Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH KHÁNH HÒA

Bản án số: 66/2025/HS-PT

Ngày 13 tháng 6 năm 2025

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

-

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KHÁNH HÒA

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Thành Trung

Các Thẩm phán:

  • Ông Nguyễn Văn Tuấn;
  • Bà Võ Thị Trầm.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hải Hoàng - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Khánh Hòa tham gia phiên tòa: Ông Phạm Bai - Kiểm sát viên.

Trong các ngày 12 và 13 tháng 5 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 148/2024/TLPT-HS ngày 11 tháng 10 năm 2024 đối với bị cáo Nguyễn Thị H và các bị cáo khác, do có kháng cáo của các bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 200/2024/HS-ST ngày 29 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa.

Các bị cáo có kháng cáo:

  1. Nguyễn Thị H, sinh ngày 17 tháng 8 năm 1969, tại: Quảng Ngãi; nơi cư trú: Thôn T, xã V, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Xuân S và bà Vũ Thị B. Có chồng (đã ly hôn) và có 01 người con.

    Tiền án, tiền sự: Không.

    Nhân thân: Không.

    Bị cáo không bị tạm giữ, tạm giam.

    Có mặt tại phiên tòa.

  2. Nguyễn Hữu H1, sinh ngày 10 tháng 7 năm 1981, tại: Bình Định; nơi cư trú: Thôn T, xã V, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn B1 và bà Hoàng Thị M. Chưa có vợ, con.

    Tiền án, tiền sự: Không.

    Nhân thân: Không.

    Bị cáo không bị tạm giữ, tạm giam.

    Có mặt tại phiên tòa.

  3. Luyện Huy T (tên gọi khác: Tiến L), sinh ngày 19 tháng 9 năm 1996, tại: Bắc Giang; nơi cư trú: Số A tổ A hẻm A H, phường V, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa (nay là: Số G đường N, phường V, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa); nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Luyện Huy T1 và bà Hoàng Thị T2. Có vợ và có 01 người con (theo khai báo của bị cáo tại phiên tòa).

    Tiền sự: Không.

    Tiền án: Tại Bản án hình sự phúc thẩm số 40/2014/HS-PT ngày 20 tháng 3 năm 2014, Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa xử phạt Luyện Huy T 03 năm tù về tội “Cướp tài sản” theo điểm d khoản 2 Điều 133 của Bộ luật Hình sự. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 07 tháng 11 năm 2017.

    Nhân thân: Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 81/2020/HS-ST ngày 12 tháng 5 năm 2020, Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa xử phạt Luyện Huy T 02 năm tù về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 (dẫn chiếu các điểm a, i khoản 1) Điều 134; điểm h (tái phạm) khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự; Chấp hành xong hình phạt tù ngày 30 tháng 8 năm 2023.

    Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 28 tháng 8 năm 2019 đến ngày 29 tháng 11 năm 2021.

    Bị cáo đang tại ngoại.

    Có mặt tại phiên tòa.

  4. Đoàn Mộng L1, sinh ngày 27 tháng 11 năm 1993, tại: Tuyên Quang; nơi thường trú: Tổ A H, phường V, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa; chỗ ở: Thôn T, xã V, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa; nghề nghiệp: Thợ mộc; trình độ học vấn: 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đoàn Văn Q (còn có tên khác là Đoàn Hào Q1 – theo khai sinh của bị cáo Đoàn Mộng L1) và bà Bùi Thị C. Có vợ (đã ly hôn – theo khai báo của bị cáo tại phiên tòa) và có 01 người con.

    Tiền án, tiền sự: Không

    Nhân thân:

    • Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 10/2017/HS-ST ngày 14 tháng 3 năm 2017, Tòa án nhân dân huyện Diên Khánh, tỉnh Khánh Hòa xử phạt Đoàn Mộng L1 03 (ba) tháng 04 (bốn) ngày tù về tội “Trộm cắp tài sản”, theo khoản 1 Điều 138 của Bộ luật Hình sự năm 1999. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 14 tháng 3 năm 2017. Chấp hành xong các quyết định khác của bản án ngày 03 tháng 8 năm 2017.
    • Tại Quyết định số 2090/QĐ-CT ngày 21 tháng 11 năm 2007, Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện C, tỉnh Tuyên Quang áp dụng biện pháp đưa Đoàn Mộng L1 vào Trường G tháng. Chấp hành xong quyết định ngày 01 tháng 9 năm 2009.

    Bị cáo đầu thú và bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 12 tháng 9 năm 2022.

    Bị cáo đang bị tạm giam tại Phân trại tạm giam khu vực N – Trại tạm giam Công an tỉnh K.

    Có mặt tại phiên tòa.

  5. Nguyễn Hoàng A (tên gọi khác: Bi móm), sinh ngày 07 tháng 01 năm 1995, tại: Khánh Hòa; nơi cư trú: Thôn V, xã V, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Thiên chúa (theo khai báo của bị cáo tại phiên tòa); quốc tịch: Việt Nam. Họ và tên cha: Không xác định, họ và tên mẹ: Nguyễn Thị M1. Có chồng và có 01 người con (theo khai báo của bị cáo tại phiên tòa).

    Tiền án, tiền sự: Không;

    Bị cáo không bị tạm giữ, tạm giam.

    Có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Năm 2018, Trần Thị Xuân H2 có vay của Nguyễn Thị H và Nguyễn Hữu H1 60.000.000 đồng. Sau đó, bà H2 cùng gia đình đi khỏi địa phương, thuê trọ nhiều nơi để làm ăn và sinh sống. Đến tháng 10 năm 2018, bà H2 và gia đình thuê nhà trọ để ở và bán cơm gà tại tổ G L, phường N, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa.

Khoảng 9 giờ 00 phút, ngày 07 tháng 4 năm 2019 Nguyễn Thị H biết thông tin về nơi ở của gia đình bà H2 nên rủ Đoàn Mộng L1, Luyện Huy T, Nguyễn Hoàng A đến nhà bà H2 để đòi nợ thì L1, T và Hoàng A đều đồng ý. H gọi một xe taxi loại 7 chỗ màu vàng của hãng A1, biển số 79A- 029.03 do anh Nguyễn Đức L2 điều khiển chở 04 người đến nơi H2 đang thuê trọ để đòi nợ. Khi đến nơi, cả nhóm thấy ông Lê Viết T3 (là chồng của bà H2) đang ngồi rửa chén bên góc tường thì H xông vào chửi và nắm tóc ông T3 kéo ngược ra sau, dùng tay đánh nhiều cái vào người ông T3. Do thấy nhóm H đông nên ông T3 không dám chống trả. H hỏi H2 đang ở đâu, T3 nói H2 đi chợ nên cả nhóm H, L1, T và Hoàng A ngồi đợi bà H2 về.

Khoảng 30 phút sau, thấy bà Hồng điều K xe máy Vario, biển số 79N2 - 609.76 do anh Chung Gia Hoàng T4 đứng tên sở hữu dừng trước cửa nhà thì H, L1 và T chạy ra chặn đầu xe bà H2 lại, H nắm cổ áo bà H2 chửi và lôi bà H2 vào trong nhà hỏi bà H2 “Sao nợ không trả mà bỏ trốn, chừng nào trả tiền”, bà H2 nói không có tiền, từ từ trả. Đoàn Mộng L1 nghe vậy, cho rằng bà H2 nợ tiền mà còn ăn nói xấc xược nên xông vào đá trúng vùng miệng làm gãy bốn cái răng cửa của bà H2, Luyện Huy T can ngăn L1 không cho đánh bà H2 nữa. Cả nhóm tiếp tục đòi tiền và ép bà H2 viết giấy bán xe máy Vario nhưng bà H2 từ chối nói không phải xe của mình. Sau đó, bà H2 xin H cho đến chợ Đ gặp mẹ bà H2 để mượn tiền trả nợ, H đồng ý nhưng đề phòng bà H2 bỏ trốn nên gọi T đi cùng với bà H2 trên xe taxi mà H đã gọi trước đó, còn H, L1 và Hoàng A đến quán nước mía của anh Lê Văn M2 đối diện nhà bà H2 ngồi đợi. Khoảng 30 phút sau, Nguyễn Hữu H1 và 01 thanh niên tên Đ1 (chưa rõ nhân thân, lai lịch) đi đến quán nước mía gặp H. Nghe H kể việc bà H2 và T đang ở chợ Đ2 để mượn tiền nên H1 và người thanh niên đi thẳng xuống chợ Đ2 gặp bà H2. Thấy bà H2 không mượn được tiền nên H1 yêu cầu bà H2 cùng với T lên xe taxi về lại nhà trọ của bà H2 giải quyết còn người thanh niên tên Đ1 bỏ đi. Sau đó, cả nhóm gồm H1, H, L1 và Hoàng A tiếp tục đe dọa bắt bà H2 phải trả 60.000.000 đồng (sáu mươi triệu đồng). Bà H2 hẹn cho bà 03 ngày để kiếm tiền trả nợ thì H1 và H nói “Không tin mày nữa, giờ tụi tao lấy xe máy, 03 ngày nữa mày mang tiền đến trả rồi lấy xe máy về”. Bà H2 không đồng ý và nói đây không phải xe của bà H2. Nguyễn Thị H nói Hoàng A đi mua giấy, bút. Hoàng A đi mua giấy bút về nói: “Để em viết giấy sẵn rồi kêu bà ấy ký vào” nhưng Hoàng A không biết viết nên xé giấy nhiều lần. Thấy vậy, H1 nói “Để anh viết cho”. H1 viết nội dung bà H2 tự nguyện bán xe máy Vario biển số 79N2 - 609.76 cho Luyện Huy T với giá 75.000.000 đồng (bảy mươi lăm triệu đồng) rồi đưa giấy cho bà H2 ký. Bà H2 nói “Đây không phải xe em, đây là xe em mượn” và từ chối không ký tên thì L1 và H vừa hăm dọa vừa chửi, đòi đánh bà H2. H nói “Mày không ký tao chặt tay mày”. Vì sợ nên bà H2 đã ký tên vào giấy bán xe. Sau đó, nhóm H tìm chìa khóa xe đưa cho L1 điều khiển xe máy trên đi về cất giấu tại nhà của Nguyễn Thị H. Lúc rời khỏi nhà bà H2, H ra ngăn tủ bán cơm của bà H2 lấy 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) và nói “Tao lấy tiền mày để trả tiền taxi” và đưa tiền cho Hoàng A.

Ngày 11 tháng 4 năm 2019, H biết bà H2 làm đơn tố cáo đến Công an việc nhóm H chiếm đoạt xe máy Vario nên cùng Hoàng A đến nhà bà H2. Tại đây, hai bên xảy ra kình cãi, xô xát và bị Công an phường N yêu cầu về trụ sở Công an làm việc.

Ngày 08 tháng 4 năm 2019, Trần Thị Xuân H2 có đơn yêu cầu khởi tố về hành vi cố ý gây thương tích và cưỡng đoạt tài sản.

Ngày 01/10/2020, bà H2 có đơn rút yêu cầu khởi tố vụ án hình sự “Cố ý gây thương tích”.

Tại bản Kết luận giám định pháp y về thương tích số 112/TgT ngày 24 tháng 4 năm 2019, Trung tâm pháp y - Sở Y kết luận: Bà Trần Thị Xuân H2 bị gãy 04 răng cửa, tỷ lệ thương tích là 6%.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số 283/HĐĐG ngày 20 tháng 5 năm 2019 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố N kết luận: Xe máy Vario biển số 79N2 - 609.76 trị giá 38.800.000₫ (ba mươi tám triệu tám trăm nghìn đồng).

Tại Bản kết luận giám định số 31/GĐTP/2020 ngày 10 tháng 01 năm 2020, Phòng K1 - Công an tỉnh K kết luận: Chữ viết ghi nội dung trên tài liệu cần giám định ký hiệu A, so với mẫu chữ viết của “Nguyễn Hữu H1” trên các tài liệu mẫu so sánh ký hiệu M1, M2, M3 là do cùng một người viết ra; Chữ ký và chữ viết họ tên “Luyện Huy T” bên dưới mục “Bên mua” trên giám định ký hiệu A so với mẫu chữ ký, chữ viết của “Luyện Huy Tiến” trên các tài liệu mẫu so sánh ký hiệu M4 và M5 không phải do cùng một người ký, viết ra; Chữ viết họ tên “Trần Thị Xuân H2” dưới mục “Người bán” trên tài liệu cần giám định ký hiệu A so với mẫu chữ viết của “Trần Thị Xuân H2” trên các tài liệu mẫu so sánh ký hiệu M6 và M7, là do cùng một người viết ra.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 200/2024/HS-ST ngày 29 tháng 8 năm 2024, Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa đã quyết định:

  • Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 170; khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo Nguyễn Thị H và Nguyễn Hữu H1;
  • Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 170; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h (tái phạm) khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Luyện Huy T;
  • Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 170; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Đoàn Mộng L1;
  • Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 170; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Nguyễn Hoàng A,
  • Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị H 04 (bốn) năm tù, Nguyễn Hữu H1 và Luyện Huy T mỗi bị cáo 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù, Đoàn Mộng L1 03 (ba) năm 03 (ba) tháng tù và Nguyễn Hoàng A 03 (ba) năm tù, cùng về tội “Cưỡng đoạt tài sản".

Ngoài ra, Bản án sơ thẩm còn quyết định về án phí và quyền kháng cáo.

  • Ngày 04 tháng 9 năm 2024, bị cáo Nguyễn Hữu H1 kháng cáo kêu oan.
  • Ngày 09 tháng 9 năm 2024, các bị cáo Nguyễn Hoàng A, Nguyễn Thị H và Đoàn Mộng L3 kháng cáo kêu oan.
  • Ngày 11 tháng 9 năm 2024, bị cáo Luyện Huy T kháng cáo kêu oan.

Phát biểu quan điểm của Viện kiểm sát về việc giải quyết vụ án, Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử:

  • Không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Nguyễn Thị H, Nguyễn Hữu H1 và Nguyễn Hoàng A; giữ nguyên bản án sơ thẩm.
  • Giảm hình phạt cho các bị cáo Đoàn Mộng L3 và Luyện Huy T do các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải tại phiên tòa phúc thẩm.

Trình bày lời bào chữa:

  • Các bị cáo Đoàn Mộng L1 và Luyện Huy T thay đổi kháng cáo xin giảm hình phạt.
  • Các bị cáo Nguyễn Thị H, Nguyễn Hữu H1 và Nguyễn Hoàng A giữ nguyên kháng cáo kêu oan.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về thủ tục tố tụng:

Kháng cáo của các bị cáo được thực hiện trong hạn luật định nên được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.

[2]. Quá trình xét xử vụ án: Vụ án này đã qua 02 lần xét xử sơ thẩm và 01 lần xét xử phúc thẩm, cụ thể:

Tại Bản án số 115/2021/HS-ST ngày 28 tháng 5 năm 2021, Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa đã kết án các bị cáo về tội “Cưỡng đoạt tài sản” với giá trị tài sản chiếm đoạt theo số tiền 60.000.000 đồng (sáu mươi triệu đồng) bị hại nợ của bị cáo và 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) bị cáo H lấy trong hộc tủ cơm của bị hại. Sau khi xét xử sơ thẩm, các bị cáo Nguyễn Hữu H1 và Nguyễn Hoàng A kháng cáo xin giảm hình phạt; bị cáo Nguyễn Thị H kháng cáo kêu oan.

Tại Bản án hình sự phúc thẩm số 110/2021/HSPT ngày 16 tháng 11 năm 2021, Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa đã hủy Bản án hình sự sơ thẩm số 115/2021/HS-ST ngày 28 tháng 5 năm 2021 của Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa để điều tra, truy tố lại đối với các bị cáo về tội “Cưỡng đoạt tài sản” theo giá trị chiếm đoạt 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) bị cáo H lấy trong hộc tủ cơm của bị hại và 75.000.000 đồng (bảy mươi lăm triệu đồng) mà các bị cáo uy hiếp bị hại để ký giấy bán xe.

Xét xử sơ thẩm lại, Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa đã kết án các bị cáo như đã nêu trên với giá trị chiếm đoạt là 78.000.000 đồng, theo kết quả điều tra, truy tố lại.

[3]. Xét kháng cáo của bị cáo:

3.1 Xét về tội danh:

Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo Đoàn Mộng L1 và Luyện Huy T thay đổi nội dung kháng cáo, không kêu oan mà chỉ xin giảm hình phạt. Đồng thời L1 và T khai nhận các tình tiết sự việc và hành vi của các bị cáo cũng như của H, H1 và Hoàng A trong vụ án đúng như L1, T đã khai tại Cơ quan điều tra và như bản án sơ thẩm đã nêu.

Bị cáo Nguyễn Hữu H1 và Nguyễn Hoàng A thay đổi lời khai, phủ nhận tất cả các lời đã khai tại Cơ quan điều tra. Giải thích về sự thay đổi lời khai của mình, H1 và Hoàng A cho rằng bị Điều tra viên dẫn dắt khai theo ý muốn của Điều tra viên.

Bị cáo Nguyễn Thị H trước sau đều khẳng định bị cáo chỉ đến nhà bị hại đòi nợ, không uy hiếp cưỡng bức bà H2 bán xe Vario. Việc bà H2 ký giấy bán xe là tự nguyện.

Đánh giá việc thay đổi lời khai của các bị cáo Nguyễn Hữu H1 và Nguyễn Hoàng A và việc bị cáo Nguyễn Thị H kêu oan, Hội đồng xét xử thấy:

Trong giai đoạn điều tra lần đầu, tại các lời khai đầu tiên từ bút lục số 152 đến 158 H1 không nhận tội và khai giống như bị cáo H đã khai tại Cơ quan điều tra, nhưng từ bút lục số 159 đến 174 bị cáo đều nhận tội. Cụ thể, H1 đã khai: “Tôi và H bàn bạc sẽ lấy xe máy Vario của chị H2, tôi thấy Hoàng A viết không được tờ giấy bán xe nên tôi đi vào và trực tiếp viết giấy bán xe của chị H2 ... tôi bắt chị H2 phải ký tên vào giấy bán xe nhưng chị H2 xin đừng lấy xe vì xe không phải của chị H2. Tôi H, L1, Hoàng A, T không đồng ý, bắt chị H2 phải ký tên bán xe cho T với giá 75 triệu đồng. Sau đó tôi đi chụp hình xe và biển số ... để hợp thức hóa việc chiếm đoạt xe máy của chị H2 bắt chị H2 phải trả nợ và để đối phó với cơ quan Công an nếu chị H2 đi trình báo ... H cũng tham gia bắt chị H2 phải ký tên vào giấy bán xe. H có mặt từ đầu cùng nhóm L1, T, Hoàng A và tôi tại quán cơm nhà chị H2 đến khi bắt H2 ký tên vào giấy bán xe Vario... H khai báo không có mặt tại thời điểm cả nhóm đe dọa bắt ép chồng phải ký giấy bán xe là không đúng tất cả đều có mặt trong nhà chị H2 quán cơm cây dừa vào thời điểm bắt ép chị H2 phải ký giấy bán xe vì đó là một cũng là mục đích của tôi và H ngay từ đầu” (các bút lục từ 170 đến 172). Sau khi bản án sơ thẩm lần đầu bị hủy, H1 khẳng định: “Tôi không thay đổi bổ sung nội dung nào tại bản tự khai, biên bản hỏi cung bị can trước đây. Tôi khai báo tự nguyện, không bị ép buộc” (bút lục 751).

Đối với bị cáo Nguyễn Hoàng A, xuyên suốt trong quá trình điều tra đến khi xét xử sơ thẩm lần thứ 2, bị cáo đều nhận tội. Trong các bản tự khai, biên bản lấy lời khai, bản cung bị cáo đều mô tả chi tiết diễn biến hành vi của từng người trong nhóm. Đặc biệt, khi cho đối chất với bị cáo H, Hoàng A đã bác bỏ tất cả các lời khai không đúng sự thật của bị cáo H (không nhận tội) và khẳng định: “Tôi, T, L1, H1 và H đều có mặt bắt bà H2 ký tên vào giấy bán xe ... H còn nói “Mày không ký tao chặt tay mày” .....H lấy 300.000 đồng đưa cho tôi ..” (bút lục 133 – 134). Điều tra lại sau khi bản án sơ thẩm bị hủy, Hoàng A khai: “Toàn bộ nội dung tôi đã khai báo trước đây trong các bản tự khai, biên bản ghi lời khai và biên bản hỏi cung trước đây tại cơ quan Công an là hoàn toàn tự nguyện và đúng sự thật. Tôi không bị ai ép cung” (bút lục 757).

Kể từ khi vụ án được khởi tố (ngày 12 tháng 8 năm 2019) đến nay đã gần 6 năm, trừ bị cáo Đoàn Mộng L1 có đơn tố cáo bị cáo Nguyễn Thị H có hành vi mua chuộc bị cáo L1 thay đổi lời khai có lợi cho H thì không có bất kỳ bị cáo nào khác khiếu nại về hoạt động điều tra mặc dù các bị cáo đều tại ngoại. Hơn nữa, tài liệu có trong hồ sơ có đầy đủ các lời khai nhận tội và không nhận tội của các bị cáo (H và những lời khai ban đầu của H1). Cho thấy: Cơ quan điều tra đã đảm bảo quyền “Trình bày lời khai, trình bày ý kiến, không buộc phải đưa ra lời khai chống lại chính mình hoặc buộc phải nhận mình có tội” của bị can quy định tại điểm d khoản 2 Điều 60 của Bộ luật hình sự nên không có dấu hiệu bức cung hoặc dùng nhục hình trong điều tra và việc các bị cáo H1, Hoàng A nói rằng bị dẫn dắt lời khai là không có căn cứ. Do đó, các lời khai của các bị cáo Nguyễn Hữu H1 và Nguyễn Hoàng A đã khai trong quá trình điều tra được dùng làm chứng cứ để xác sự thật khách quan của vụ án.

Đối với Nguyễn Thị H, mặc dù bị cáo không nhận tội nhưng dựa vào lời khai của bị cáo Đoàn Mộng L1 và Luyện Huy T tại phiên tòa sơ thẩm, phúc thẩm kết hợp lời khai của các bị cáo Nguyễn Hữu H1 và Nguyễn Hoàng A, lời khai của bị hại và các chứng cứ khác đã thu thập được trong quá trình điều tra đủ chứng cứ để xác định: Nguyễn Thị H là chủ mưu và người thực hành tích cực nhất cùng với Nguyễn Hữu H1, Đoàn Mộng L1, Luyện Huy T và Nguyễn Hoàng A đã có hành vi uy hiếp, ép buộc bị hại Trần Thị Xuân H2 bán xe để chiếm đoạt 75.000.000 đồng (bảy mươi lăm triệu đồng) ghi trên giấy bán xe do Nguyễn Hữu H1 viết và 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tiền mặt trong tủ cơm của bà H2.

Như vậy, Bản án hình sự sơ thẩm số 200/2024/HS-ST ngày 29 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa đã kết án các bị cáo về tội “Cưỡng đoạt tài sản” theo điểm d khoản 2 Điều 170 của Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội không oan.

3.2 Xét về hình phạt:

Các bị cáo Nguyễn Thị H, Nguyễn Hữu H1 và Nguyễn Hoàng A chỉ kêu oan cho rằng mình không phạm tội, không đề nghị giảm hình phạt và cũng không có tình tiết mới nên giữ nguyên mức hình phạt tù như cấp sơ thẩm đã tuyên phạt.

Các bị cáo Đoàn Mộng L1 và Luyện Huy T tại phiên tòa phúc thẩm tự nguyện thay đổi kháng cáo, tỏ ra ăn năn hối cải, không chỉ khai báo rõ ràng về hành vi của mình mà con khai báo đầy đủ về hành vi của các đồng phạm khác, thiết tha xin giảm hình phạt để tích cực cải tạo. Bị cáo Đoàn Mộng L3 có nộp thêm các giấy tờ chứng minh có ông bà nội và cha đẻ là người có công. Vì vậy, Kiểm sát viên đề nghị giảm cho mỗi bị cáo một phần hình phạt là có cơ sở.

Riêng đối với bị cáo Đoàn Mộng L1, sau khi xét xử sơ thẩm lần thứ nhất Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang đã ra quyết định thi hành án và bị cáo đã chấp hành hình phạt tù từ ngày 25 tháng 10 năm 2021 đến ngày 30 tháng 11 năm 2021 nên khoảng thời gian này được trừ vào thời gian chấp hành hình phạt tù của bị cáo.

[4]. Về án phí:

  • Các bị cáo Nguyễn Thị H, Nguyễn Hữu H1 và Nguyễn Hoàng A phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.
  • Các bị cáo Đoàn Mộng L1 và Luyện Huy T không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 343; Điều 345; các điểm a, b khoản 1 và khoản 2 Điều 355 và Điều 356; điểm c khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự,

  1. Không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Nguyễn Thị H, Nguyễn Hữu H1 và Nguyễn Hoàng A;

    Giữ nguyên Bản án sơ thẩm:

    • Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 170; khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo Nguyễn Thị H và Nguyễn Hữu H1;
    • Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 170; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Nguyễn Hoàng A,

    1.1 Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị H 04 (bốn) năm tù, về tội “Cưỡng đoạt tài sản”; thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt đi thi hành án.

    1.2 Xử phạt bị cáo Nguyễn Hữu H1 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù, về tội “Cưỡng đoạt tài sản”; thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt đi thi hành án.

    1.3 Xử phạt bị cáo Nguyễn Hoàng A 03 (ba) năm tù, về tội “Cưỡng đoạt tài sản”; thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt đi thi hành án.

  2. Chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Đoàn Mộng L1 và Luyện Huy T,

    Sửa Bản án sơ thẩm:

    • Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 170; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm h (tái phạm) khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Luyện Huy T;
    • Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 170; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Đoàn Mộng L1,

    2.1 Xử phạt bị cáo Luyện Huy T 03 (ba) năm 03 (ba) tháng tù, về tội “Cưỡng đoạt tài sản”; thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt đi thi hành án và được trừ thời gian đã bị tạm giam từ ngày 28 tháng 8 năm 2019 đến ngày 29 tháng 11 năm 2021 vào thời hạn chấp hành hình phạt tù.

    2.2 Xử phạt bị cáo Đoàn Mộng L1 03 (ba) năm tù, về tội “Cưỡng đoạt tài sản”; thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 12 tháng 9 năm 2022 và được trừ thời gian đã chấp hành án từ ngày 25 tháng 10 năm 2021 đến ngày 30 tháng 11 năm 2021 vào thời hạn chấp hành hình phạt tù.

  3. Về án phí:
    • Bị cáo Nguyễn Thị H phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự phúc thẩm.
    • Bị cáo Nguyễn Hữu H1 phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự phúc thẩm.
    • Bị cáo Nguyễn Hoàng A phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự phúc thẩm.
    • Các bị cáo Luyện Huy T và Đoàn Mộng L1 không phải nộp án phí hình sự phúc thẩm.
  4. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
  5. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án (ngày 13 tháng 6 năm 2025).

Nơi nhận:

  • - Vụ GĐKT I – TANDTC;
  • - VKSND tỉnh Khánh Hòa;
  • - Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Khánh Hòa;

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

[Signature/Name Placeholder]

11

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 66/2025/HS-PT ngày 13/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KHÁNH HÒA về xét xử phúc thẩm vụ án hình sự về tội cưỡng đoạt tài sản

  • Số bản án: 66/2025/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Xét xử phúc thẩm vụ án hình sự về tội Cưỡng đoạt tài sản
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 13/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KHÁNH HÒA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thị Hiền cùng đồng phạm cưỡng đoạt tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger