|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NAM TỪ LIÊM THÀNH PHỐ HÀ NỘI Bản án số:66/2025/HS-ST Ngày: 09/4/2025 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NAM TỪ LIÊM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
-
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Thúy Quỳnh
Các Hội thẩm nhân dân:Ông Trần Quốc Khánh, ông Nguyễn Việt Chiến
Thư ký phiên tòa: Ông Trần Hưng - Thư ký Tòa án nhân dân quận Nam Từ Liêm thành phố Hà Nội.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: ông Đỗ Trần Nam - Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 4 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 60/2025/TLST-HS ngày 20 tháng 3 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số:62/2025/QĐXXST-HS ngày 28 tháng 3 năm 2025 đối với bị cáo:
Đỗ Đăng H, sinh ngày 02 tháng 11 năm 2006 tại Bắc Ninh; nơi đăng ký thường trú: thôn T, xã M, thị xã T, tỉnh Bắc Ninh; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: 12/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; con ông Đỗ Đăng Đ và con bà Nguyễn Thị Ú, vợ, con: chưa có; tiền án, tiền sự: Không.
Bị giữ người trong trường hợp khẩn cấp, tạm giữ, tạm giam từ ngày 21/12/2024, hiện đang bị tạm giam tại trại tạm giam số 1, Công an thành phố H. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Bị hại: Chị Lương Ngọc L, sinh năm 2003; Đăng ký HKTT: TDP số 6, thị trấn B, huyện B, tỉnh Cao Bằng. Vắng mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 21 giờ ngày 20/12/2024, Đỗ Đăng H trên đường đi bộ về phòng trọ tại số A ngõ C đường M, phường M,quận N, thành phố Hà Nội thì nhặt được một đoạn dây thép buộc sắt (dạng thép ly loại 0,5mm, dài khoảng 20cm) nên đã nghịch uốn một đầu thành hình bông hoa (dạng vòng tròn xoắn ốc) còn thừa ra một đoạn dài khoản 7cm. Khi H đi đến trước nhà số I ngõ C đường M, thì thấy chị Lương Ngọc L đang ngồi trên xe máy nhãn hiệu Honda Vision màu xanh (không gắn BKS) và đang sử dụng điện thoại Iphone 11 màu đen nên H đã nảy sinh ý định cướp tài sản của chị L để có tiền trả nợ và chi tiêu cá nhân. Sau khi quan sát thấy xung quanh không có người qua lại, H đeo khẩu trang để tránh chị L thấy mặt rồi giả vờ đi qua sau đó quay lại hỏi chị L “Chị ơi, ở đây có phòng trọ cho thuê không?” thì chị L nói “Chị không phải người ở đây nên không biết”. Sau đó, H đi vòng ra sau và ngồi lên phía sau xe của chị L khiến chị L giật mình hét lên thì H dùng tay trái bịt mồm chị L lại, tay phải cầm dây thép đã uốn thành hình bông hoa nhặt được trước đó dí phần đầu tròn hình bông hoa vào cổ chị L và nói “Đưa tiền đây, vào ngân hàng” mục đích yêu cầu chị L truy cập vào ứng dụng tài khoản ngân hàng để chuyển tiền vào tài khoản của H rồi chiếm đoạt. Do sợ hãi nên chị L đã thao tác vào ứng dụng ngân hàng cài đặt trên điện thoại rồi cố tình nhập mật khẩu sai để không đăng nhập được và nói không nhớ mật khẩu. Thấy chị L nhập mật khẩu sai nhiều lần nên H tiếp tục đe doạ “nhập sai lần nữa thì chết ở đây” thì chị L bấm tắt màn hình điện thoại. Thấy vậy, H yêu cầu chị L bật điện thoại lên và nhập mật khẩu mở máy. Sau khi thấy chị L nhập mật khẩu “160903” mở được điện thoại thì H cất đoạn thép đã uốn thành hình bông hoa vào túi áo rồi dùng tay phải giật chiếc điện thoại chị L đang cầm trên tay rồi bỏ chạy vào ngõ C đường M. Chị L đuổi theo H và hô hoán nhưng không kịp nên đã đến Công an phường M trình báo sự việc. H đi về nhà trọ, trên đường đi H vứt đoạn dây thép đã uốn thành hình bông hoa và sim trên chiếc điện thoại vừa chiếm đoạt được của chị L vào ven đường (H không xác định được vị trí vứt nên Cơ quan điều tra không thu giữ được). Về phòng trọ, H nhập mật khẩu “160903” để mở máy điện thoại của chị L rồi đăng xuất tài khoản I nhưng không được nên H đã đổi mật khẩu thành 000000 rồi xoá hết ảnh, ứng dụng mạng xã hội. Sau đó, H mang chiếc điện thoại chiếm đoạt được của chị L đến cửa hàng mua bán điện thoại cũ tại số A đường M để bán cho anh Phạm Văn H1 (SN: 1993; HKTT: N, N, Nam Định) với giá 2.000.000 đồng nhưng sau khi kiểm tra điện thoại, anh H1 chỉ trả giá 800.000 đồng nên H không đồng ý bán và bỏ đi tìm cửa hàng khác để bán giá hơn. Sau khi bị cướp tài sản, chị L kiểm tra định vị phát hiện vị trí điện thoại đang ở khu vực đường M nên đến cơ quan Công an trình báo. Công an phường M sau đó đã tiến hành rà soát đối tượng và tang vật tại đường M thì phát hiện H đang đi bộ ở đầu ngõ C đường M nên đã tiến hành kiểm tra phát hiện và bắt giữ cùng vật chứng.
Tại Cơ quan điều tra, Đỗ Đăng H khai nhận hành vi phạm tội của mình như trên và khai H sử dụng đoạn dây thép ly uốn hình bông hoa dí phần được uốn hình bông hoa vào cổ chị L một cách vô thức để đe dọa và không có mục đích gây thương tích cho chị L.
*Vật chứng thu giữ:
01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 màu đen (đã qua sử dụng) 64 GB, IMEI 1: 35642822258439, IMEI 2: 356428222425830; 01 điện thoại Iphone X màu đen (đã qua sử dụng) gắn 01 sim; 01 áo khoác màu đen có khoá kéo, cổ tay chun và 01 đôi dép quai ngang màu đen - trắng (thu giữ của Đỗ Đăng H).
Tại Kết luận định giá tài sản số 300/KLĐGTS ngày 30/12/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự quận N, kết luận: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 màu đen (đã qua sử dụng) 64 GB, IMEI 1: 35642822258439, IMEI 2: 356428222425830 trị giá 4.000.000 đồng; 01 sim điện thoại (không thu giữ được) trị giá: 25.000 đồng. Tổng giá trị tài sản là 4.025.000 đồng.
Quá trình điều tra, chị L khai không nhìn thấy H cầm vật gì để kề vào cổ do H ngồi phía sau, chị L chỉ cảm nhận thấy đó là một vật nhỏ dạng dây, ở đầu dây phình to hơn và phần đầu to này được dí vào cổ chị L, vật này không có cạnh sắc và chất liệu là kim loại vì chị L thấy cảm giác “mát lạnh” nên chị L biết không phải là dao và chị L không bị thương tích gì.
Ngày 25/12/2024, Cơ quan điều tra đã ra Quyết định xử lý vật chứng và tiến hành trao trả chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 màu đen đã thu giữ cho chị L. Chị L đã nhận lại tài sản, không có yêu cầu về dân sự.
Tại cơ quan điều tra, Đỗ Đăng H đã khai nhận hành vi phạm tội như đã nêu trên.
Tại bản Cáo trạng số 53/CT-VKSNTL, ngày 13/3/2025, Viện kiểm sát nhân dân quận Nam Từ Liêm đã truy tố Đỗ Đăng H về tội “Cướp tài sản” theo khoản 1 Điều 168 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa: Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo theo nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 168; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38; Điều 48 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự xử phạt bị cáo Đỗ Đăng H từ 42 tháng đến 48 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 21/12/2024. Về dân sự: không. Về hình phạt bổ sung: không. Về vật chứng: trả lại bị cáo Đỗ Đăng H 01 áo khoác màu đen có khóa kéo, cổ tay chun, 01 đôi dép quai ngang màu đen – trắng, 01 điện thoại Iphone X màu đen. Bị cáo phải chịu án phí và có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội và xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
- [1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Cơ quan điều tra Công an quận N, thành phố Hà Nội; Kiểm sát viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội: Trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
- [2] Về tội danh: Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa, phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại, vật chứng được thu giữ, cùng các chứng cứ khác đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử đủ cơ sở kết luận:
Khoảng 21 giờ 30 phút ngày 20/12/2024, tại khu vực trước cửa nhà số I ngõ C đường M, phường M, N, Hà Nội, Đỗ Đăng H đã có hành vi ngồi phía sau chị Lương Ngọc L trên xe máy của chị L, dùng tay trái bịt mồm chị L, tay phải dùng 01 đoạn dây thép ly (loại 0,5mm dài khoảng 20cm) được uốn thành hình bông hoa để khống chế, đe doạ và chiếm đoạt chiếc điện thoại Iphone 11 màu đen gắn sim số 0869886821 trị giá 4.025.000 đồng của chị Lương Thị Ngọc L.
Hành vi của bị cáo Đỗ Đăng H đã phạm tội “Cướp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 168 Bộ luật hình sự. Vì vậy Viện kiểm sát nhân dân quận Nam Từ Liêm truy tố bị cáo về tội danh trên là có căn cứ và đúng pháp luật.
- [3]. Xét tính chất hành vi phạm tội, Hội đồng xét xử xét thấy: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác. Bị cáo là người trưởng thành nhưng không chịu khó tu dưỡng, lao động để trở thành công dân có ích cho xã hội mà cố ý cướp tài sản của người khác để thỏa mãn nhu cầu chi tiêu cá nhân. Hành vi của bị cáo gây mất trật tự trị an xã hội, gây hoang mang lo sợ, gây bất bình trong quần chúng nhân dân. Vì vậy cần áp dụng một mức hình phạt tù nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới có khả năng cải tạo giáo dục bị cáo, răn đe và phòng ngừa chung.
- [4]. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo và ăn năn hối cải, ông nội của bị cáo là người có công với cách mạng nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
- [5]. Về trách nhiệm dân sự: chị Lương Ngọc L không có yêu cầu bị cáo bồi thường về dân sự nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- [6]. Về hình phạt bổ sung: xét thấy bị cáo không có công việc và thu nhập nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
- [7]. Về vật chứng: Đối với 01 áo khoác đen có khóa kéo, cổ tay chun và 01 đôi dép quai ngang màu đen – trắng, 01 điện thoại Iphone X màu đen có gắn sim thu giữ của bị cáo không liên quan đến việc phạm tội nên trả lại cho bị cáo.
- [8] Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo phải chịu án phí; bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
- Căn cứ: khoản 1 Điều 168; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 47, Điều 48 Bộ luật hình sự; Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án.
- Tuyên bố: Bị cáo Đỗ Đăng H phạm tội “Cướp tài sản”.
- Xử phạt: Bị cáo Đỗ Đăng H 48 (bốn mươi tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 21/12/2024.
- Về vật chứng: Trả lại Đỗ Đăng H 01 áo khoác màu đen, áo loại khóa kéo, cổ tay chun, 01 đôi dép quai ngang màu đen, trắng và 01 điện thoại di động kiểu dáng Iphone X màu đen, số I: 353049099247496 có gắn thẻ sim.
(Vật chứng hiện đang lưu giữ tại Chi cục Thi hành án Dân sự quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội theo “Biên bản giao, nhận vật chứng” số 146 ngày 28 tháng 3 năm 2025) .
- Về án phí và quyền kháng cáo:
- Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án, hoặc bản án được niêm yết công khai theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Thúy Quỳnh |
Bản án số 66/2025/HS-ST ngày 09/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NAM TỪ LIÊM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về cướp tài sản
- Số bản án: 66/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Cướp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 09/04/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NAM TỪ LIÊM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Đỗ Đăng H phạm tội “Cướp tài sản”.Xử phạt: Bị cáo Đỗ Đăng H 48 (bốn mươi tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 21/12/2024.
