|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN K THÀNH PHỐ C Bản án số: 66/2025/HS-ST Ngày: 16/04/2025 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN K, THÀNH PHỐ C
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngọc B
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Đỗ Thị Lệ H
- Bà Nguyễn Thị M
- Thư ký phiên tòa: Bà Võ An T - Thư ký Tòa án nhân dân quận K, thành phố C.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận K, thành phố C tham gia phiên tòa: bà Trần Thị H - Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 04 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận K, thành phố C xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 71/2025/HSST ngày 14 tháng 03 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 276/2025/QĐXXST-HS ngày 01 tháng 04 năm 2025 đối với bị cáo:
Thân Nguyễn Ngọc K (Q), sinh năm: 1977, tại thành phố Hồ Chí Minh;
Nơi cư trú: A T, phường A, quận D, thành phố Hồ Chí Minh;
Chỗ ở hiện nay: Không nơi cư trú ổn định.
Nghề nghiệp: Không;
Trình độ học vấn: 09/12;
Dân tộc: Kinh;
Giới tính: Nam;
Tôn giáo: Không;
Quốc tịch: Việt Nam;
Con ông: Thân Văn L và bà Nguyễn Thị N (chết);
Bị cáo có một người em.
Bị cáo chưa có vợ, con
Tiền án: 01 lần: Ngày 30/03/2012, bị Tòa án nhân dân quận 10, thành phố H xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản, chấp hành xong hình phạt tù ngày 13/04/2013, bị cáo chưa chấp hành việc nộp phạt.
Tiền sự: Không.
Về nhân thân: Bị cáo có 01 tiền sự ngày 17/07/2024 bị Tòa án nhân dân Quận L thành phố H ra Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời gian 18 tháng.
Bị cáo hiện đang bị tạm giam tại Phân trại tạm giam khu vực N từ ngày 19/12/2024.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại:
1/ Lê Nhật N1, sinh năm: 1999 (có mặt).
Địa chỉ: H đường T, phường H, quận N, thành phố C.
Địa chỉ: Ấp T, xã H, huyện P, tỉnh Hậu Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Thân Nguyễn Ngọc K là đối tượng sống lang thang, nghiện ma túy và không nơi cư trú nhất định. K cùng với Đ là bạn quen biết ngoài xã hội (không rõ nhân thân, lai lịch), cả hai đón xe khách từ thành phố Hồ Chí Minh đến thành phố C thuê nhà nghỉ gần cầu H để ở và tìm việc làm thuê. Vào khoảng 08 giờ ngày 22/3/2024, K và Đ đi bộ trên đường C, phường H để tìm việc làm, khi đi đến quán cà phê Ông Q1, địa chỉ số G đường C, phường H, quận N, Đ muốn đi vệ sinh nên một mình đi vào nhà vệ sinh của quán để đi nhờ, còn K thì đứng ở trước quán đợi. Trong khi đứng chờ Đ, K phát hiện xe mô tô, biển số 95E1 - 106.01 của ông Lê Nhật N1 đậu cạnh bãi giữ xe, trên xe có gắn sẵn chìa khóa xe không người trông coi. Nảy sinh ý định trộm cắp xe để làm phương tiện đi lại K đi đến mở khóa xe thì thấy mở được nên K quay xe lại, lúc này Đ cũng vừa ra đến, K nói Đ lên xe chở đi, khi đi ra đường lớn Đ nói K cho xuống xe vì Đ nghi ngờ K lấy trộm xe sợ bị Công an bắt, K cho Đ xuống xe đi bộ còn K một mình điều khiển xe mô tô về thành phố Hồ Chí Minh và giữ xe lấy trộm làm phương tiện đi lại.
Đến khoảng 11 giờ ngày 09/5/2024, K đậu xe mô tô biển số 95E1 - 106.01 ở lòng đường để mua đồ thì bị tổ tuần tra Công an phường I, Quận E, thành phố Hồ Chí Minh, yêu cầu xuất trình căn cước công dân và giấy chứng nhận đăng ký xe, K không xuất trình được giấy tờ xe nên Công an phường I, quận E, thành phố Hồ Chí Minh mời K về trụ sở làm việc. Qua làm việc, K khai xe mô tô này do K lấy trộm trên địa bàn quận N, thành phố C.
Tiến hành xét nghiệm chất ma túy đối với Thân Nguyễn Ngọc K kết quả dương tính, K không có nơi cư trú nhất định nên Công an phường I đã lập hồ sơ đưa K đi cai nghiện bắt buộc tại cơ sở cai nghiện ma túy N3 thuộc huyện H, thành phố Hồ Chí Minh.
Ngày 22 tháng 5 năm 2024 Công an phường I, quận E, thành phố Hồ Chí Minh có Công văn về việc phối hợp điều tra gửi đến Công an quận N, thành phố C. Qua rà soát, ông Lê Nhật N1 đã đến Công an phường H để trình báo sự việc, vào thời điểm xảy ra sự việc ông N1 bận việc riêng không đến Công an phường để trình báo.
* Tài sản bị chiếm đoạt gồm: 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave RSX màu đỏ, đen biển số 95E1- 106.01 (đã thu hồi được tài sản do Công an phường I, quận E, TP . bàn giao).
Tại Cơ quan điều tra, Thân Nguyễn Ngọc K khai nhận toàn bộ hành vi trộm cắp xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave RSX màu đỏ, đen biển số 95E1-106.01 vào ngày 22/3/2024 trên địa bàn quận N, thành phố C là phù hợp với tài liệu, chứng cứ thu thập được.
Theo Bản kết luận định giá tài sản số 1758/KL-HĐĐG ngày 12 tháng 8 năm 2024 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự quận N kết luận: Xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave RSX, biển số 95E1-xxxxx, số khung CY, số máy E, dung tích xilanh 109cm3, đăng ký lần đầu năm 2013. Tình trạng xe bình thường, đã qua sử dụng. Giá trị còn lại là 8.000.000đ (tám triệu đồng).
Đối với người tên Đ là bạn đi cùng xe với K, do K khai quen biết Đen vào khoảng tháng 01/2024 khi sử dụng ma túy chung, K không biết nhân thân và lai lịch của Đ. Do chưa đủ căn cứ xác minh nhân thân lai lịch của Đ, Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh, làm rõ, khi có đủ căn cứ xử lý sau.
Đối với xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave RSX, biển số 95E1-xxxxx, số khung CY, số máy E, qua xác minh xe này do ông Lê Văn N2 đứng tên chủ sở hữu, ông N2 giao xe này cho anh N1 (con ruột) sử dụng làm phương tiện đi lại. Do ông N1 đã mất vào ngày 23/5/2023 nên Cơ quan điều tra đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave RSX, biển số 95E1-xxxxx, số khung CY, số máy E cho ông Lê Nhật N1, ông N1 đã nhận lại xe mô tô và không có yêu cầu gì khác.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Lê Nhật N1 đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu bồi thường.
Tại bản cáo trạng số: 82/CT –VKSNK ngày 13 tháng 03 năm 2025 Viện kiểm sát nhân dân quận K truy tố: bị cáo Thân Nguyễn Ngọc K về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa:
Bị cáo Thân Nguyễn Ngọc K thừa nhận hành vi phạm tội như cáo trạng đã truy tố và xin giảm nhẹ hình phạt.
Bị hại đã nhận lại tài sản, không có yêu cầu bồi thường và xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố của Viện kiểm sát:
- Truy tố bị cáo Thân Nguyễn Ngọc K về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 (tái phạm) Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Thân Nguyễn Ngọc K mức án từ 02 (hai) năm đến 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù.
Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự về xử lý vật chứng.
Xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave RSX, biển số 95E1-xxxxx, số khung CY, số máy E là vật chứng trong vụ án đã trả cho bị hại nên đề nghị hội đồng xét xử ghi nhận.
Điện thoại di động màu xanh, hiệu samsung số Imei 1: 35468xxx1554464, gắn sim 0964 xxx 861 có ốp lưng bằng nhựa màu đen không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo nên đề nghị trả lại cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về tố tụng: Trong quá trình điều tra, truy tố Cơ quan Công an và Viện kiểm sát đã thực hiện đúng quy định về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự.
[2] Về trách nhiệm hình sự: Lời khai nhận tội của bị cáo là phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra, lời khai của bị hại, kết luận định giá cùng các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã đủ cơ sở để kết luận.
Bị cáo Thân Nguyễn Ngọc K là người đã thành niên có sức khỏe, có nhận thức pháp luật đầy đủ, nhưng vì muốn có tiền tiêu xài, có phương tiện để sử dụng nên đã lén lút lấy trộm xe mô tô biển số 95E1-xxxxx. Theo Bản kết luận định giá tài sản số: 1758/KL-HĐĐG ngày 12 tháng 8 năm 2024 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự quận N kết luận: Xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave RSX, biển số 95E1-xxxxx, số khung CYxxxxxx, số máy E dung tích xilanh 109cm3, đã qua sử dụng giá trị còn lại là 8.000.000đ (tám triệu đồng). Hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ đồng thời làm mất an ninh trật tự tại địa phương và đủ yếu tố cấu thành tội Trộm cắp tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn, hối cải, người bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, thời điểm phạm tội bị cáo có 01 tiền án chưa được xóa án tích nên bị cáo bị áp dụng 01 tình tiết tăng nặng tái phạm theo quy định điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Việc truy tố của Viện kiểm sát nhân dân quận K đối với bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.
[3] Về trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng:
Xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave RSX, biển số 95E1-xxxxx, số khung CY, số máy E là vật chứng trong vụ án đã trả cho bị hại là phù hợp nên ghi nhận.
Điện thoại di động màu xanh, hiệu samsung số Imei 1: 35468xxx1554464, gắn sim 0964 982 861 có ốp lưng bằng nhựa màu đen không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo nên trả lại cho bị cáo.
[4] Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
1. Tuyên bố: Bị cáo Thân Nguyễn Ngọc K phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Xử phạt: Bị cáo Thân Nguyễn Ngọc K 02 (hai) năm tù. Thời hạn phạt tù tính từ ngày 19/12/2024.
2. Về trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng:
Trả cho bị cáo 01 điện thoại di động màu xanh, hiệu samsung Imeil: 35468xxxxx1554464, sim 0964 982 861 có ốp lưng bằng nhựa màu đen.
3. Về án phí: Áp dụng Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết tại địa phương để yêu cầu Tòa án nhân dân thành phố C giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án
hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Thị Ngọc B |
Bản án số 66/2025/HS-ST ngày 16/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN K, THÀNH PHỐ C về hình sự sơ thẩm (trộm cắp tài sản)
- Số bản án: 66/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Trộm cắp tài sản)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 16/04/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN K, THÀNH PHỐ C
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trộm cắp tài sản
