rạng sáng ngày 18/7/2025, để có tiền tiêu xài cá nhân nên Lê Hữu Thiện N và Lê Hữu Hải Đ tiếp tục sử dụng phương thức như đối với lần thứ nhất đến bãi tập kết vật liệu của công ty cổ phần X1, xã V, tỉnh Hà Tĩnh để thực hiện hành vi trộm cắp tài sản. Tại đây N và Đ để xe ở bãi đất gần khu công trường và tiến vào khu vực để vật liệu để cùng nhau bê sắt ra xe. Tổng tài sản cả hai trộm cắp được gồm: 12 thanh sắt hình chữ Y (màu trắng, dài 1,29m, nặng 17kg); 10 thanh sắt hình chữ V (dài 55,5 cm, nặng 3 kg) và 5 thanh sắt hình chữ V (dài 80 cm, nặng 5 kg). Sau khi trộm cả hai cùng nhau chở 4 chuyến về cất giấu tài sản dưới bụi cỏ gần cầu L. Đến 12 giờ trưa cùng ngày, N và Đ tiếp tục lấy số sắt trộm cắp được đến bán cho bà M1 như lần thứ nhất. Bà M1 cân số sắt và mua với giá 2.000.000 đồng, trả bằng tiền mặt cho N. N chia cho Đ 700.000 đồng, giữ lại 1.300.000 đồng. Lê Hữu Thiện N hưởng lợi số tiền 1.300.000 đồng, Lê Hữu Hải Đ hưởng lợi số tiền 700.000 đồng; số tiền này hai đối tượng đã sử dụng hết vào việc tiêu xài cá nhân.
Tại bản kết luận định giá tài sản số 636/KL-HĐĐG ngày 22/8/2025 của Hội đồng định giá thường xuyên cấp tỉnh trong tố tụng hình sự kết luận những tài sản mà Lê Hữu Thiện N và Lê Hữu Hải Đ trộm cắp được, trong đó có: 12 thanh sắt hình chữ Y (màu trắng, mỗi thanh dài 1,29m, nặng 17 kg); 10 thanh sắt hình chữ V (màu trắng, mỗi thanh dài 55,5 cm, nặng 3 kg); 5 thanh sắt hình chữ V (màu trắng, mỗi thanh dài 80 cm, nặng 5 kg) có giá trị 9.971.500 đồng (Chín triệu chín trăm bảy bảy mươi mốt nghìn năm trăm đồng). Tổng giá trị tài sản Lê Hữu Thiện
4
N chiếm đoạt được trong lần phạm tội này là 9.971.500 đồng (Chín triệu chín trăm bảy mươi mốt nghìn năm trăm đồng).
Lần thứ ba: Đến rạng sáng ngày 19/7/2025, để có tiền tiêu xài cá nhân nên Lê Hữu Thiện N và Lê Hữu Hải Đ tiếp tục sử dụng phương thức như đối với hai lần trộm cắp trước đó đến bãi tập kết vật liệu của công ty cổ phần X1, xã V, tỉnh Hà Tĩnh để thực hiện hành vi trộm cắp tài sản. Tại đây tổng tài sản cả hai trộm cắp được gồm: 22 thanh sắt hình chữ V (mỗi thanh dài 55,5 cm, nặng 3 kg); 8 thanh sắt hình chữ V (dài 75 cm, nặng 5 kg) và 2 thanh sắt hình chữ V (dài 50 cm, nặng 2,5 kg). Sau khi trộm cả hai cùng nhau chở 3 chuyến về cất giấu tài sản dưới bụi cỏ gần cầu L. Đến khoảng 12 giờ trưa cùng ngày, N và Đ tiếp tục lấy số sắt trộm cắp được đến bán cho bà M1 như trong hai lần trước. Bà Minh C và mua với giá 1.050.000 đồng, trả cho N bằng tiền mặt. Sau đó N chia cho Đ 400.000 đồng, giữ lại 650.000 đồng. Lê Hữu Thiện N hưởng lợi số tiền 650.000 đồng, Lê Hữu Hải Đ hưởng lợi số tiền 400.000 đồng; số tiền này cả hai đã tiêu xài cá nhân hết.
Tại bản kết luận định giá tài sản số 636/KL-HĐĐG ngày 22/8/2025 của Hội đồng định giá thường xuyên cấp tỉnh trong tố tụng hình sự kết luận những tài sản mà Lê Hữu Thiện N và Lê Hữu Hải Đ trộm cắp được, trong đó có: 22 thanh sắt hình chữ V (màu trắng, mỗi thanh dài 55,5 cm, nặng 3 kg); 8 thanh sắt hình chữ V (màu trắng, mỗi thanh dài 75 cm, nặng 5 kg); 2 thanh sắt hình chữ V (màu trắng, mỗi thanh dài 50 cm, nặng 2,5 kg) có giá trị: 4.273.500 đồng (Bốn triệu hai trăm bảy mươi ba nghìn năm trăm đồng). Tổng giá trị tài sản Lê Hữu Thiện N chiếm đoạt được trong lần phạm tội này là 4.273.500 đồng (Bốn triệu hai trăm bảy mươi ba nghìn năm trăm đồng).
Tính đến thời điểm thực hiện hành vi phạm tội, Lê Hữu Thiện N 17 tuổi 01 tháng 23 ngày; Lê Hữu Hải Đ 12 tuổi 10 tháng 27 ngày.
Việc thu giữ, tạm giữ đồ vật, tài liệu; xử lý vật chứng:
- 24 thanh sắt hình chữ Y (màu trắng, mỗi thanh dài 1,29m, nặng 17 kg); 42 thanh sắt hình chữ V (màu trắng, mỗi thanh dài 55,5 cm, nặng 3 kg); 5 thanh sắt hình chữ V (màu trắng, mỗi thanh dài 80 cm, nặng 5 kg); 8 thanh sắt hình chữ V (màu trắng, mỗi thanh dài 75 cm, nặng 5 kg). Cơ quan điều tra Công an tỉnh H đã trả lại cho công ty cổ phần X.
- 01 xe máy điện nhãn hiệu XMEN (không có biển số) màu sơn đen, số máy: 60V800W011649; số khung: RPLYDEHUMNHH00567 thuộc sở hữu của Lê Hữu Thiện N. Đã chuyển đến phòng thi hành án dân sự khu vực 1- Hà Tĩnh.
- 01 Video tên “Trộm ngày 17 tháng 07 năm 2025”, định dạng MP4, kích thước 3,14MB, độ dài 23 giây, nội dung thể hiện: Vào lúc 1 giờ 11 phút, xuất hiện 02 nam thanh niên đang thực hiện hành vi trộm khung sắt, được chuyển theo hồ sơ vụ án.
5
Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra, bị cáo Lê Hữu Thiện N và mẹ đã tự nguyện thoả thuận bồi thường thiệt hại cho Công ty cổ phần X số tiền 30.000.000 đồng. Người đại diện theo uỷ quyền của công ty đã nhận được số tiền trên đồng thời đã nhận lại được toàn bộ số sắt thép bị mất trộm từ Cơ quan điều tra nên không có yêu cầu gì thêm.
Đối với bà Bùi Thị M1 là chủ tiệm phế liệu mà Lê Hữu Thiện N và Lê Hữu Hải Đ đã bán số sắt thép trộm cắp được, tổng số tiền bà M1 dùng để mua số sắt tổng cộng là 4.550.000 đồng. Số tiền này bà M1 không có yêu cầu gì đối với N và Đ.
Với hành vi và hậu quả như trên, Bản cáo trạng số 28/CT-VKS-KV1, ngày 17 tháng 11 năm 2025, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1- Hà Tĩnh đã truy tố bị cáo Lê Hữu Thiện N về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
* Tại phiên tòa:
Bị cáo khai nhận toàn bộ sự việc và thừa nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng đã truy tố.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 1- Hà Tĩnh tham gia phiên tòa vẫn giữ nguyên quyết định truy tố về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung bản Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Lê Hữu Thiện N phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 65; Điều 90; Điều 91; khoản 4 Điều 98 Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 179; Điều 12; khoản 1 Điều 119, Điều 124 Luật tư pháp người thành niên.
Về hình phạt: Đề nghị xử phạt bị cáo mức án từ 09 tháng đến 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 tháng đến 24 tháng.
Về hình phạt bổ sung: Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Đề nghị áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu, nộp ngân sách nhà nước 01 xe máy điện nhãn hiệu XMEN (không có biển số) màu sơn đen, số máy: 60V800W011649; số khung: RPLYDEHUMNHH00567 thuộc sở hữu của Lê Hữu Thiện N.
Người đại diện hợp pháp của bị cáo Lê Hữu Thiện N - chị Trần Thị K trình bày: Lê Hữu Thiện N là con trai đầu của gia đình chị, do hoàn cảnh khó khăn nên vợ chồng chị gửi N cho ông bà chăm sóc để vào miền N làm việc, hàng ngày không có thời gian gần gũi, giáo dục cháu nên cháu đã phạm sai lầm, tuy nhiên cháu đã nhận thức được sai lầm của mình, xin hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và cho bị cáo được hưởng án treo để tiếp tục học tập, sửa chữa sai lầm.
6
Trợ giúp viên pháp lý bào chữa cho bị cáo Lê Hữu Thiện N với nội dung: Đồng tình với quan điểm của Kiểm sát viên về phần tội danh và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà Kiểm sát viên đề nghị áp dụng đối với bị cáo. Tại thời điểm thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo chưa đủ 18 tuổi, nhận thức còn hạn chế, hoàn cảnh gia đình khó khăn, hành vi giản đơn, giá trị tài sản chiếm đoạt không lớn, bị cáo đang học lớp 12 vì vậy đề nghị HĐXX xem xét các quy định liên quan đến các chính sách hình sự và Luật tư pháp người chưa thành niên phạm tội để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, cho bị cáo được hưởng án treo; đồng thời xem xét trả lại cho bị cáo chiếc xe máy nhãn hiệu XMEN (không có biển số) màu sơn đen, số máy: 60V800W011649; số khung: RPLYDEHUMNHH00567 để bị cáo có phương tiện đi học.
Đại diện nhà trường nơi học tập của bị cáo trình bày: Quá trình học tập tại trường bị cáo chấp hành tốt nội quy, quy chế của trường; trong hai năm lớp 10 và 11 được xếp hành kiểm loại tốt; học lực loại khá; đề nghị Hội đồng xét xử cân nhắc cho bị cáo tiếp tục học tập để có cơ hội sửa chữa sai lầm, giúp ích cho gia đình và xã hội.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình, rất hối hận về hành vi phạm tội, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt, cho bị cáo hưởng án treo để bị cáo được tiếp tục học tập, sửa chữa sai lầm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- [1]. Về tính hợp pháp của quyết định và hành vi của các cơ quan và những người tiến hành tố tụng: Trong quá trình điều tra, truy tố Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng thẩm quyền và trình tự thủ tục tố tụng theo quy định pháp luật; bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến khiếu nại gì. Vì vậy các quyết định của các cơ quan tố tụng và hành vi của những người tiến hành tố tụng là hợp pháp.
- [2] Về việc vắng mặt bị hại và một số người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Xét thấy: Bị hại và những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu gì về phần dân sự. Lời khai có đầy đủ trong hồ sơ vụ án, có đơn xin vắng mặt nên việc vắng mặt người bị hại, và một số người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không làm ảnh hưởng đến việc xét xử. Căn cứ quy định tại Điều 292 Bộ luật tố tụng hình sự, xét xử vụ án theo thủ tục chung.
- [3]. Về hành vi phạm tội của bị cáo: Lời khai của bị cáo tại phiên tòa thống nhất với lời khai trong quá trình điều tra, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở, căn cứ để kết luận:
7
Trong các ngày 17 đến ngày 19/7/2025, lợi dụng sự sơ hở trong việc quản lý tài sản của chủ sở hữu tại khu vực bãi tập kết vật liệu xây dựng của công ty cổ phần X (thuộc thôn H, xã V, tỉnh Hà Tĩnh), Lê Hữu Thiện N cùng Lê Hữu Hải Đ đã có hành vi lén lút 03 lần lấy trộm tài sản là những đoạn sắt thép được để tại bãi tập kết, bao gồm: Lần thứ nhất chiếm đoạt 12 thanh sắt hình chữ Y (màu trắng, mỗi thanh dài 1,29m, nặng 17 kg) và 10 thanh sắt hình chữ V (màu trắng, mỗi thanh dài 55,5 cm, nặng 3 kg) có giá trị 9.009.000 đồng; lần thứ hai chiếm đoạt 12 thanh sắt hình chữ Y (màu trắng, dài 1,29m, nặng 17kg); 10 thanh sắt hình chữ V (dài 55,5 cm, nặng 3 kg) và 5 thanh sắt hình chữ V (dài 80 cm, nặng 5 kg) có giá trị 9.971.500 đồng; lần thứ ba chiếm đoạt 22 thanh sắt hình chữ V (mỗi thanh dài 55,5 cm, nặng 3 kg); 8 thanh sắt hình chữ V (dài 75 cm, nặng 5 kg) và 2 thanh sắt hình chữ V (dài 50 cm, nặng 2,5 kg) có giá trị 4.273.500 đồng. Toàn bộ số tài sản bị trộm cắp trên đều thuộc sở hữu hợp pháp của công ty cổ phần X. Tổng giá trị tài sản chiếm đoạt được là 23.254.000 đồng, Lê Hữu Thiện N hưởng lợi số tiền 2.950.000 đồng; Lê Hữu Hải Đ hưởng lợi số tiền 1.600.000 đồng, cả hai đã tiêu xài cá nhân hết. Tại thời điểm thực hiện hành vi phạm tội, Lê Hữu Thiện N 17 tuổi 01 tháng 23 ngày, Lê Hữu H Đăng12 tuổi 10 tháng 27 ngày.
Bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi với lỗi cố ý trực tiếp. Đã lợi dụng sự sơ hở của chủ sở hữu và bằng hành vi lén lút đã chiếm đoạt các loại thanh sắt hình chữ Y, hình chữ V, có tổng giá trị là 23.254.000 đồng. Hành vi phạm tội của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, đồng thời gây mất trật tự trị an tại địa phương, gây tâm lý bất an cho người dân, có đủ dấu hiệu cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”. Tội danh và khung hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự. Bản Cáo trạng số 28/CT-VKS-KV1, ngày 17 tháng 11 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1- Hà Tĩnh đã truy tố bị cáo về tội danh, điều luật quy định như trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
4]. Xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo:
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo đã thực hiện 03 vụ trộm cắp tài sản nên phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là “Phạm tội 02 lần trở lên” theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
Tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ: Người phạm tội tự nguyện bồi thường thiệt hại; Người phạm tội thành khẩn khai báo, đại diện người bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
8
HĐXX thấy rằng mặc dù bị cáo có 01 tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Phạm tội 2 lần trở lên”, tuy nhiên khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo là người chưa đủ 18 tuổi (17 tuổi 01 tháng 23 ngày) nên được hưởng các quy định đối với người dưới 18 tuổi phạm tội tại Chương XII Bộ luật hình sự và theo khoản 2 Điều 179 về các quy định có lợi của Luật tư pháp người chưa thành niên trong đường lối xét xử đối với bị cáo. Sau khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo đã tự nguyện bồi thường thiệt hại, thành khẩn khai báo, đại diện người bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, chưa có tiền án, tiền sự, nhân thân tốt, đang còn đi học, vì vậy chưa cần thiết phải cách ly bị cáo ra ngoài đời sống xã hội, mà xử phạt bị cáo mức án phù hợp và cho bị cáo được cải tạo giáo dục tại địa phương để bị cáo có cơ hội tiếp tục học tập, rèn luyện như lời đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là phù hợp với tính chất, mức độ, hành vi phạm tội, có căn cứ, đúng quy định pháp luật và thể hiện tính khoan hồng của pháp luật.
[6] Trách nhiệm dân sự: Người bị hại đã nhận đủ số tiền yêu cầu bồi thường thiệt hại, không có yêu cầu gì thêm nên HĐXX miễn xét.
[7] Hình phạt bổ sung: Bị cáo Lê Hữu Thiện N là người chưa thành niên phạm tội nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[8] Xử lý vật chứng:
- - Xét vật chứng: 24 thanh sắt hình chữ Y (màu trắng, mỗi thanh dài 1,29m, nặng 17 kg); 42 thanh sắt hình chữ V (màu trắng, mỗi thanh dài 55,5 cm, nặng 3 kg); 5 thanh sắt hình chữ V (màu trắng, mỗi thanh dài 80 cm, nặng 5 kg); 8 thanh sắt hình chữ V (màu trắng, mỗi thanh dài 75 cm, nặng 5 kg). Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra Công an tỉnh H đã trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp là có căn cứ, đúng trình tự thủ tục theo đúng quy định pháp luật.
- - Xét vật chứng: 01 Video tên “Trộm ngày 17 tháng 07 năm 2025”, định dạng MP4, kích thước 3,14MB, độ dài 23 giây, nội dung thể hiện: Vào lúc 1 giờ 11 phút, xuất hiện 02 nam thanh niên đang thực hiện hành vi trộm khung sắt. Là chứng cứ điện tử nên được lưu theo hồ sơ vụ án.
- - Xét vật chứng: 01 xe máy điện nhãn hiệu XMEN (không có biển số) màu sơn đen, số máy: 60V800W011649; số khung: RPLYDEHUMNHH00567 thuộc sở hữu của Lê Hữu Thiện N là công cụ, phương tiện phạm tội còn giá trị sử dụng vì vậy cần áp dụng điểm b khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự, tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.
[9]. Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí theo quy định của pháp luật.
[9]. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người đại diện của bị cáo, người bào chữa cho bị cáo, người bị hại có quyền kháng cáo bản án theo quy định pháp luật.
[10] Hành vi của người liên quan:
9
Đối với Lê Hữu Hải Đ đã cùng Lê Hữu Thiện N thực hiện 03 lần hành vi trộm cắp tài sản với tổng số tiền chiếm đoạt được là 23.254.000 đồng, trong đó Lê Hữu Hải Đ hưởng lợi số tiền 1.600.000 đồng. Hành vi của Lê Hữu Hải Đ có dấu hiệu của tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Tuy nhiên, tại thời điểm thực hiện hành vi phạm tội Đ mới chỉ 12 tuổi 10 tháng 27 ngày vì vậy Đ chưa đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 12 Bộ luật hình sự. Việc Cơ quan CSĐT Công an tỉnh H không xem xét xử lý trách nhiệm đối với Lê Hữu Hải Đ là đúng quy định pháp luật.
- Đối với bà Bùi Thị M1 là chủ tiệm phế liệu đã mua tài sản do Lê Hữu Thiện N trộm cắp từ ngày 17-19/7/2025 tại bãi tập kết vật liệu của công ty cổ phần X thuộc thôn H, xã V, tỉnh Hà Tĩnh. Tuy nhiên, bà M1 không hứa hẹn trước và trong quá trình trao đổi, mua bán không biết các thanh sắt đang giao dịch mua bán là do Lê Hữu Thiện N cùng Lê Hữu Hải Đ trộm cắp mà có. Vì vậy, Cơ quan CSĐT Công an tỉnh H không xem xét xử lý trách nhiệm đối với bà Bùi Thị M1 là phù hợp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 65; Điều 90; Điều 91; khoản 4 Điều 98 Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 179; Điều 12; khoản 1 Điều 119, Điều 124 Luật tư pháp người thành niên;
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106; khoản 1, khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136; Điều 331; Điều 333 của Bộ luật tốHình.
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 3; khoản 1 Điều 21; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 và mục A Danh mục án phí, lệ phí Tòa án, ban hành kèm theo Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Q;
Tuyên xử:
- Về tội danh: Tuyên bố: Bị cáo Lê Hữu Thiện N phạm tội “Trộm cắp tài sản".
- Về hình phạt: Xử phạt Lê Hữu Thiện N 10 (mười) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 20 (hai mươi) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm 11/12/2025.
Giao bị cáo Lê Hữu Thiện N cho Ủy ban nhân dân xã Đ, tỉnh Hà Tĩnh giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.
10
Trong trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì việc giám sát giáo dục trong thời gian thử thách được thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật Thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 Bộ luật Hình sự.
- Xử lý vật chứng: Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước 01 xe máy điện nhãn hiệu XMEN (không có biển số) màu sơn đen, số máy: 60V800W011649; số khung: RPLYDEHUMNHH00567 đã qua sử dụng là phương tiện bị cáo sử dụng phạm tội còn giá trị sử dụng.
(Tình trạng vật chứng có tại Biên bản giao nhận vật chứng ngày 18/11/2025 giữa cơ quan cảnh sát điều tra công tỉnh H và Phòng Thi hành án dân sự khu vực 1- Hà Tĩnh).
- Về án phí: Buộc bị cáo Lê Hữu Thiện N phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí Hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người đại diện hợp pháp, người bào chữa của bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo phần bản án liên quan đến quyền và nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa và người đại diện hợp pháp của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo phần bản án liên quan đến quyền và nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Thúy Hạnh |
Bản án số 66/2025/HS-ST ngày 11/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - HÀ TĨNH về hình sự sơ thẩm về tội trộm cắp tài sản
- Số bản án: 66/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm về tội Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 11/12/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - HÀ TĨNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lê Hữu Thiện Nhân
