|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 8 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 66 /2025/HS-ST Ngày 03 - 4 - 2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 8, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phúc
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Đỗ Quang Hòa
- Bà Đặng Thu Vân
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Ngọc Diểm – Thư ký Tòa án.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Đạt - Kiểm sát viên.
Ngày 03 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 342/2024/TLST-HS ngày 25 tháng 10 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 125/2025/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 03 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 19.1/2025/QĐST-HS ngày 28 tháng 03 năm 2025, đối với bị cáo:
Lý Ngọc T; sinh năm 1977tại Thành phố H cư trú (nơi đăng ký thường trú: A T, Phường A, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh; chỗ ở: C3/30/AS/25 ấp D, Xã B, Huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh); nghề nghiệp: giúp việc; trình độ học vấn: 6/12; dân tộc: Hoa; giới tính: Nữtôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lý Tế Đ và bà Lê Thị C; có chồng và có 02 con, sinh năm 1997 và 1999; tiền án, tiền sự: Không;
Bị cáo tại ngoại. (có mặt)
Bị hại: Bà Châu Trần L, sinh năm 1949; nơi cư trú (nơi đăng ký thường trú: I T, Phường E, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh; chỗ ở: D B, Phường F, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh). (có mặt)
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
Chị Nguyễn Thị Hoàng D, sinh năm 1988; nơi cư trú (nơi đăng ký thường trú: I T, Phường E, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh; chỗ ở: 34/UT12 ấp A, xã B, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh). (có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Lý Ngọc T là người giúp việc theo giờ cho gia đình bà Châu Trần L (sinh năm 1949) tại nhà số D B, Phường F, Quận H, T bắt đầu làm việc từ tháng 4/2023, giờ làm việc từ 08 giờ sáng đến 12 giờ trưa hàng ngày. Trong quá trình làm việc, T để ý thấy bà L cất giấu tài sản tại tủ đựng quần áo bằng gỗ, sơn màu trắng đặt tại phòng chứa đồ trên lầu một và chìa khóa tủ này được bà L để tại tủ nhựa đựng quần áo đặt tại trước phòng ngủ của bà L nên T nảy sinh ý định trộm cắp tài sản bán lấy tiền tiêu xài. Từ khoảng tháng 7/2023 đến ngày 02/12/2023, T đã thực hiện 05 lần trộm cắp tài sản tại nhà số D B, Phường F Quận H. Cụ thể từng lần như sau:
- Lần thứ nhất: Khoảng tháng 7/2023 (không rõ ngày giờ cụ thể) gia đình bà L đi vắng chỉ có mình T lau dọn tại lầu một nên T lục trong tủ nhựa đựng quần áo đặt trước cửa phòng ngủ của bà L lấy chìa khóa đi đến mở cửa tủ quần áo bằng gỗ, sơn màu trắng đặt tại phòng chứa đồ gần đó. Tại ngăn tủ bên trải có một hộc tủ nhỏ phía dưới, T dùng chìa khóa mở ra thì thấy một hộp nhựa tròn, màu đỏ, to bằng khoảng nắm tay nên T lấy đi và cầm lên sân thượng mở ra xem thì thấy có 01 sợi dây chuyền có gắn mặt bằng vàng 18K; 01 lắc tay bằng vàng 18K và 02 nhẫn bằng vàng 9999. T lấy vàng bỏ vào trong túi quần còn hộp đựng thì T bỏ vào thùng rác. Sau đó, T đem đến tiệm V, địa chỉ C C Các, Phường E Quận E bán 01 lắc tay bằng vàng 18K được 18.000.000 đồng và tiệm V1, địa chỉ C1/14R1 P, Xã B bán 01 sợi dây chuyền có gắn mặt bằng vàng 18K cùng 02 nhẫn bằng vàng 9999 được số tiền 20.000.000 đồng.
- Lần thứ hai: Khoảng tháng 10/2023 (không rõ ngày giờ cụ thể) khi chỉ có mình T lau dọn tại lầu một, T thấy tủ quần áo bằng gỗ trên có cắm sẵn sẵn chia khóa nên T đi lại mở hộc tủ nhỏ phía dưới lục tìm trong hộc thấy 01 nhẫn bằng vàng 9999 nên T bỏ vào túi quần. Sau đó, đem đến tiệm V2, địa chỉ C P, Xã B B bán được số tiền 27.000.000 đồng.
- Lần thứ ba: Khoảng tháng 11/2023 (không rõ ngày giờ cụ thể) khi chỉ có minh T lau dọn tại lầu một, T thấy tủ quần áo bằng gỗ trên có cắm sẵn chia khóa nên T đi lại mở hộc tủ nhỏ phía dưới lục tìm được 01 bóp da màu đen, mở ra thấy 02 nhẫn bằng vàng 9999 nên T lấy bỏ vào túi quần rồi đem đến tiệm V2 bán được số tiền 22.000.000 đồng.
- Lần thứ tư: Khoảng 9 giờ 00 ngày 30/11/2023, T dọn dẹp phòng ngủ bà L thì phát hiện bên trong gối ngủ màu vàng có 01 bao lì xì màu đỏ, T mở ra kiểm tra thấy có nhiều tờ tiền mệnh giá 500.000 đồng nên T đã lấy trộm 06 tờ tiền, tổng cộng 3.000.000 đồng bỏ vào túi quần.
- Lần thứ năm: Khoảng 9 giờ 05 phút ngày 02/12/2023, T dọn dẹp phòng ngủ của anh Nguyễn Vũ T1 (con trai bà L) thì thấy trên cửa tủ quần áo có cắm sẵn chia khóa, T thấy chìa khóa này giống với chìa khóa tại tủ đựng quần áo bằng gỗ ở lầu một nên T đã lấy chìa khóa này đi xuống lầu một mở thử tủ đựng quần áo bằng gỗ trên thì mở được. T mở ra lục tìm các hộc tủ nhưng không phát hiện tài sản gì nên T đóng cửa tủ lại rồi đem chìa khóa vứt vào thùng đựng rác trước nhà. Đến 9 giờ 06 phút ngày 02/12/2023, anh T1 xem camera thì phát hiện sự việc trên nên trình báo Công an P Quận H.
Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an Q, Lý Ngọc T khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Tổng số vàng T đã lấy trộm được bao gồm: 01 sợi dây chuyền có gắn mặt bằng vàng 18K; 01 lắc tay bằng vàng 18K và 05 nhẫn bằng vàng 9999, bán tất cả số vàng trên được 87.000.000 đồng. Số tiền mặt T trộm cắp được là 3.000.000 đồng. Toàn bộ số tiền này T đã sử dụng hết vào việc tiêu xài cá nhân.
Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an Q, bà Châu Trần L và chị Nguyễn Thị Hoàng D là con gái bà L cho biết: Số tài sản bị mất trộm tại nhà số D B, Phường F Quận H bao gồm vàng, tiền của bà L và vàng chị D gửi nhờ, gồm:
- Tổng số vàng, tiền mặt của bà L bị mất trộm gồm: 01 dây chuyền vàng loại 18K trọng lượng 5 chỉ trị giá khoảng 20.000.000 đồng, 01 lắc tay vàng loại 18K trọng lượng 5 chỉ trị giá khoảng 20.000.000 đồng, 01 mặt dây chuyền vàng loại 18K trọng lượng 01 chỉ trị giá khoảng 4.000.000 đồng, 04 chiếc nhẫn vàng loại 9999 mỗi chiếc trọng lượng 02 chỉ trị giá khoảng 46.400.000 đồng, 01 chiếc nhẫn vàng loại 9999 trọng lượng 5 chỉ trị giá khoảng 29.000.000 đồng và 11.000.000 đồng tiền mặt. Tổng giá trị tài sản bà L bị trộm mất khoảng 130.400.000 đồng.
- Tổng số vàng của chị D bị mất bao gồm: 01 chiếc nhẫn vàng loại 9999 trọng lượng 5 chỉ trị giá khoảng 29.000.000 đồng, 07 chiếc nhẫn vàng loại 9999 mỗi chiếc trọng lượng 02 chỉ trị giá khoảng 81.200.000 đồng, 02 chiếc lắc tay bằng vàng loại 18K mỗi chiếc trọng lượng 5 chỉ trị giá khoảng 40.000.000 đồng, 02 chiếc nhẫn vàng loại 9999 mỗi chiếc trọng lượng 3 chỉ trị giá khoảng 34.800.000 đồng. Tổng tài sản bị mất trộm khoảng 185.000.000 đồng.
Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an Q đã tiến hành cho bà L và T đối chất để làm rõ số tài sản bị mất trộm nhưng không giải quyết được mâu thuẫn trong lời khai của bà L và T. Bà L, chị D cũng không cung cấp được các hóa đơn mua bán số vàng nêu trên nên không có cơ sở định giá tài sản.
Qua làm việc với các chủ tiệm V, tiệm V1, tiệm V2 nêu trên, được biết: do thời gian đã lâu nên không thể xác định được việc các cửa tiệm có mua vàng từ Lý Ngọc T hay không.
Ngày 03/12/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an Q đã tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Lý Ngọc T tại C3/30/AS/25 P, Xã B, Huyện B, kết quả: Không thu giữ đồ vật, tài liệu nào liên quan đến vụ việc nêu trên.
Vật chứng thu giữ trong vụ án:
- - 01 USB nhãn hiệu Bamba bên trong chứa hình ảnh Lý Ngọc T mở tủ lục tìm tài sản vào ngày 02/12/2023;
- - 01 áo thun cổ tròn ngắn tay màu đen có chấm bi màu trắng và màu nâu và 01 quần thun màu đen có chấm bi màu trắng và màu nâu thu giữ của T;
- - 01 điện thoại di động nhân hiệu Iphone Xr, màu xanh, số seri F2LXKF80KXKV thu giữ của T.
Về trách nhiệm dân sự: Bà Châu Trần L yêu cầu T bồi thường giá trị tài sản bị mất là 130.400.000 đồng; Chị Nguyễn Thị Hoàng D yêu cầu T bồi thường giá trị tài sản bị mất là 185.000.000 đồng.
Tại bản Cáo trạng số 289/CT-VKS-Q8 ngày 25/10/2024, Viện kiểm sát nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh truy tố bị cáo Lý Ngọc T về tội “Trộm cắp tài sảntheo điểm c khoản 2 Điều 173Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tại phiên tòa, bà L và chị D cũng không cung cấp được các hóa đơn mua bán số vàng bị mất, nên nay xác định yêu cầu bị cáo T bồi thường tổng số tài sản bị mất là 150.000.000 đồng, thống nhất yêu cầu bị cáo bồi thường cho bà L số tiền này. Tại phiên tòa, bị cáo cũng đồng ý bồi thường số tiền như bà L và chị D yêu cầu như trên.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Lý Ngọc T về tội “Trộm cắp tài sản”. Sau khi phân tích, đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 2 Điều 173điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), xử phạt bị cáo Lý Ngọc T từ 04 năm đến 04 năm 06 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo. Về trách nhiệm dân sự: do tại phiên tòa, bà L và chị D xác định yêu cầu bị cáo T bồi thường tổng số tài sản bị mất là 150.000.000 đồng, thống nhất yêu cầu bị cáo bồi thường cho bà L số tiền này và bị cáo cũng đồng ý bồi thường số tiền như bà L và chị D yêu cầu như trên. Nên đề nghị Hội đồng xét xử ghi nhận. Về vật chứng, đề nghị tịch thu tiêu hủy 01 áo thun cổ tròn ngắn tay màu đen có chấm bi màu trắng và màu nâu và 01 quần thun màu đen có chấm bi màu trắng và màu nâu thu giữ của T; trả lại cho bị cáo 01 điện thoại di động nhân hiệu Iphone Xr, màu xanh, số seri F2LXKF80KXKV do không liên quan đến hành vi phạm tội; 01 USB nhãn hiệu Bamba bên trong chứa hình ảnh Lý Ngọc T mở tủ lục tìm tài sản vào ngày 02/12/2023 là chứng cứ vụ án nên tiếp tục lưu theo hồ sơ.
Bị cáo không có ý kiến tranh luận; bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội, ăn năn hối cải và xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Q, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 8, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án và trình bày của bà L, chị D tại phiên tòa xác định: Vào thời điểm bị cáo T thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, chị Nguyễn Thị Hoàng D không còn sinh sống tại nhà số D B, Phường F, Quận H. Bà L và chị D đều thừa nhận có việc chị D gửi nhờ vàng ở nhà bà L nên bà L là người đang trực tiếp quản lý số vàng. Do vậy, trong vụ án này, bị hại được xác định là bà Châu Trần L, chị Nguyễn Thị Hoàng D là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án.
[3] Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận hành vi phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai bị hại, người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, xác định: Bị cáo Lý Ngọc T đã 04 lần thực hiện hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản tại nhà số D B, Phường F, Quận H của bà Châu Trần L, cụ thể như sau:
- - Lần thứ nhất: Khoảng tháng 7/2023 (không rõ ngày giờ cụ thể) bị cáo Lý Ngọc T có hành vi lén lút chiếm đoạt 01 sợi dây chuyền có gắn mặt bằng vàng 18K; 01 lắc tay bằng vàng 18K và 02 nhẫn bằng vàng 9999, tổng giá trị tài sản là số tiền 38.000.000 đồng.
- - Lần thứ hai: Khoảng tháng 10/2023 (không rõ ngày giờ cụ thể) bị cáo Lý Ngọc T có hành vi lén lút chiếm đoạt 01 nhẫn bằng vàng 9999, có giá trị là 27.000.000 đồng.
- - Lần thứ ba: Khoảng tháng 11/2023 (không rõ ngày giờ cụ thể) bị cáo Lý Ngọc T có hành vi lén lút chiếm đoạt 02 nhẫn bằng vàng 9999, có giá trị là 22.000.000 đồng.
- - Lần thứ tư: Khoảng 9 giờ 00 ngày 30/11/2023, bị cáo Lý Ngọc T có hành vi lén lút chiếm đoạt 06 tờ tiền mệnh giá 500.000 đ, tổng cộng là 3.000.000 đồng.
Tổng trị giá các tài sản Lý Ngọc T chiếm đoạt của bị hại là 90.000.000 đồng.
[4] Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi với lỗi cố ý, đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của cá nhân và tổ chức được pháp luật bảo vệ. Bị cáo chiếm đoạt các tài sản có tổng trị giá là 90.000.000 đồng, đây là tình tiết định khung hình phạt “Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng”. Như vậy, Hội đồng xét xử có cơ sở xác định hành vi của bị cáo Lý Ngọc T đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
[5] Trong vụ án này, bị cáo đã 04 lần thực hiện hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản, trị giá tài sản bị chiếm đoạt mỗi lần đều từ 2.000.000 đồng trở lên. Do đó, hành vi phạm tội của bị cáo thuộc trường hợp “Phạm tội 02 lần trở lên”, đây là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
[6] Tại thời điểm phạm tội, bị hại bà Châu Trần L đã 74 tuổi, đây là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “phạm tội đối với người đủ 70 tuổi trở lên...” quy định tại điểm i khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
[7] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xét tính nghiêm trọng của tội phạm mà bị cáo đã thực hiện, cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định bằng hình phạt tù có thời hạn nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người có ích, có ý thức tuân theo pháp luật và các quy tắc của cuộc sống, ngăn ngừa phạm tội mới; đồng thời phòng ngừa và đấu tranh chống tội phạm trong xã hội.
[8] Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” là có cơ sở, đúng người, đúng tội. Mức hình phạt mà Viện kiểm sát nhân dân Quận 8 đề nghị áp dụng đối với bị cáo là phù hợp, tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội nên có căn cứ chấp nhận. Tuy nhiên, quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án tiền sự nên Hội đồng xét xử áp dụng các điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) để giảm nhẹ một phần hình phạt đối với bị cáo.
[9] Về hình phạt bổ sung: Theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa đều cho thấy bị cáo là lao động tự do, không có thu nhập, điều kiện kinh tế còn khó khăn, vì vậy, Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[10] Về trách nhiệm dân sự: Tại phiên tòa bà L và chị D xác định yêu cầu bị cáo Lý Ngọc T bồi thường tổng số tài sản bị mất là 150.000.000 đồng, đồng thời phía bị hại bà Châu Trần L tự nguyện chuyển quyền yêu cầu và nhận số tiền bồi thường thiệt hại cho chị Nguyễn Thị Hoàng D, thống nhất yêu cầu bị cáo bồi thường thiệt hại cho chị Nguyễn Thị Hoàng D. Bị cáo cũng đồng ý bồi thường số tiền như bà L và chị D yêu cầu như trên. Xét thấy, thiệt hại do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra đối với bị hại, yêu cầu của bị hại là sự tự nguyện, phù hợp quy định pháp luật và cũng được bị cáo đồng ý, do đó Hội đồng xét xử ghi nhận buộc bị cáo bồi thường cho chị Nguyễn Thị Hoàng D số tiền là 150.000.000 đồng.
[10] Về xử lý vật chứng:
- + 01 điện thoại di động nhân hiệu Iphone Xr, màu xanh, số seri F2LXKF80KXKV thu giữ của T không liên quan đến hành vi phạm tội nên Hội đồng xét xử căn cứ điểm a khoản 3 Điều 106 trả lại cho bị cáo.
- + 01 áo thun cổ tròn ngắn tay màu đen có chấm bi màu trắng và màu nâu và 01 quần thun màu đen có chấm bi màu trắng và màu nâu thu giữ của bị cáo, đây là trang phục bị cáo mặc khi thực hiên hành vi lục lọi tìm tài sản chiếm đoạt ngày 02/12/2023, do không còn giá trị sử dụng nên Hội đồng xét xử căn cứ điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy.
[11] Dữ liệu điện tử: 01 USB nhãn hiệu Bamba bên trong chứa hình ảnh Lý Ngọc T mở tủ lục tìm tài sản vào ngày 02/12/2023 có giá trị chứng minh tội phạm nên tiếp tục lưu theo hồ sơ vụ án.
[12] Về án phí hình sự sơ thẩm và phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ quy định tại Điều 23 và Điều 27 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và phí dân sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào điểm c khoản 2 Điều 173; các điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Xử phạt bị cáo Lý Ngọc T 04 (bốn) năm 03 (ba) tháng tù, về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo chấp hành án.
- Căn cứ vào các Điều 47, 48 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); các điều 357, 468, 589 của Bộ luật Dân sự.
Buộc bị cáo Lý Ngọc T bồi thường cho chị Nguyễn Thị Hoàng D số tiền là 150.000.000 (một trăm năm mươi triệu) đồng, thi hành ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật dân sự 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
- Căn cứ vào Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); các điểm c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Trả lại cho bị cáo: 01 điện thoại di động nhân hiệu Iphone Xr, màu xanh, số seri F2LXKF80KXKV.
Tịch thu tiêu hủy: 01 áo thun cổ tròn ngắn tay màu đen có chấm bi màu trắng và màu nâu và 01 quần thun màu đen có chấm bi màu trắng và màu nâu.
Tiếp tục lưu theo hồ sơ: 01 USB nhãn hiệu Bamba bên trong chứa hình ảnh Lý Ngọc T mở tủ lục tìm tài sản vào ngày 02/12/2023.
(Theo biên bản giao - nhận tang tài vật ngày 07/11/2024).
- Căn cứ vào Điều 135, 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Buộc bị cáo Lý Ngọc T nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 7.500.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Phúc |
Bản án số 66/2025/HS-ST ngày 03/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 8, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 66/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 03/04/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 8, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Vào thời điểm bị cáo T thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, chị Nguyễn Thị Hoàng D không còn sinh sống tại nhà số D B, Phường F, Quận H. Bà L và chị D đều thừa nhận có việc chị D gửi nhờ vàng ở nhà bà L nên bà L là người đang trực tiếp quản lý số vàng. Do vậy, trong vụ án này, bị hại được xác định là bà Châu Trần L, chị Nguyễn Thị Hoàng D là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án.
