Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HUẾ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 66/2025/HS-ST

Ngày: 17- 6 - 2025

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HUẾ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Tôn Minh Hiền.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Võ Văn Chinh.

Ông Châu Khắc Thái.

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Huyền Trang - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Huế.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Huế tham gia phiên tòa:

Ông Trần Viết Cảnh – Kiểm sát viên;

Ông Trương Vĩnh T – Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Huế, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 31/2025/TLST-HS ngày 27 tháng 3 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 135/2025/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 6 năm 2025, đối với các bị cáo:

  1. Đỗ Văn P (tên gọi khác: Không), sinh ngày 15/9/2001 tại thành phố H; nơi cư trú: Số A kiệt D đường N, phường K, quận P, thành phố H; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 08/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đỗ Văn Q, sinh năm 1979 và bà Đoàn Thị Bé C, sinh năm 1980; vợ, con: Chưa có; anh, chị em: Có 04 người, bị cáo là con thứ nhất; tiền án, tiền sự: Không.

    Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 18/12/2024 tại Trại tạm giam Công an thành phố H cho đến nay. Có mặt.

  2. Lê Nguyễn Hải S (tên gọi khác: Không), sinh ngày 25/12/2006 tại thành phố H; nơi cư trú: Số H đường V, phường K, quận P, thành phố H; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Phật giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn H, sinh năm 1978 và bà Nguyễn Thị D, sinh năm 1977; vợ, con: Chưa có; anh, chị em: Có 03 người, bị cáo là con thứ hai; tiền án, tiền sự: Không.

    Về nhân thân: Ngày 13/12/2021, bị Công an thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế (cũ) xử phạt cảnh cáo về hành vi “tàng trữ, cất giấu dao nhằm mục đích cố ý gây thương tích” (Theo Quyết định số: 5997).

    Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 18/12/2024 tại Trại tạm giam Công an thành phố H cho đến nay. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào lúc 16 giờ 10 phút, ngày 17 tháng 12 năm 2024, tại trước nhà số E đường L, phường P, quận T, thành phố H, Phòng cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an thành phố H phát hiện bắt quả tang Lê Nguyễn Hải S và Đỗ Văn P đang tàng trữ trái phép chất ma túy. Thu giữ trên người của P 01 gói nilon màu trắng viền xanh, bên trong chứa tinh thể rắn màu trắng, 01 túi nilon màu trắng, bên trong chứa 10 viên nén màu đỏ.

Quá trình điều tra xác định: Do có nhu cầu sử dụng ma túy nên chiều ngày 17/12/2024, Đỗ Văn P sử dụng mạng xã hội M liên lạc với Lê Nguyễn Hải S bàn nhau mua ma túy về sử dụng thì được S đồng ý và chuyển vào tài khoản của P 300.000 đồng để góp tiền mua ma túy. Nhận được tiền, P liên hệ với Trương Hồ Bảo Q1, sinh năm 1993, trú tại: Số A đường N, phường P, quận P, thành phố H để đặt mua 10 viên ma túy hồng phiến và “nửa hộp năm” ma túy đá, Q1 đồng ý bán với giá 2.300.000 đồng và hướng dẫn P đi vào kiệt số F đường H, phường V, quận T, thành phố H nhận ma túy. Sau đó, Lê Nguyễn Hải S điều khiển xe mô tô biển kiểm soát: 75AF 244.73 (xe của bà Nguyễn Thi D1, sinh năm 1977, trú tại: Số H đường V, phường K, quận P, thành phố H, là mẹ của bị can S) chở Đỗ Văn P đi nhận ma túy theo hướng dẫn của Q1. Nhận được ma túy, S chở P quay về hướng phường K, quận P, thành phố H tìm nơi sử dụng thì bị phát hiện bắt quả tang.

Khám xét chỗ ở của P tại địa chỉ: Số A đường N, phường K, quận P, thành phố H và chỗ ở của S tại địa chỉ: Số H đường V, phường K, quận P, thành phố H, Cơ quan điều tra không phát hiện, thu giữ gì.

Tại bản Kết luận giám định số: 875/KL-KTHS ngày 23/12/2024 của Phòng K Công an thành phố H kết luận:

  1. Mẫu tinh thể rắn màu trắng gửi giám định có khối lượng 2,3318 gam là ma túy, loại Methamphetamine.
  2. 10 viên nén đều có dạng hình trụ tròn màu đỏ gửi giám định có khối lượng 0,9378 gam là ma túy, loại Methamphetamine.

* Vật chứng, đồ vật, tài liệu tạm giữ:

Ngoài số ma túy thu giữ trên, Cơ quan điều tra còn tạm giữ:

  • 01 điện thoại di động hiệu Vivo Y21 có nắp ốp lưng màu xanh, số Imei1: 861428053464435, Imei2: 861428053464427 của Lê Nguyễn Hải S;
  • 01 điện thoại di động hiệu Vivo 2015 có nắp ốp lưng màu xanh, số Imeil: 864739040223818, Imei2: 864739040223800 màn hình bị nứt vỡ của Đỗ Văn P.
  • 01 xe mô tô Wave màu trắng, nhãn hiệu Honda, biển kiểm soát: 75AF-244.73.

* Xử lý vật chứng: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố H đã trả lại xe mô tô biển kiểm soát: 75AF-244.73 cho chủ sở hữu là bà Nguyễn Thị D.

* Về các đối tượng liên quan trong vụ án:

  • Đối với Trương Hồ Bảo Q1: Là người có hành vi bán ma túy cho các bị cáo P, S, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố H đã khởi tố vụ án, khởi tố bị can để điều tra, xử lý trong một vụ án khác.
  • Đối với bà Nguyễn Thị D: Là chủ sở hữu xe mô tô biển kiểm soát: 75AF-244.73, quá trình điều tra xác định bà D không biết việc bị cáo S tự ý lấy xe mô tô này đi thực hiện hành vi phạm tội. Do đó hành vi của bà D không cấu thành tội phạm.

Tại bản Cáo trạng số: 18/CT-VKSTTH-P1 ngày 26/3/2025, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Huế đã truy tố các bị cáo Đỗ Văn P và Lê Nguyễn Hải S về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Huế đề nghị Hội đồng xét xử:

  • Tuyên bố các bị cáo Đỗ Văn P và Lê Nguyễn Hải S phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Về hình phạt:

    Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s, t khoản 1 Điều 51; điểm o khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Đỗ Văn P từ 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù đến 02 (hai) năm tù;

    Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 101 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Lê Nguyễn Hải S từ 09 (chín) tháng tù đến 01 (một) năm tù;

  • Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự:

    Tịch thu tiêu hủy: Khối lượng ma túy còn lại sau khi lấy mẫu trưng cầu giám định chất ma túy cùng các vật liệu dùng để bao gói, niêm phong.

    Tịch thu nộp vào Ngân sách Nhà nước: 01 điện thoại di động hiệu Vivo thu giữ của Lê Nguyễn Hải S; 01 điện thoại di động hiệu Vivo 2015 màn hình bị nứt vỡ của Đỗ Văn P.

  • Về án phí: Buộc các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  1. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân, Kiểm sát viên: Hành vi và các quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên được thực hiện và ban hành đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định tại Bộ luật Tố tụng Hình sự nên đều hợp pháp.
  2. Có đủ cơ sở kết luận: Chiều ngày 17/12/2024, Đỗ Văn P liên lạc với Lê Nguyễn Hải S thống nhất góp tiền mua ma túy cùng nhau sử dụng. Sau đó, P liên hệ với Trương Hồ Bảo Q1, sinh năm 1993, trú tại: Số A đường N, phường P, quận P, thành phố H mua 10 viên ma túy hồng phiến và “nửa hộp năm” ma túy đá với giá 2.300.000 đồng. Vào lúc 15 giờ 21 phút ngày 17/12/2024, khi Lê Nguyễn Hải S chở Đỗ Văn P đem ma túy về trước nhà số E đường L, phường P, quận T, thành phố H, thì bị phát hiện bắt quả tang. Trọng lượng ma túy các bị cáo tàng trữ trái phép là 3,2696 gam, loại Methamphetamine.

    Với hành vi nêu trên, Đỗ Văn P và Lê Nguyễn Hải S bị Viện kiểm sát nhân dân thành phố Huế truy tố về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.

  3. Xét tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội; tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; nhân thân của các bị cáo, thấy rằng:

    Các bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật hình sự nhưng vẫn cố ý thực hiện. Các bị cáo phạm vào tội nghiêm trọng, hành vi phạm tội của các bị cáo đã xâm phạm đến chế độ độc quyền của Nhà nước về quản lý chất ma túy, trực tiếp ảnh hưởng xấu đến sức khỏe của con người và góp phần làm tăng các vi phạm pháp luật khác, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự, an toàn xã hội nên cần xử lý nghiêm. Đây là vụ án có tính chất đồng phạm nên các bị cáo phải chịu trách nhiệm về hậu quả chung về trọng lượng ma túy đã tàng trữ trái phép là 3,2696 gam ma túy, loại Methamphetamine. Trong đó, Đỗ Văn P là người khởi xướng, góp tiền nhiều hơn, trực tiếp liên hệ mua ma túy và đến điểm hẹn lấy ma túy, cất giữ ma túy nên phải chịu trách nhiệm chính với mức hình phạt nặng hơn. Lê Nguyễn Hải S là người góp 300.000 đồng mua ma túy và điều khiển xe mô-tô chở P đi lấy ma túy nên là người giúp sức với vai trò thứ yếu.

    Xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, thấy rằng: Các bị cáo không có tiền án, tiền sự. Bị cáo Đỗ Văn P rủ rê Lê Nguyễn Hải S là người dưới 18 tuổi góp tiền mua ma túy sử dụng trái phép nên phạm vào tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Xúi giục người dưới 18 tuổi phạm tội” quy định tại điểm o khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, các bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Ngoài ra, trong quá trình điều tra vụ án, bị cáo Đỗ Văn P đã chủ động khai ra hành vi bán ma túy của đối tượng Trương Hồ Bảo Q1, giúp cơ quan điều tra nhanh chóng điều tra vụ án, hiện nay Q1 đang bị truy tố về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” nên Đỗ Văn P được hưởng thêm tình giảm nhẹ trách nhiệm hình sự “Người phạm tội tích cực hợp tác với cơ quan có trách nhiệm trong việc phát hiện tội phạm” quy định tại điểm t khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

    Từ những phân tích, đánh giá trên, xét thấy cần xử phạt các bị cáo bằng một hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội và đặc điểm nhân thân của các bị cáo nhằm bảo đảm giáo dục, răn đe, phòng ngừa tội phạm.

    Đối với bị cáo Lê Nguyễn Hải S, tại thời điểm phạm tội đạt 17 tuổi 11 tháng 22 ngày, nên khi quyết định hình phạt cần áp dụng khoản 1 Điều 101 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo.

  4. Về xử lý vật chứng vụ án:
    • Đối với khối lượng ma túy còn lại sau khi lấy mẫu trưng cầu giám định chất ma túy là loại Nhà nước cấm lưu hành; 01 gói niêm phong bằng giấy trắng và băng keo trong không còn giá trị sử dụng, nên cần tịch thu tiêu hủy;
    • Đối với 02 điện thoại di động đều là phương tiện các bị cáo dùng để thực hiện hành vi phạm tội, nên cần tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước.
  5. Về án phí: Buộc các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố các bị cáo Đỗ Văn P, Lê Nguyễn Hải S phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  2. Về hình phạt:
    • Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s, t khoản 1 Điều 51; điểm o khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự;

      Xử phạt bị cáo Đỗ Văn P 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 18/12/2024.

    • Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 101 của Bộ luật Hình sự;

      Xử phạt bị cáo Lê Nguyễn Hải S 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù; thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 18/12/2024.

  3. Về xử lý vật chứng vụ án: Căn cứ Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự:
    • - Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) gói ma túy niêm phong bằng giấy trắng và băng keo trong; bên ngoài có 02 (hai) chữ ký ghi họ tên ĐTV Lê Thanh Q2; 02 (hai) chữ ký ghi họ tên của GĐV Trần N và 02 (hai) dấu hình tròn của Phòng K Công an thành phố H.

    • - Tịch thu nộp vào Ngân sách Nhà nước: 01 điện thoại di động hiệu Vivo Y21 có nắp ốp lưng màu xanh, số Imeil: 861428053464435, Imei2: 861428053464427 của Lê Nguyễn Hải S; 01 điện thoại di động hiệu Vivo 2015 có nắp ốp lưng màu xanh, số Imeil: 864739040223818, Imei2: 864739040223800, màn hình bị nứt vỡ của Đỗ Văn P.

    Đặc điểm vật chứng được xác định theo Biên bản giao nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố H và Cục Thi hành án dân sự thành phố Huế được lập vào ngày 11 tháng 4 năm 2025.

  4. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; khoản 1 Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án:

    Buộc các bị cáo Đỗ Văn P, Lê Nguyễn Hải S mỗi bị cáo phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Án sơ thẩm xét xử công khai, báo cho các bị cáo biết có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Nơi nhận:

  • - TAND cấp cao tại Đà Nẵng;
  • - VKSND thành phố Huế;
  • - Trại tạm giam CA thành phố Huế;
  • - Phòng PV06 CA thành phố Huế;
  • - CQTHAHS thành phố Huế;
  • - Cục THADS thành phố Huế;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu HCTP, Tòa HS, HSVA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)

Tôn Minh Hiền

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 66/2025/HS-ST ngày 17/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HUẾ về hình sự (tàng trữ trái phép chất ma túy)

  • Số bản án: 66/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Tàng trữ trái phép chất ma túy)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 17/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HUẾ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Đỗ Văn P và Đồng phạm phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy"
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger