|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HƯNG YÊN Bản án số: 66/2025/HS-ST Ngày: 09-6-2025 |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HƯNG YÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Nguyễn Duy Phượng
Thẩm phán: Ông Trần Ngọc Lâm
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Trần Thị Lan Hương
Ông Hoàng Xuân Trường
Ông Lương Ngọc Vượng
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Hà Linh - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Hưng Yên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên tham gia phiên toà:
Ông Đào Đức Độ - Kiểm sát viên.
Ngày 09/6/2025. Tại trụ sở, Tòa án nhân dân tỉnh Hưng Yên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 56/2025/TLST-HS ngày 16 tháng 05 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 60/2025/QĐXXST-HS ngày 26/05/2025 đối với:
- Các bị cáo:
-
1.1 Trần Văn H, sinh năm 1991 tại huyện L, tỉnh Hà Nam; nơi thường trú: Thôn P, xã P, huyện L, tỉnh Hà Nam; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: Lớp 09/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; con ông Trần Văn C và bà Bùi Thị T; bị cáo chưa có vợ, con; Tiền sự: Không;
Nhân thân: Ngày 22/12/2014 bị Tòa án nhân dân quận Hà Đông, thành phố Hà Nội xử phạt 07 năm 06 tháng tù về tội “Cướp tài sản”, chấp hành xong ngày 28/4/2020; Ngày 27/3/2025 của Tòa án nhân dân quận Long Biên, thành phố Hà Nội xử phạt bị cáo 08 năm tù về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản.
Bị cáo bị tạm giam từ ngày 03/10/2024, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam - Công an tỉnh H; có mặt tại phiên tòa.
Người bào chữa cho bị cáo Trần Văn H: Luật sư Nguyễn Văn P, Công ty L2 - Đoàn Luật sư tỉnh H.
-
1.2 Nguyễn Đức K, sinh năm 2000 tại huyện T, tỉnh Hải Dương; nơi cư trú: Thôn A, xã T, huyện T, tỉnh Hải Dương; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: Lớp 12/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; con ông Nguyễn Đức X và bà Lê Thị T1; vợ: Vũ Thị Mỹ H1 (đã ly hôn); có 01 con, sinh năm 2021;
Tiền án: Ngày 08/01/2025 bị Tòa án nhân dân quận Long Biên, thành phố Hà Nội xử phạt 28 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”; tiền sự: Không;
Nhân thân: Ngày 27/3/2025 của Tòa án nhân dân quận Long Biên, thành phố Hà Nội xử phạt bị cáo 07 năm 06 tháng tù về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản, tổng hợp hình phạt với Bản án số 04/2025 ngày 08/01/2015, buộc bị cáo chấp hành hình phạt chung là 09 năm 10 tháng tù.
Bị cáo bị tạm giam từ ngày 28/8/2024, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam - Công an tỉnh H; có mặt tại phiên tòa.
Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Đức K: Luật sư Nguyễn Hùng P1, Văn phòng L3 - Đoàn Luật sư tỉnh H.
-
1.3 Đinh Văn H2, sinh năm 2002 tại huyện T, thành phố Hải Phòng; nơi thường trú: Thôn L, xã L, huyện T, thành phố Hải Phòng; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: Lớp 12/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; con ông Đinh Văn H3 và bà Nguyễn Thị D; bị cáo chưa có vợ, con;
Tiền án, tiền sự: Không;
Bị cáo bị tạm giam từ ngày 30/8/2024, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam - Công an tỉnh H; có mặt tại phiên tòa.
Người bào chữa cho bị cáo Đinh Văn H2: Luật sư Nguyễn Văn P, Công ty L2 - Đoàn Luật sư tỉnh H.
- Bị hại:
- Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Anh Nguyễn Thế H4, sinh năm 1991; HKTT: thôn S, xã P, huyện L, tỉnh Hòa Bình; chỗ ở: P chung cư R, phường P, quận L, thành phố Hà Nội; vắng mặt.
- Anh Nguyễn Văn N, sinh năm 1992; trú tại: xóm C, xã K, huyện Y, tỉnh Ninh Bình; vắng mặt.
- Anh Nguyễn Khắc C1, sinh năm 1993; trú tại: tổ G, thôn A, xã H, huyện H, tỉnh Bình Thuận; vắng mặt. Người đại diện theo ủy quyền: Anh Nguyễn Hải T2, sinh năm 1987, địa chỉ: Tổ A, khu phố A, phường P, thành phố P, tỉnh Bình Thuận; có mặt.
- Bà Nguyễn Thị D, sinh năm 1984; địa chỉ: Thôn L, xã L, huyện T, thành phố Hải Phòng (mẹ bị cáo H2); có mặt.
- Bà Lê Thị T1, sinh năm 1968; địa chỉ: Thôn A, xã T, huyện T, tỉnh Hải Dương (mẹ bị cáo K); có mặt.
- Những người làm chứng:
- Chị Tô Thị G, sinh năm 1986; trú tại: Tổ G, phường P, quận L, thành phố Hà Nội.
- Ông Nguyễn Danh N1, sinh năm 1965; trú tại: Tổ D, khu E, phường G, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh.
- Anh Nguyễn Hoàng N2, sinh năm 1994; trú tại: Tổ B, khu F, phường V, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh.
- Anh Trần Thanh H5, sinh năm 1978; trú tại: Tổ B, khu F, phường V, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh.
- Ông Đinh Dương H6, sinh năm 1974; trú tại: thôn N, xã Đ, huyện G, thành phố Hà Nội.
- Ông Sái Văn D1, sinh năm 1957; trú tại: thôn N, thị trấn N, huyện V, tỉnh Hưng Yên.
- Ông Đàm Văn N3, sinh năm 1953; trú tại: thôn H, xã L, huyện V, tỉnh Hưng Yên.
Anh Nguyễn Tất Đ, sinh năm 1994; trú tại: Tổ B, khu G, phường V, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh; có mặt.
(Tất cả đều vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Với động cơ kiếm tiền tiêu xài cá nhân, Trần Văn H và Nguyễn Đức K đã bàn bạc và thống nhất thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Các bị cáo sử dụng thủ đoạn giả danh làm dịch vụ nhận cầm cố xe ô tô, sau đó mang xe bán cho người khác để chiếm đoạt số tiền chênh lệch giữa giá bán và số tiền khách hàng muốn cầm cố. Khi khách hàng liên hệ, mang xe khác đến cầm cố để chuộc xe trước đó, các bị cáo tiếp tục chiếm đoạt xe ô tô mang đi bán, cung cấp thông tin liên lạc của người mua xe để khách tự giải quyết, rồi cắt đứt liên lạc bằng cách xóa tài khoản Zalo, F và chặn số điện thoại nhằm che giấu danh tính, tránh bị phát hiện. Sau đó, thông qua mạng xã hội Facebook, Nguyễn Đức K rủ Đinh Văn H2 tham gia với vai trò giúp sức, H2 đồng ý. Các hành vi phạm tội cụ thể như sau:
Hành vi thứ nhất: Ngày 05/8/2024, anh Nguyễn Tất Đ (sinh năm 1994, trú tại Tổ B, khu G, phường V, TP., Quảng Ninh) đăng bài trên Facebook “Steven Nguyễn” muốn cầm cố xe Toyota Veloz Cross (BKS 14A-858.60) lấy 80.000.000 đồng. Nguyễn Đức K dùng tài khoản “Nguyễn Văn N4” liên hệ, giới thiệu người nhận cầm cố xe không giấy tờ, cung cấp số điện thoại của Trần Văn H. Anh Đ liên lạc với H qua Z “Buôn gió” (số H), H tự xưng “Hùng”, hẹn gặp tại huyện G, Hà Nội. Đồng thời, K liên hệ anh Nguyễn Thế H4 (sinh năm 1991, trú tại Phòng 615, chung cư R, phường P, quận L, Hà Nội), nói có xe Toyota Veloz hết hạn cầm đồ muốn bán, anh H4 đồng ý mua.
Khoảng 11h30 ngày 06/8/2024, anh Đ lái xe đến quán nước trước số I đường L, tổ dân phố K, thị trấn T, huyện G. H và anh Đ thỏa thuận cầm cố xe giá 80.000.000 đồng, anh Đ viết giấy thuê xe giao cho K. H ở lại quán với anh Đ, K lái xe đến quán P2 (số C, phố N, phường P, quận L), bán xe cho anh H4 giá 140.000.000 đồng. Anh H4 nhờ chị Tô Thị G chuyển khoản 80.000.000 đồng vào tài khoản anh Đ (số A, V1) và 60.000.000 đồng vào tài khoản H (số A, V2). K giao xe cho anh H4, quay lại chia 60.000.000 đồng chênh lệch (Hoàng 35.000.000 đồng, K 25.000.000 đồng). Anh Đ về Quảng Ninh, H và K tiêu xài hết số tiền chiếm đoạt.
Hành vi thứ hai: Ngày 11/8/2024, anh Đ nhắn tin cho K qua Zalo, đề nghị cầm cố xe ô tô Ford Everest, biển kiểm soát 14A-400.24 (thuộc Công ty TNHH H8) lấy 120.000.000 đồng và chuộc lại xe Toyota Veloz Cross đã cầm cố trước đó. K hẹn anh Đ ngày 19/8/2024 mang xe đến thị trấn N, huyện V, tỉnh Hưng Yên. Trước đó, K rủ Đinh Văn H2 tham gia, phân công H2 ngồi cùng anh Đ để tạo niềm tin, hứa trả công từ 5.000.000 đến 7.000.000 đồng. Khoảng 10 giờ 30 phút ngày 19/8/2024, K và H đến quán nước ngã tư thị trấn N, gửi định vị cho anh Đ. H2 đến quán lúc 11 giờ, cùng K bàn bạc kế hoạch chiếm đoạt. Khoảng 12 giờ 30 phút, anh Đ lái xe Ford Everest đến, giao xe và giấy tờ (giấy chứng nhận đăng ký, kiểm định, bảo hiểm) cho K. H2 ở lại quán với anh Đ, còn K lái xe đến ngã tư C đón H, rồi đến quán P2 (H, ngõ D, phường S, quận L) gặp anh H4. H tự xưng “Nguyễn Đức H7”, dùng ảnh căn cước giả, bán xe cho anh H4 với giá 200.000.000 đồng. Anh H4 thanh toán 90.000.000 đồng tiền mặt, chuyển khoản 100.000.000 đồng vào tài khoản H (số A, V2) và 10.000.000 đồng vào tài khoản K (số C, S). Sau đó, K nhắn H2 xe đã cầm cố xong, H2 rời quán bỏ lại anh Đ, anh Đ đợi đến 15 giờ 30 phút nhưng không nhận được xe Toyota Veloz Cross và 40.000.000 đồng như thỏa thuận, gọi điện cho K và H nhưng bị chặn liên lạc. H và K chiếm đoạt 200.000.000 đồng tiền bán xe (Hoàng giữ 127.000.000 đồng, K giữ 73.000.000 đồng, H2 không được chia).
Quá trình anh Nguyễn Thế H4 bán lại xe sau khi mua:
Đối với xe Toyota Veloz Cross (BKS 14A-858.60): Ngày 06/8/2024, anh Nguyễn Thế H4 mua xe từ Nguyễn Đức K với giá 140.000.000 đồng. Sau khi mua, anh H4 bán cho anh Nguyễn Văn N thu 190.000.000 đồng. Anh N bán cho anh Nguyễn Khắc C1 thu 235.000.000 đồng. Xe đã bị thu hồi từ anh C1 và trả lại anh Nguyễn Tất Đ ngày 02/01/2025.
Đối với xe Ford Everest (BKS 14A-400.24): Ngày 19/8/2024, anh Nguyễn Thế H4 mua xe từ Trần Văn H và Nguyễn Đức K với giá 200.000.000 đồng. Sau khi mua, anh H4 bán cho anh Nguyễn Văn N thu 290.000.000 đồng. Xe bị thu hồi từ anh N và trả lại Công ty TNHH H8 ngày 22/10/2024.
Vật chứng thu giữ: Các xe ô tô Toyota Veloz Cross và xe ô tô Ford Everest đã thu hồi và trả lại cho chủ sở hữu; xe mô tô Honda AirBlade (BKS 34D1-302.54) và 06 điện thoại di động của các bị cáo và người liên quan, cùng giấy tờ giao dịch, hiện quản lý tại kho vật chứng Công an tỉnh H.
Kết luận định giá:
Xe Toyota Veloz Cross, biển kiểm soát 14A-858.60: 639.000.000 đồng (Kết luận số 47/KL-HĐĐG ngày 13/9/2024); Xe Ford Everest, biển kiểm soát 14A-400.24: 800.000.000 đồng (Kết luận số 42/KL-HĐĐG ngày 22/8/2024)
Kết luận giám định:
Bản kết luận số 36 ngày 23/01/2025 của Phòng K1 - Công an tỉnh H: 03 file video từ điện thoại anh H4 không có dấu hiệu chỉnh sửa, thể hiện việc H và K bán 2 xe ô tô cho anh H4.
Bản kết luận số 8970/KL-KTHS ngày 02/12/2024 của V3 - Bộ C2: Xác định dữ liệu từ 06 điện thoại thu giữ, gồm danh sách các tin nhắn, cuộc gọi, chi tiết được lưu trong USB kèm theo hồ sơ vụ án.
Tại Cơ quan điều tra, các bị cáo Trần Văn H, Nguyễn Đức K và Đinh Văn H2 thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội. Lời khai phù hợp với tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án. Tổng số tiền chiếm đoạt do bán xe là 260.000.000 đồng (Hoàng hưởng 162.000.000 đồng, K hưởng 98.000.000 đồng).
Bản cáo trạng số 65/CT-VKS-P2 ngày 16/5/2025 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên đã truy tố các bị cáo về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điểm a khoản 4 Điều 174 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa:
Các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội; bị cáo K và H2 có nhờ gia đình bồi thường một phần thiệt hại cho bị hại để khắc phục hậu quả.
Bị hại - anh Nguyễn Tất Đ: Đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo H2; đề nghị xử lý theo quy định đối với các bị cáo H và K; yêu cầu các bị cáo bồi thường thiệt hại đối với một số các thiết bị trong ô tô bị tháo mất như màn hình, thiết bị định vị, quá trình nhận lại xe do sơ xuất nên bị hại không kịp thời phát hiện ra; chấp nhận mức bồi thường mà gia đình bị cáo đã nộp thay; đồng ý sử dụng số tiền 80.000.000 đã nộp để trả lại anh Nguyễn Thế H4.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Anh Nguyễn Hải T2 (người đại diện của anh Nguyễn Khắc C1): Đề nghị Tòa án buộc anh Nguyễn Văn N phải hoàn lại tiền bán xe là 235.000.000 đồng và 5.000.000 đồng tiền công vận chuyển chiếc xe Veloz.
- Bà Nguyễn Thị D (mẹ bị cáo H2): Tự nguyện nộp 3.200.000 đồng thay cho bị cáo để bồi thường thiệt hại và án phí.
- Bà Lê Thị T1 (mẹ bị cáo K): Tự nguyện nộp 3.200.000 đồng thay cho bị cáo để bồi thường thiệt hại và án phí.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng điểm a khoản 4 Điều 174; điểm g khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 17; Điều 56; Điều 58 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt Trần Văn H từ 13 năm 06 tháng đến 14 năm 06 tháng tù; tổng hợp hình phạt với Bản án 67 ngày 27/3/2025 của Tòa án nhân dân quận Long Biên, thành phố Hà Nội.
Áp dụng điểm a khoản 4 Điều 174; điểm g khoản 1 Điều 52; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 17; Điều 56; Điều 58 Bộ luật Hình sự. Phạt Nguyễn Đức K từ 13 năm 06 tháng đến 14 năm 06 tháng tù; tổng hợp hình phạt với Bản án 67 ngày 27/3/2025 của Tòa án nhân dân quận Long Biên, thành phố Hà Nội.
Áp dụng điểm a khoản 4 Điều 174; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 2 Điều 54; Điều 38; Điều 17; Điều 58 Bộ luật Hình sự. Phạt Đinh Văn H2 từ 05 năm đến 06 năm tù.
Ngoài ra, đại diện Viện kiểm sát còn đề nghị về các biện pháp tư pháp và án phí theo quy định pháp luật.
Luật sư bào chữa cho các bị cáo phân tích hành vi, nguyên nhân, điều kiện phạm tội, hoàn cảnh gia đình, đề nghị mức án thấp nhất để các bị cáo sớm tái hòa nhập cộng đồng.
Các bị cáo không tranh luận với đại diện Viện kiểm sát, đều đề nghị hưởng mức án thấp nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng:
Cơ quan Điều tra - Công an tỉnh H và Điều tra viên; Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo Trần Văn H, Nguyễn Đức K, Đinh Văn H2 cùng những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi và quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng từ giai đoạn điều tra cho đến phiên tòa sơ thẩm là hợp pháp.
[2]. Về hành vi phạm tội của các bị cáo:
Tại phiên tòa, các bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội. Lời khai của Trần Văn H, Nguyễn Đức K và Đinh Văn H2 phù hợp với nhau, với lời khai tại Cơ quan điều tra và các tài liệu, chứng cứ khác trong hồ sơ vụ án.
Đã đủ căn cứ kết luận: Ngày 06/8/2024, tại tổ dân phố K (thị trấn T, huyện G, Hà Nội), anh Nguyễn Tất Đ giao xe ô tô Toyota Veloz Cross (biển số 14A-858.60) cho Trần Văn H và Nguyễn Đức K để cầm cố, vay 80 triệu đồng. Tuy nhiên, sau đó K đã bán chiếc xe này cho anh Nguyễn Thế H4 với giá 140 triệu đồng, chiếm đoạt 60 triệu đồng chênh lệch (Hoàng hưởng 35 triệu, K hưởng 25 triệu), còn anh Đ chỉ nhận được đúng 80 triệu theo thỏa thuận ban đầu.
Đến ngày 19/8/2024, tại thị trấn N (huyện V, tỉnh Hưng Yên), anh Đ tiếp tục giao xe ô tô Ford Everest (biển số 14A-400.24) cho K để cầm cố vay 120 triệu đồng, đồng thời lấy lại chiếc xe Veloz trước đó. K và H rủ thêm Đinh Văn H2 cùng tham gia, giao cho H2 nhiệm vụ ở lại trấn an anh Đ nhằm tạo lòng tin. Trong khi đó, K và H lại đem chiếc xe Ford Everest đi bán cho anh H4 với giá 200 triệu đồng và chiếm đoạt toàn bộ số tiền (H hưởng 127 triệu, K hưởng 73 triệu, H2 không hưởng lợi).
Sau khi bán xe, các bị cáo đã cắt liên lạc và không trả lại xe V và số tiền theo thỏa thuận cho anh Đ.
Các bị cáo Trần Văn H, Nguyễn Đức K và Đinh Văn H2 đều có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện vì mục đích vụ lợi. Tổng giá trị tài sản chiếm đoạt là 1.439.000.000 đồng, vì vậy Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên truy tố các bị cáo về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điểm a khoản 4 Điều 174 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.
[3]. Về tính chất, mức độ của hành vi phạm tội:
Hành vi phạm tội của các bị cáo là đặc biệt nghiêm trọng, gây thiệt hại rất lớn về tài sản cho bị hại, gồm: xe Toyota Veloz Cross trị giá 639.000.000 đồng và xe F1 Everest trị giá 800.000.000 đồng. Hành vi này xâm phạm nghiêm trọng quyền sở hữu tài sản của người khác, làm mất lòng tin trong các giao dịch dân sự, đặc biệt là trong hoạt động mua bán và cầm cố tài sản có giá trị lớn. Do đó, cần áp dụng hình phạt nghiêm khắc, phù hợp với tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhằm đảm bảo tính răn đe và phòng ngừa chung.
[4]. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và nhân thân của các bị cáo:
Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo Trần Văn H, Nguyễn Đức K và Đinh Văn H2 đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội, được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Mặc dù không được hưởng lợi nhưng bị cáo H2 đã tác động gia đình nộp 3.200.000 đồng vào cơ quan Thi hành án dân sự để khắc phục hậu quả và nộp án phí; ông nội bị cáo được tặng thưởng Huy chương; bị hại xin giảm nhẹ hình phạt vì vậy bị cáo được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tại điểm b khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Gia đình bị cáo K nộp 3.200.000 đồng để khắc phục hậu quả và án phí, tuy nhiên số tiền này là rất nhỏ so với khoản tiền bị cáo hưởng lợi, do đó bị cáo chỉ được áp dụng tình tiết giảm nhẹ tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Về tình tiết tăng nặng:
Bị cáo Trần Văn H và Nguyễn Đức K chịu tình tiết tăng nặng: phạm tội 02 lần trở lên theo điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.
Bị cáo Đinh Văn H2 không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về đặc điểm nhân thân:
Bị cáo Trần Văn H và Nguyễn Đức K đều có nhân thân xấu, từng bị xét xử về các tội xâm phạm sở hữu.
Bị cáo Đinh Văn H2 có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự.
[5]. Về hình phạt:
- Về hình phạt chính:
Bị cáo Nguyễn Đức K là người tìm kiếm thông tin ban đầu của chủ xe, để H tiến hành thỏa thuận cầm cố xe; là người điều khiển xe sau khi chiếm đoạt để mang đi bán; bị cáo Trần Văn H là người trao đổi với bị hại, đưa ra thông tin gian dối để chiếm đoạt xe ô tô. Các bị cáo đều là người thực hành tích cực, phạm tội nhiều lần nên giữ vai trò ngang nhau trong vụ án.
Các bị cáo Trần Văn H và Nguyễn Đức K còn phải chấp hành hình phạt tại Bản án số 67/2025/HS-ST ngày 27/3/2025 của Tòa án nhân dân quận Long Biên, thành phố Hà Nội, được tổng hợp trong bản án này để buộc các bị cáo phải chấp hành hình phạt chung.
Bị cáo Đinh Văn H2 tham gia với vai trò giúp sức, lần đầu phạm tội, chính bị cáo cũng chưa biết rõ tên thật của H và K khi thực hiện hành vi phạm tội, sau khi bán xe lấy được tiền, các bị cáo H, K cũng không chia tiền cho H2, đồng thời cắt liên lạc. Tại lần lừa đảo thứ nhất, mặc dù không có sự tham gia của H2, các bị cáo H và K vẫn chiếm đoạt được xe ô tô của anh Đ, do đó có thể xác định vai trò của H2 trong lần lừa đảo thứ 2 là không đáng kể. Hội đồng xét xử quyết định áp dụng Điều 54 để cho bị cáo được hưởng mức án dưới khung hình phạt quy định tại khoản 4 Điều 174 của Bộ luật Hình sự nhưng vẫn đảm bảo tính răn đe.
- Về hình phạt bổ sung:
Các bị cáo phạm tội vì động cơ vụ lợi, cần phải phạt bổ sung là phạt tiền, tuy nhiên các bị cáo đều không có tài sản và thu nhập ổn định nên không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung.
[6]. Về vật chứng và biện pháp tư pháp:
Xe ô tô Toyota Veloz Cross, biển kiểm soát 14A-858.60 đã trả lại anh Nguyễn Tất Đ ngày 02/01/2025; xe ô tô Ford Everest, biển kiểm soát 14A-400.24 đã trả lại Công ty TNHH H8 ngày 22/10/2024 nên không xem xét.
Xe mô tô Honda AirBlade, biển kiểm soát 34D1-302.54 (thu giữ từ Nguyễn Đức K) đây là tài sản hình thành từ nguồn tiền phạm tội mà có, vì vậy cần thu giữ, xử lý tài sản để đảm bảo thi hành án.
06 điện thoại di động (của các cá nhân H, K, H2, H4, N, Đ) trong đó có 03 điện thoại của H, K, H2 là công cụ liên lạc thực hiện hành vi phạm tội, nên cần tịch thu, sung vào ngân sách Nhà nước; đối với số còn lại sẽ trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp.
Số tiền 80.000.000 đồng anh Đ nộp ngày 22/10/2024 là tiền nhận được do cầm cố xe, sẽ được trả lại anh H4.
Số tiền 340.000.000 đồng các bị cáo nhận từ anh H4, cần buộc các bị cáo H (162.000.000 đồng) và K (98.000.000 đồng) trả lại cho anh H4.
Các giao dịch mua bán xe từ anh H4 với anh Nguyễn Văn N; từ anh N với anh Nguyễn Khắc C1 là các giao dịch dân sự vô hiệu, vì vậy cần buộc các bên phải trả lại tiền cho nhau tương ứng với khoản tiền đã nhận. Yêu cầu bồi hoàn thêm 5.000.000 đồng tiền vận chuyển xe Veloz của anh C1 không được chấp nhận, bởi số tiền đó không nằm trong phạm vi thỏa thuận mua bán xe ban đầu.
Tại phiên tòa, bị hại xác định đã nhận lại các xe ô tô bị chiếm đoạt, tuy nhiên do không kiểm tra kỹ nên khi về nhà mới phát hiện xe đã bị tháo một số thiết bị, nay yêu cầu các bị cáo phải bồi thường đối với các thiệt bị đó. Bị hại và bị cáo H2, K thỏa thuận dùng số tiền 6.000.000 đồng đã nộp để khắc phục hậu quả, vì vậy cần chấp nhận sự tự nguyện của các bên.
[7]. Về án phí:
Các bị cáo Trần Văn H, Nguyễn Đức K, Đinh Văn H2 phải chịu án phí hình sự sơ thẩm, riêng bị cáo H và K phải chịu thêm án phí dân sự sơ thẩm; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có nghĩa vụ trả tiền phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và khoản 6 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Tội danh và hình phạt:
- Về vật chứng và biện pháp tư pháp:
- Về trách nhiệm dân sự:
- Về án phí:
- Về quyền kháng cáo:
Tuyên bố: Bị cáo Trần Văn H, Nguyễn Đức K, Đinh Văn H2 phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
- Áp dụng điểm a khoản 4 Điều 174; điểm g khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 17; Điều 58; Điều 56 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Trần Văn H 14 (mười bốn) năm tù. Tổng hợp hình phạt 08 năm tù tại Bản án số 67/2025/HS-ST ngày 27/3/2025 của Tòa án nhân dân quận Long Biên, thành phố Hà Nội, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung là 22 (hai mươi hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 03/10/2024.
- Áp dụng điểm a khoản 4 Điều 174; điểm g khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 56; Điều 17; Điều 58 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Đức K 14 (mười bốn) năm tù. Tổng hợp hình phạt 09 năm 10 tháng tù tại Bản án số 67/2025/HS-ST ngày 27/3/2025 của Tòa án nhân dân quận Long Biên, thành phố Hà Nội, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung là 23 (hai mươi ba) năm 10 (mười) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 28/8/2024.
- Áp dụng điểm a khoản 4 Điều 174; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 2 Điều 54; Điều 38; Điều 17; Điều 58 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Đinh Văn H2 04 (bốn) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 30/8/2024.
Căn cứ Điều 46; Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Tịch thu, sung vào ngân sách Nhà nước: 01 điện thoại nhãn hiệu Poco X3 màu xanh, số IMEI1: 862432052602788, số IMEI2: 862432052602796, bên trong điện thoại có lắp 01 sim nhãn hiệu Vietnamobile, được niêm phong trong phong bì và hình dấu của V3 - Bộ C2 cùng các chữ ký mang tên Tạ Anh D2, Vũ Công L, Vũ Mạnh L1, đánh ký hiệu “A1” thu giữ của bị cáo Trần Văn H; 01 điện thoại nhãn hiệu iPhone 12 Pro Max màu trắng, số IMEI1: 358598934826877, số IMEI2: 358598934848152, bên trong điện thoại có lắp 01 sim số điện thoại 0879.272.xxx, được niêm phong trong phong bì và hình dấu của V3 - Bộ C2 cùng các chữ ký mang tên Tạ Anh D2, Vũ Công L, Vũ Mạnh L1, đánh ký hiệu “A2” thu giữ của bị cáo Nguyễn Đức K; 01 điện thoại nhãn hiệu OPPO A83 màu vàng đồng số IMEI1: 867572043250810, số IMEI2: 867572043250802 bên trong điện thoại có lắp 01 sim số điện thoại 0946.994.xxx, được niêm phong trong phong bì và hình dấu của V3 - Bộ C2 cùng các chữ ký mang tên Tạ Anh D2, Vũ Công L, Vũ Mạnh L1, đánh ký hiệu “A3” thu giữ của bị cáo Đinh Văn H2.
- Trả lại anh Nguyễn Thế H4 01 điện thoại nhãn hiệu POCO C40 màu xanh số IMEI1: 862598055168645, số IMEI2: 862598055168652, bên trong điện thoại có lắp 01 sim số điện thoại 0984.804.xxx, được niêm phong trong phong bì và hình dấu của V3 - Bộ C2 cùng các chữ ký mang tên Tạ Anh D2, Vũ Công L, Vũ Mạnh L1, đánh ký hiệu “A4”.
- Trả lại anh Nguyễn Văn N 01 điện thoại nhãn hiệu iPhone 11 Pro Max màu vàng, IMEI1: 353890108634327, số IMEI2: 353890108489573, bên trong điện thoại có lắp 01 sim số điện thoại 0942.112.xxx, được niêm phong trong phong bì và hình dấu của V3 - Bộ C2 cùng các chữ ký mang tên Tạ Anh D2, Vũ Công L, Vũ Mạnh L1, đánh ký hiệu “A5”.
- Trả lại anh Nguyễn Tất Đ 01 điện thoại nhãn hiệu Samsung Galaxy A51, số IMEI1: 354595381981035, số IMEI2: 355078741981036, bên trong điện thoại có lắp 02 sim số điện thoại 0814.629.xxx và 0833948686, được niêm phong trong phong bì và hình dấu của V3 - Bộ C2 cùng các chữ ký mang tên Tạ Anh D2, Vũ Công L, Vũ Mạnh L1, đánh ký hiệu “A6”.
- Cơ quan Thi hành án dân sự được xử lý tài sản là 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda AirBlade, màu đen đỏ, biển kiểm soát 34D1-302.54, số khung: RLHJF6302FZ645299, số máy: JF63E1179796 cùng chìa khóa của xe, xa máy không có gương chiếu hậu ở hai bên, bên trái phần tay lái bị tuột phần nhựa để đảm bảo việc thi hành án dân sự đối với Nguyễn Đức K.
(Số lượng, chủng loại, đặc điểm, tình trạng các vật chứng nêu trên được mô tả theo Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 27/02/2025 giữa Cục Thi hành án dân sự tỉnh Hưng Yên và Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh H).
Buộc bị cáo Trần Văn H trả lại anh Nguyễn Thế H4 số tiền: 162.000.000 đồng (Một trăm sáu mươi hai triệu đồng).
Buộc bị cáo Nguyễn Đức K trả lại anh Nguyễn Thế H4 số tiền: 98.000.000 đồng (Chín mươi tám triệu đồng).
Buộc anh Nguyễn Tất Đ trả lại anh Nguyễn Thế H4 số tiền: 80.000.000 đồng (Tám mươi triệu đồng).
Buộc anh Nguyễn Thế H4 trả lại anh Nguyễn Văn N số tiền: 480.000.000 đồng (Bốn trăm tám mươi triệu đồng).
Buộc anh Nguyễn Văn N trả lại anh Nguyễn Khắc C1 số tiền: 235.000.000 đồng (Hai trăm ba mươi lăm triệu đồng).
Trả lại anh Nguyễn Tất Đ số tiền 6.000.000 đồng do gia đình bị cáo Đinh Văn H2 và Nguyễn Đức K đã nộp tại biên lai ngày 09/6/2025 tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Hưng Yên.
Bị cáo Trần Văn H, Nguyễn Đức K, Đinh Văn H2, mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo Trần Văn H phải chịu 8.100.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Bị cáo Nguyễn Đức K phải chịu 4.900.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Anh Nguyễn Thế H4 phải chịu 23.200.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Anh Nguyễn Nguyễn Văn N phải chịu 11.750.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Bị cáo, bị hại và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày. Người có mặt được tính từ ngày tuyên án, người vắng mặt được tính từ ngày nhận bản án hoặc bản án được niêm yết.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Duy Phượng |
Bản án số 66/2025/HS-ST ngày 09/06/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HƯNG YÊN về lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Số bản án: 66/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 09/06/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HƯNG YÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Đồng phạm
