TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KHÁNH HÒA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 66/2025/HS-ST Ngày 02 tháng 7 năm 2025 |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KHÁNH HÒA
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
| Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: | Bà Lương Ngọc Yến Anh |
| Các Hội thẩm nhân dân: | Ông Nguyễn Hữu Anh |
| Bà Huỳnh Thị Quỳnh Anh |
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Cao Thanh Tâm - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Khánh Hòa tham gia phiên tòa: Ông Phạm Thành Luân - Kiểm sát viên.
Ngày 02 tháng 7 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa mở phiên tòa công khai xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 68/2025/TLST-HS ngày 05 tháng 6 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 82/2025/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 6 năm 2025 đối với:
Bị cáo Nguyễn Văn P (Tên gọi khác: Mực đen), sinh ngày 05 tháng 5 năm 1976, tại tỉnh Khánh Hòa; giới tính: Nam; nơi thường trú: Tổ A T, phường V, thành phố N (Nay là phường B), tỉnh Khánh Hòa; nơi cư trú: Không có nơi cư trú nhất định; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: Lớp 3/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; họ và tên cha: Nguyễn N (Chết); họ và tên mẹ: Nguyễn Thị Đ, sinh năm 1937; tiền án, tiền sự: Không;
Nhân thân: Ngày 09/11/2012, bị Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang (Nay là Tòa án Khu vực 1), tỉnh Khánh Hòa xử phạt 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”; chấp hành xong hình phạt tù ngày 23/01/2013, chấp hành xong án phí vào năm 2020.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 11/4/2025 cho đến nay, tại Phân trại giam giữ khu vực N, thuộc Trại tạm giam Công an tỉnh K. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại: Chị Elizaveta P1, sinh năm 1994; quốc tịch Nga; nơi tạm trú trước khi xuất cảnh: Số E L, phường V (Nay là phường B), thành phố N, tỉnh Khánh Hòa; đã xuất cảnh vào ngày 28/4/2025; có yêu cầu xét xử vắng mặt.
- Người làm chứng:
- Nguyễn L, sinh năm 1986; địa chỉ: Tổ A, phường V, thành phố N (Nay là phường B), tỉnh Khánh Hòa.
- Nguyễn Quốc V, sinh năm 1972; địa chỉ: Số B H, phường V, thành phố N (Nay là phường B), tỉnh Khánh Hòa.
- Đỗ N1, sinh năm 1990; địa chỉ: Số A N, phường V, thành phố N (Nay là phường B), tỉnh Khánh Hòa.
- Đồng Thị Minh T, sinh năm 1973; địa chỉ: Số A L, phường V, thành phố N (Nay là phường B), tỉnh Khánh Hòa.
- Nguyễn Thị Đ, sinh năm 1937; địa chỉ: Số F M, phường V, thành phố N (Nay là phường B), tỉnh Khánh Hòa.
(Người làm chứng đều vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Văn P là đối tượng nghiện ma túy, không có nơi cư trú nhất định. Khoảng 13 giờ 00 phút ngày 11/4/2025, Nguyễn Văn P đi bộ xuống bãi biển P, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa tìm người sơ hở để trộm cắp tài sản. Khi đến khu vực bãi biển Đ đường Đ, phường V, thành phố N (Nay là phường B), tỉnh Khánh Hòa thì phát hiện 01 chiếc túi đeo chéo màu đen, bên trong có 01 điện thoại di động hiệu Iphone 15 Pro màu xám của chị Elizaveta P1 (Sinh năm 1994, quốc tịch Nga, số hộ chiếu 758632373) đang để trên bãi cát, không có người trông coi. P đi bộ đến lén lút lấy trộm chiếc túi thì bị anh Nguyễn Quốc V phát hiện, tri hô cùng người dân đuổi theo bắt giữ P giao cho Công an phường V, thành phố N (Nay là phường B), lập biên bản tiếp nhận người bị bắt trong trường hợp phạm tội quả tang.
Tại bản Kết luận định giá tài sản số 105/KL-HĐĐGTS ngày 15/4/2025 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự của Ủy ban nhân dân thành phố N, kết luận: Giá trị 01 (Một) điện thoại di động Iphone 15 Pro màu xám, dung lượng 256GB, số IMEI: 357662988467185, thời điểm định giá ngày 11/4/2025 là: 20.688.000 đồng. Riêng 01 (Một) túi đeo chéo, màu đen, không rõ nhãn hiệu: Hội đồng từ chối định giá.
Quá trình điều tra, Nguyễn Văn P đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải.
Tại bản Cáo trạng số 65/CT-VKSKH-P1 ngày 03 tháng 6 năm 2025, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Khánh Hòa đã truy tố bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Tại phiên tòa sơ thẩm:
1. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Khánh Hòa thực hành quyền công tố vẫn giữ nguyên Cáo trạng số 65/CT-VKSKH-P1 ngày 03 tháng 6 năm 2025 đối với bị cáo Nguyễn Văn P; đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn P từ 09 (Chín) tháng đến 12 (Mười hai) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Không xem xét phần trách nhiệm dân sự do bị hại đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bồi thường. Ngoài ra, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét xử lý vật chứng, tuyên án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
2. Bị cáo đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình và xin Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng án treo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng: Tại phiên tòa, bị hại là chị Elizaveta P1 vắng mặt và có yêu cầu xét xử vắng mặt; những người làm chứng vắng mặt nhưng đã có lời khai tại cơ quan điều tra và việc vắng mặt của họ không gây trở ngại đến việc giải quyết vụ án, nên Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt các bị hại, người làm chứng theo quy định tại Điều 292, Điều 293 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
[2] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an tỉnh K, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Khánh Hòa, Kiểm sát viên: Các cơ quan tiến hành tố tụng nêu trên đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục tố tụng được quy định tại Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Quá trình điều tra, truy tố, xét xử, bị cáo, bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[3] Về hành vi phạm tội của bị cáo theo Cáo trạng truy tố:
[3.1] Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Văn P đã khai nhận: Do cần tiền tiêu xài cá nhân nên P đã nảy sinh ý định trộm cắp tài sản của người khác, đến khoảng 13 giờ 00 phút ngày 11/4/2025, tại khu vực bãi biển Đ đường Đ, phường V, thành phố N (Nay là phường B), tỉnh Khánh Hòa, lợi dụng sự sơ hở trong việc quản lý tài sản của bị hại, bị cáo P đã lén lút trộm cắp 01 (Một) chiếc túi đeo chéo màu đen, bên trong có 01 (Một) điện thoại di động hiệu Iphone 15 Pro màu xám của chị Elizaveta P1, có giá trị 20.688.000 đồng (Hai mươi triệu sáu trăm tám mươi tám nghìn đồng).
[3.2] Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với Biên bản tiếp nhận người bị bắt trong trường hợp phạm tội quả tang; phù hợp với lời khai của bị hại và của những người làm chứng, cùng các chứng cứ, tài liệu khác đã được thu thập có trong hồ sơ vụ án và được thẩm tra công khai tại phiên tòa. Hành vi của Nguyễn Văn P đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”; tội danh và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015. Do vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Cáo trạng số 65/CT-VKSKH-P1 ngày 03 tháng 6 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Khánh Hòa đã truy tố bị cáo P về tội danh và điều khoản nêu trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội.
[3.3] Hành vi của bị cáo gây nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của công dân; làm ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự, trị an tại địa phương, đặc biệt làm xấu đi hình ảnh của địa danh du lịch trong mắt du khách nước ngoài. Bị cáo đang trong độ tuổi lao động nhưng không chí thú làm ăn mà lại cố ý thực hiện hành vi phạm tội, điều này thể hiện bản tính tham lam, tư lợi và xem thường pháp luật. Căn cứ vào nhân thân, tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, Hội đồng xét xử thấy cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới đủ tác dụng răn đe, giáo dục và phát huy tính phòng ngừa chung.
[3.4] Tuy nhiên, tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã thành khẩn khai báo, thể hiện thái độ ăn năn hối cải, Hội đồng xét xử xem xét áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, giảm cho bị cáo một phần hình phạt, thể hiện chính sách khoan hồng của pháp luật để bị cáo an tâm cải tạo, sớm trở về với gia đình và trở thành công dân có ích cho xã hội.
[4] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại là chị Elizaveta P1 đã nhận lại tài sản, đồng thời không yêu cầu bị cáo bồi thường thiệt hại (Bút lục số 31), nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[5] Về xử lý vật chứng:
[5.1] Quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an tỉnh K đã trả lại cho bị hại: 01 (Một) điện thoại di động hiệu Iphone 15 Pro màu xám và 01 (Một) túi đeo chéo bằng da màu đen (Bút lục số 37), nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[5.2] Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an tỉnh K tạm giữ: 01 (Một) điện thoại di động hiệu Xiaomi Redmi 6A, màu xám và 01 (Một) điện thoại di động hiệu Realme - C20, màu xanh. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo khai 02 điện thoại trên là tài sản cá nhân của bị cáo, dùng để liên lạc và không liên quan đến hành vi tội phạm, nên trả lại cho bị cáo (Theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản đề ngày 16/6/2025 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an tỉnh K với Cục Thi hành án dân sự tỉnh Khánh Hòa).
[6] Về án phí: Bị cáo Nguyễn Văn P phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự 2015 đối với bị cáo Nguyễn Văn P;
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn P 09 (Chín) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”; Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam (Ngày 11/4/2025).
- Về trách nhiệm dân sự: Hội đồng xét xử không xem xét.
- Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
Trả lại cho bị cáo Nguyễn Văn P 01 (Một) điện thoại di động hiệu Xiaomi Redmi 6A, màu xám, dung lượng 16GB, số IMEI: 866381040155209 và 01 (Một) điện thoại di động hiệu Realme - C20, màu xanh, dung lượng 32GB, số IMEI: 867977050219279; (Theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản đề ngày 16/6/2025 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an tỉnh K với Cục Thi hành án dân sự tỉnh Khánh Hòa).
- Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Bị cáo Nguyễn Văn P phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
- Quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên tòa, được quyền kháng cáo bản án hình sự sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày Tòa tuyên án. Bị hại vắng mặt tại phiên tòa, được quyền kháng cáo bản án hình sự sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lương Ngọc Yến Anh |
THẨM PHÁN
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN
Bản án số 66/2025/HS-ST ngày 02/07/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KHÁNH HÒA về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 66/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 02/07/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KHÁNH HÒA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn Phụng "trộm cắp TS"
