Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU

Bản án số: 66/2025/HS-PT

Ngày 23-6-2025

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Hiếu

Các Thẩm phán: Ông Trần Minh Bắc

Ông Hoàng Trí Thức

- Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thanh Trúc – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu tham gia phiên tòa: Bà Hoàng Thị Nhung – Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 68/2025/TLPT-HS ngày 24/4/2025 đối với bị cáo Hoàng Văn N và đồng phạm do có kháng cáo của các bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 13/2024/HSST ngày 14/02/2025 của Tòa án nhân dân huyện Châu Đức, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.

- Các bị cáo có kháng cáo:

  1. Hoàng Văn N, sinh năm 2002 tại Bà Rịa – Vũng Tàu; Nơi cư trú: Tổ F, thôn Đ, xã C, huyện C, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; Nghề nghiệp: Công nhân; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Phật; trình độ văn hóa: 09/12; Con ông Hoàng Văn N1, sinh năm 1978 và bà Lê Thị Y, sinh năm 1979;

    Tiền án, tiền sự: Không.

    Bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú (có mặt).

  2. Bùi Đức T, sinh năm 2002 tại Bà Rịa – Vũng Tàu; Nơi cư trú: Tổ A, thôn Đ, xã C, huyện C, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; Nghề nghiệp: Công nhân; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Thiên chúa; trình độ văn hóa: 7/12; con Bùi Đức T1, sinh năm 1978 và Bùi Thị Hồng T2, sinh năm 1982; vợ Nguyễn Thanh H, sinh năm 2004; có 01 con sinh năm 2024.

    Tiền án, tiền sự: Không.

Bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú (có mặt).

Ngoài ra trong vụ án còn có các bị cáo Nguyễn Hữu H1, Nguyễn Thành T3, Trương Đăng H2, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người làm chứng nhưng không kháng cáo và không liên quan đến kháng cáo nên Tòa án không triệu tập.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

  1. Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa thì nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

    Vào ngày 14/6/2024, Nguyễn Ngọc T4 thành lập nhóm Z tên “Euro” gồm 04 thành viên là Nguyễn Ngọc T4, Hoàng Văn N, Nguyễn Hữu H1 và Lê Tấn T5. Mục đích: để cùng nhau xem và bình luận các trận bóng đá thuộc Vòng chung kết giải vô địch bóng đá C (EURO) diễn ra vào tháng 6 năm 2024. Đến cuối tháng 6/2024, T4 thấy các thành viên của nhóm nhắn tin trao đổi số tiền thắng thua cá độ bóng đá trong trận Pháp và Á nên đã làm đơn tố giác gửi Công an xã C, huyện C, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu để giải quyết theo thẩm quyền.

    Quá trình điều tra, chứng minh được: Tại Vòng chung kết EURO năm 2024, Bùi Đức T đã cá độ bóng đá cùng Hoàng Văn N tổng cộng 05 trận, trong đó, Bùi Đức T là người chơi cá độ còn Hoàng Văn N là chủ cá độ. Nhật tham khảo kèo bóng đá trên các trang wep cá độ bóng đá. Khi T hỏi để bắt kèo thì N nhắn tin cho T. Sau đó, nếu T đồng ý thì sẽ nhắn tin lại đồng ý thì nhắn tin “ok”, nếu không đồng ý thì không nhắn tin bắt kèo. T cũng là người nhắn tin cho N về số tiền đánh bạc của từng kèo bóng đá. Cụ thể các trận mà N và T đánh bạc với nhau như sau:

    Trận thứ nhất: Vào ngày 17/6/2024, Bùi Đức T nhắn tin vào tài khoản Zalo của Hoàng Văn N hỏi kèo cá độ bóng đá trận đấu giữa hai đội tuyển Pháp và Á diễn ra vào lúc 02 giờ ngày 18/6/2024. Nhật vào trang web cá độ bóng đá tham khảo rồi soạn tin nhắn tỷ lệ kèo cá cược qua cho T (không nhớ chính xác tỷ lệ kèo). T bắt “xỉu cả trận” số tiền 4.500.000 đồng với N và được N đồng ý. Ngoài ra, N và T5 thỏa thuận đánh bạc với Nguyễn Hữu H1 số tiền 1.500.000 đồng. H1 là người chủ động bắt kèo “xỉu cả trận” và được N và T5 đồng ý nên nhắn tin vào nhóm "Euro".

    Kết quả trận đấu: P- 0 Áo. Với kết quả trận đấu như trên thì bên bắt “Xỉu” sẽ thắng. Như vậy, T đã thắng Nhật số tiền 4.050.000 đồng; Hiếu thắng N và T5 số tiền 1.350.000 đồng. N đã chuyển khoản cho H1 300.000 đồng, còn lại 1.050.000 đồng Nhật trừ số tiền H1 nợ trước đó.

    Như vậy, số tiền T đánh bạc là:(4.500.000₫ bỏ ra đặt cược+ 4.050.000₫ thắng cược = 8.550.000 đồng; Số tiền H1 đánh bạc là: 1.500.000₫ bỏ ra đặt cược+ 1.350.000₫ thắng cược = 2.850.000 đồng; Số tiền T5 đánh bạc là: 1500.000đ đã nhận cược + 1.350.000₫ phải bỏ ra để trả = 2.850.000 đồng; Số tiền N đánh bạc là: Đánh với T 8.550.000đ + đánh với H1: 2.850.000 đồng = 11.400.000₫.

    Trận thứ 2: Trận đấu giữa hai đội tuyển T và G diễn ra vào lúc 23 giờ ngày 18/6/2024. T bắt “T cả trận” số tiền 2.000.000đ và “tài cả trận” số tiền 2.000.000đ. Tỷ lệ kèo: T chấp ³¼ ăn 80%, tài xỉu 2 1/2 lựa ăn 90%. Kết quả trận đấu đội tuyển T thắng đội tuyển G1 với tỷ số 3 -1 (tức là kèo T thắng và trận đấu ra tài). T thắng N hai kèo với tổng số tiền 3.400.000 đồng (trong đó kèo Thổ Nhĩ Kỳ T6 thắng 1.600.000 đồng và kèo “tài cả trận” Thuận thắng 1.800.000 đồng). Như vậy, số tiền T6 dùng để đánh bạc là 7.400.000 đồng; Số tiền N dùng đánh bạc là 7.400.000 đồng.

    Trận thứ 3: Trận đấu giữa hai đội tuyển Bồ Đào N2 và Cộng hòa Séc diễn ra vào lúc 02 giờ ngày 19/6/2024. T6 bắt “Bồ Đào Nha cả trận” số tiền 4.000.000 đồng; bắt “Bồ Đào Nha hiệp 1” số tiền 3.000.000 đồng. Tỷ lệ kèo: Bồ Đào Nha 1 ăn 8, tài xỉu 2 ³¼½ lựa; Hiệp 1: Bồ Đào Nha ½ ăn 8, tài xỉu 1 ăn 8. Kết quả trận đấu: H Bồ Đào Nha hòa Cộng hòa S với tỷ số 0-0; cả trận Bồ Đào Nha thắng Cộng hòa Séc với tỷ số 2-1. Với kết quả như trên thì T6 thua Nhật kèo hiệp 1 số tiền 3.000.000 đồng và hòa với N ở kèo cả trận. Như vậy, số tiền đánh bạc của T6 là 7.000.000 đồng; số tiền đánh bạc của N là 7.000.000 đồng.

    Trận thứ 4: Trận đấu giữa hai đội tuyển C1 và A diễn ra vào lúc 20 giờ ngày 19/6/2024. T6 bắt các kèo cá độ gồm “dưới C cả trận” số tiền 3.000.000 đồng; Hiệp 1 “dưới C” số tiền 3.000.000 đồng; H3 2 “xỉu Croatia” số tiền 3.000.000 đồng. Tỷ lệ kèo: Croatia 1 1/4 ăn 85, tài xỉu 2 1/2 lựa; Hiệp 1 Croatia 1/2 ăn 80, tài xỉu 1 ăn 85; Hiệp 2 Croatia 3/4 lựa tài xỉu 1 1/2 lựa. Kết quả trận đấu H3 1: Croatia thua C1 với tỷ số 0-1; Cả trận Croatia hòa Albania với tỷ số 2–2. Với kết quả như trên T6 thắng N hai kèo với tổng số tiền là 5.850.000 đồng (trong đó kèo dưới Croatia cả trận với số tiền 2.850.000 đồng(ăn 0.85) và hiệp 1 dưới Croatia với số tiền 3.000.000 đồng (ăn đủ)); T6 thua N ở kèo hiệp 2 xỉu Croatia với số tiền 3.000.000 đồng. Như vậy, số tiền đánh bạc của T6 là (9.000.000đ tiền bỏ ra và 5.850.000đ tiền thắng cược) = 14.850.000đ; số tiền đánh bạc của N là 14.850.000đ.

    Trận thứ 5. Trận đấu giữa hai đội tuyển Đ và H4 diễn ra vào lúc 23 giờ ngày 19/6/2024. T6 bắt 02 kèo cá độ “Đ cả trận” số tiền 3.000.000 đồng và “Đức Hiệp 1” số tiền 3.000.000 đồng. Tỷ lệ kèo: Đ lựa tài xỉu 3 1/4 lựa; Hiệp 1: Đ lựa tài xỉu 1/14 lựa. Kết quả trận đấu H3 1: Đức thắng H5 tỷ số 1–0; Cả trận Đ thắng Hungary tỷ số 2-0. Với kết quả như trên thì T6 thắng N 02 kèo với tổng số tiền là 2.700.000 đồng (trong đó kèo Đ cả trận với số tiền 1.350.000 đồng và kèo hiệp 1 Đức với số tiền 1.350.000 đồng). Như vậy: số tiền đánh bạc T6: 6.000.000đ bỏ ra + 2.700.000đ thắng cược = 8.700.000đ; Số tiền đánh bạc của N: là 8.700.000đ.

    Quá trình điều tra, chứng minh được ngoài cá độ bóng đá với T6, H1 thì Hoàng Văn N còn tham gia cá độ bóng đá với Trương Đăng H2 và Nguyễn Thành T3, cụ thể: Vào sáng ngày 25/6/2024, N nhắn tin cho H2 hỏi có người nào nhận bắt cá độ đá bóng ăn tiền không để N bắt độ trận đấu giữa hai đội tuyển B1 và C2 diễn ra vào lúc 08 giờ ngày 25/6/2024 (thuộc giải Copa A 2024). Hội nhắn tin cho Nguyễn Thành T3 để lấy tỷ lệ kèo trận đấu trên rồi chuyển lại cho N. Nhật nhắn tin cho Hội bắt hai kèo “Hiệp 1 Brazil” với số tiền 6.000.000 đồng và kèo hiệp 2 với số tiền 7.000.000 đồng. Hội gửi nội dung Nhật bắt kèo qua cho T3 thì được T3 đồng ý nhận kèo. Hiện tại cả Hội, T3 và N không nhớ chính xác tỷ lệ kèo nhưng nhớ rõ số tiền thắng thua. Kết thúc trận đấu kết quả Brazil hòa C2 tỷ số 0–0. Hoàng Văn N thua hai kèo với tổng số tiền 13.000.000 đồng. Đối với trận đấu này thì Hoàng Văn N là người chơi còn Hội và T3 chủ đánh bạc. Do đó, số tiền đánh bạc được tính như sau: Số tiền đánh bạc của Hoàng Văn N là 13.000.000 đồng; Số tiền đánh bạc của Trương Đăng H2 và Nguyễn Thành T3 là 13.000.000 đồng.

    Tại Bản kết luận giám định số 6305/KL-KTHS ngày 08/11/2024 của Phân viện khoa học hình sự tại thành phố Hồ Chí Minh kết luận:

    "1. Phục hồi, trích xuất được tin nhắn của tài khoản Zalo "Hoàng Văn N” trong điện thoại di động ký hiệu A2 từ ngày 17/6/2024 đến ngày 19/6/2024; dữ liệu được trích xuất được lưu ra 01 thiết bị lưu trữ DVD kèm theo; 2. Không tìm thấy dữ liệu tin nhắn Zalo "Bùi Đức T” trong điện thoại di động ký hiệu A1 từ ngày 17/6/2024 đến ngày 19/6/2024; 3. Không tìm thấy dữ liệu tin nhắn của tài khoản M "Hoàng Văn N” trong điện thoại di động ký hiệu A2 trong ngày 25/6/2024".

    Vật chứng vụ án: 01 điện thoại di động hiệu Iphone 12 Promax có số Imei 351572599010488 và điện thoại di động hiệu Iphone 7 có số Imei 353836083748632. 01 DVD chứa file dữ liệu giám định và 05 DVD chứa file hỏi cung các bị cáo được chuyển theo hồ sơ vụ án.

  2. Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 13/2025/HSST ngày 14/02/2025 của Tòa án nhân dân huyện Châu Đức, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu đã quyết định:

    Tuyên bố: Các bị cáo Hoàng Văn N, Bùi Đức T phạm tội “Đánh bạc”.

    2.1. Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 50 Bộ luật Hình sự.

    Xử phạt Hoàng Văn N 08 (tám) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt chấp hành án.

    2.2 Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 50 Bộ luật Hình sự.

    Xử phạt Bùi Đức T 07 (bảy) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt chấp hành án.

    Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên xử các bị cáo khác, xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo luật định.

  3. Ngày 18/02/2025, các bị cáo Hoàng Văn N và Bùi Đức T có đơn kháng cáo xin hưởng án treo.
  4. Tại phiên tòa phúc thẩm:

    - Các bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình và giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.

    - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm:

    Về tố tụng: Các bị cáo có kháng cáo trong thời hạn luật định nên được chấp nhận xem xét theo thủ tục phúc thẩm.

    Về nội dung: Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo Hoàng Văn N 08 (T7) tháng tù và Bùi Đức T 07 (B) tháng tù về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự là phù hợp, đúng người, đúng tội. Tại giai đoạn phúc thẩm, các bị cáo không cung cấp thêm tài liệu, chứng cứ nào mới đủ căn cứ để xem xét cho kháng cáo của các bị cáo. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự, không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

  5. Các bị cáo không tranh luận với đại diện Viện kiểm sát, nói lời sau cùng thể hiện thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, xin Hội đồng xét xử xem xét cho các bị cáo được hưởng án treo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng:

Đơn kháng cáo của bị cáo Hoàng Văn N và Bùi Đức T làm và gửi trong thời hạn luật định nên hợp lệ, Hội đồng xét xử chấp nhận xem xét theo trình tự phúc thẩm.

[2] Về tội danh và điều luật áp dụng:

Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội phù hợp với lời khai của các bị cáo trong quá trình điều tra, các chứng cứ đã được thẩm tra có trong hồ sơ vụ án và tại phiên tòa sơ thẩm, thể hiện:

Các bị cáo Hoàng Văn N, Bùi Đức T, Nguyễn Hữu H1, Trương Đăng H2 và Nguyễn Thành T3 thừa nhận đã có hành vi đánh bạc bằng hình thức cá độ bóng đá ăn tiền. Thời điểm bị phát hiện, thì V chung kết EURO năm 2024 và giải Copa America 2024 đã kết thúc nên các bị cáo đã biết số tiền mình thắng hay thua từ việc cá độ trong từng trận đấu. Như vậy, trong vụ án này, bị cáo T đánh bạc với bị cáo N; bị cáo H1 đánh bạc với bị cáo N và T5; bị cáo N đánh bạc với bị cáo H2 và T3.

Căn cứ vào lời khai của các bị cáo và các tin nhắn còn lưu giữ trong máy điện thoại của bị cáo về từng kèo cá độ và từng lần cá độ, theo tinh thần hướng dẫn tại mục 3, 4, 5 Điều 1 Nghị quyết 01/2010/NQ-HĐTP ngày 22/10/2010 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thì số tiền dùng để đánh bạc của các bị cáo trong các trận bóng đá như sau: Bị cáo N đánh bạc 06 lần, mỗi lần đều trên 5.000.000 đồng và dưới 50.000.000 đồng, với tổng số tiền 62.350.000 đồng; bị cáo T đánh bạc 05 lần: mỗi lần đều trên 5.000.000 đồng và dưới 50.000.000 đồng, với tổng số tiền 46.500.000 đồng; bị cáo Trương Đăng H2 và Nguyễn Thành T3 đánh bạc 01 lần với số tiền 13.000.000 đồng; bị cáo H1 đánh bạc 01 lần với số tiền 2.850.000 đồng, tuy số ti ền đánh bạc của H1 dưới 5.000.000 đồng nhưng do H1 đã bị kết án về tội đánh bạc chưa được xóa án tích.

Do đó, hành vi của các bị cáo thực hiện đã đủ yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự. Tòa án cấp sơ thẩm xét xử các bị cáo với tội danh trên là có căn cứ, đúng pháp luật.

[3] Về kháng cáo của các bị cáo N và T:

Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến trật tự công cộng, trật tự an toàn và nếp sống văn minh của xã hội tại địa phương. Toà án cấp sơ thẩm khi lượng hình đã xem xét đầy đủ tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, nhân thân và xử phạt bị cáo Hoàng Văn N 08 (T7) tháng tù và Bùi Đức T 07 (B) tháng tù về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự là phù hợp. Tại giai đoạn phúc thẩm, các bị cáo N và T có cung cấp thêm đơn xác nhận là lao động chính và hoàn cảnh gia đình khó khăn có xác nhận của Chính quyền địa phương; bị cáo T có con còn nhỏ sinh năm 2024; đây là tình tiết mới quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự phát sinh tại phiên toà phúc thẩm. Xét thấy các bị cáo có nhân thân tốt, phạm tội ít nghiêm trọng, là lao động chính trong gia đình nên với chính sách khoan hồng, nhân đạo của pháp luật, Hội đồng xét xử thống nhất chuyển hình phạt tù sang hình phạt tiền đối với các bị cáo.

Do hình phạt chính là hình phạt tiền nên miễn hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

Do đó, Hội đồng xét xử thống nhất chấp nhận kháng cáo của các bị cáo, sửa bản án sơ thẩm.

[4] Về án phí hình sự phúc thẩm:

Do kháng cáo được chấp nhận nên các bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm đ khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự.

  1. Chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Hoàng Văn N và Bùi Đức T; sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 13/2025/HS-ST ngày 14/02/2025 của Tòa án nhân dân huyện Châu Đức, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.

    Tuyên bố: Các bị cáo Hoàng Văn N, Bùi Đức T phạm tội “Đánh bạc”.

    1.1. Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 35 Bộ luật Hình sự.

    Xử phạt Hoàng Văn N 70.000.000đ (bảy mươi triệu đồng).

    1.2 Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 35 Bộ luật Hình sự.

    Xử phạt Bùi Đức T 60.000.000₫ (sáu mươi triệu đồng).

  2. Hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt bổ sung đối với các bị cáo Hoàng Văn N và Bùi Đức T.
  3. Các quyết định khác của Bản án hình sự sơ thẩm số 13/2025/HS-ST ngày 14/02/2025 của Tòa án nhân dân huyện Châu Đức, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ khi hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
  4. Án phí hình sự phúc thẩm: Các bị cáo Hoàng Văn N, Bùi Đức T không phải nộp.

Bản án hình sự phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh BR-VT;
  • - PV 27 Công an tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu;
  • - Tòa án nhân dân huyện Châu Đức;
  • - Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Đức;
  • - Chi cục THADS huyện Châu Đức;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)

Nguyễn Thành Hiếu

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 66/2025/HS-PT ngày 23/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU về đánh bạc

  • Số bản án: 66/2025/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Đánh bạc
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 23/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Hoàng Văn N và đồng phạm
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger