|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK LẮK |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 66/2025/HS-PT Ngày: 18 - 3 - 2025. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK LẮK
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Thanh Huyền.
Các Thẩm phán: Ông Trần Duy Phương và bà Nguyễn Thị Hằng.
Thư ký phiên tòa: Bà Lê Nữ Hoàng Yến – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mai Phương - Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 54/2025/HS-PT ngày 04/02/2025 đối với bị cáo Phan Thanh T, do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 396/2024/HS-ST ngày 13/12/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk.
Bị cáo có kháng cáo: Họ và tên: Phan Thanh T (tên gọi khác Tí); sinh ngày 28/5/1993, tại tỉnh Đắk Lắk; nơi cư trú: Tổ dân phố D, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk; nghề nghiệp: cơ khí; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: Phật giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phan Văn T1 (đã chết) và bà Bùi Thị X; bị cáo chưa có vợ con. Tiền án: không; tiền sự: không. Bị cáo hiện đang tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.
Người bào chữa cho bị cáo: Bà Nguyễn Thị Thanh L – Luật sư Văn phòng L1, thuộc Đoàn Luật sư tỉnh Đ (Có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 15 giờ 00 phút ngày 04/8/2024, Phan Thanh T đi bộ từ quán Internet, tại địa chỉ: số I Y, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk để đến nhà bạn tại đường Y, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk. Cùng lúc này anh Hoàng Minh H, điều khiển 01 chiếc xe mô tô, nhãn hiệu Honda, số loại SH Mode, màu sơn trắng - nâu, biển số 47T1-119.98, đi từ địa chỉ số: A L, phường E, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk đến địa chỉ: số A Y, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk để giao hàng. Khi đến nơi thì anh H tắt máy xe nhưng vẫn cắm chìa khoá trên xe, rồi mang hàng đi vào trong nhà để giao. Khi T đi bộ đến đầu đường Y, phường T thấy chiếc xe mô tô biển số 47T1-119.98 của anh H đang dựng trên lề đường, chìa khoá cắm trên xe, nên đã nảy sinh ý định trộm cắp chiếc xe mô tô để bán lấy tiền tiêu xài. Quan sát thấy không có ai trông coi nên T lén lút đi đến ngồi lên chiếc xe mô tô biển số 47T1-119.98 rồi nổ máy chạy về hướng đường M, rồi đi về nhà T, tại địa chỉ: Tổ dân phố D, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk. Sau khi phát hiện bị mất chiếc xe mô tô biển số 47T1-119.98, anh H đã trình báo Cơ quan Công an và gọi điện thoại thông báo cho người thân, bạn bè. Đến khoảng 16 giờ 30 phút cùng ngày, khi T điều khiển chiếc xe mô tô biển số 47T1-119.98 đi đến trước địa chỉ: số C A, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk thì bị anh Hoàng Xuân N (là bạn của anh H) phát hiện rồi tri hô người dân xung quanh hỗ trợ để giữ T cùng chiếc xe mô tô biển số 47T1-119.98 lại, sau đó đã trình báo Cơ quan Công an. Quá trình bị quần chúng nhân dân khống chế thì có 01 người đàn ông (chưa xác định được nhân thân, lai lịch) có dùng chân đánh 01 cái trúng vào vùng mặt của T gây thương tích gãy xương hàm dưới vùng góc hàm bên phải. Cơ quan Cảnh sát điều tra đã tiến hành xác minh truy tìm người đàn ông trên nhưng đến nay chưa có kết quả.
Tại Kết luận giám định số 1380/KL-KTHS ngày 12/9/2024, của Phòng K Công an tỉnh Đ, kết luận: Số khung, số máy của chiếc xe mô tô biển số 47T1-119.98 không thay đổi.
Tại Bản kết luận định giá tài sản số: 200/KL-HĐĐGTS ngày 13/9/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố B, tỉnh Đắk Lắk kết luận: 01 (Một) chiếc xe mô tô biển số 47T1 – 119.98, nhãn hiệu Honda, số loại: SH Mode, loại xe: hai bánh từ 50 -173 cm³, màu sơn: trắng - nâu, số máy: JF51E0094869; số khung: 5100DY094824, dung tích xi lanh: 124 cm³, tài sản đã qua sử dụng, tài sản thu hồi được, thời điểm định giá ngày 04/8/2024, có trị giá là 30.600.000 đồng (Ba mươi triệu sáu trăm nghìn đồng).
Tại Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 752/KLTTCT-PY ngày 01/10/2024, của Trung tâm Pháp y tỉnh Đ, kết luận: Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Phan Thanh T tại thời điểm giám định là 11% (Mười một phần trăm), áp dụng phương pháp cộng tại Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y.
Tại bản án hình sự sơ thẩm số 396/2024/HS-ST ngày 13/12/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk đã quyết định:
[1] Về tội danh: Căn cứ khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự. Tuyên bố bị cáo Phan Thanh T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
[2] Về hình phạt: Căn cứ khoản 1 Điều 173, điểm h, i, s khoản 1 khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Phan Thanh T 01 (Một) năm 03 (Ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt thi hành án.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Ngày 27/12/2024, bị cáo Phan Thanh T có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin hưởng án treo.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo giữ nguyên nội dung kháng cáo, khai nhận về toàn bộ hành vi phạm tội.
Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk tại phiên tòa:
Sau khi phân tích, lập luận đánh giá về tích chất hành vi của bị cáo, Đại diện viện kiểm sát đề nghị HĐXX căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355 và Điều 356 BLTTHS không chấp nhận kháng cáo của bị cáo; Giữ nguyên bản án sơ thẩm về hình phạt.
- Luật sư Nguyễn Thị Thanh L bào chữa cho bị cáo với nội dung:
Về tội danh: Thống nhất quan điểm Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo Phan Thanh T về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ Luật hình sự. Tuy nhiên, mức hình phạt 01 năm 03 tháng tù Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng đối với bị cáo là có phần nghiêm khắc. Bởi lẽ, bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, sự việc xảy ra cũng có một phần lỗi của bị hại khi không chú ý quản lý tài sản nên đã tạo lòng tham cho bị cáo chiếm đoạt tài sản. Tại cấp phúc thẩm bị cáo cung cấp đơn xin trình bày là lao động chính, gia đình có hoàn cảnh khó khắn, bị cáo có nơi cư trú rõ ràng. Vì vậy, đề nghị cấp phúc thẩm áp dụng Điều 65 Bộ Luật hình sự, xem xét giảm nhẹ hình phạt và cho bị cáo được hưởng án treo.
Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm và không có ý kiến tranh luận, đối đáp gì.
Người bào chữa cho bị cáo giữ nguyên quan điểm bào chữa và không có ý kiến tranh luận, đối đáp gì khác.
Bị cáo đồng ý với luận cứ bào chữa của người bào chữa, không bổ sung gì thêm lời bào chữa và không tranh luận gì chỉ đề nghị hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và cho bị cáo được hưởng án treo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phúc thẩm phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, tại phiên tòa sơ thẩm và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
Như vậy, đã có đủ căn cứ để kết luận: ngày 04/8/2024 tại trước căn nhà địa chỉ số A Y, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk, Phan Thanh T đã lén lút trộm cắp chiếc mô tô, nhãn hiệu: Honda, số loại: SH Mode, loại xe: hai bánh, màu: trắng - nâu, số máy: JF51E0094869, số khung: 5100DY094824, biển số 47T1-119.98, dung tích xi lanh: 124 cm³, trị giá 30.600.000 đồng (Ba mươi triệu sáu trăm nghìn đồng). Toà án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Phan Thanh T về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự là đảm bảo đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[2] Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Phan Thanh T, Hội đồng xét xử xét thấy:
Mức hình phạt 01 năm 03 tháng tù mà cấp sơ thẩm đã xử phạt đối với bị cáo là có phần nghiêm khắc. Bởi lẽ bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm h, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Tại cấp phúc thẩm bị cáo cung cấp đơn xin trình bày là lao động chính, gia đình có hoàn cảnh khó khắn. Vì vậy, có căn cứ để chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo sửa bản án sơ thẩm theo hướng giãm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt.
[3]. Về án phí hình sự phúc thẩm: Do kháng cáo được chấp nhận một phần nên bị cáo Phan Thanh T không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
[4]. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
[1]. Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015;
Chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo Phan Thanh T - Sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 396/2024/HSST ngày 13 tháng 12 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk về hình phạt.
[2]. Điều luật áp dụng và mức hình phạt:
Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm h, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự 2015.
Xử phạt bị cáo Phan Thanh T (Tí) 01 (Một) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.
[3]. Về án phí hình sự phúc thẩm:
Bị cáo Phan Thanh T không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
[4]. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM/HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Thanh Huyền |
Bản án số 66/2025/HS-PT ngày 18/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK LẮK về hình sự phúc thẩm (trộm cắp tài sản)
- Số bản án: 66/2025/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm (Trộm cắp tài sản)
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 18/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK LẮK
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Phan Thanh T có hành vi trộm cắp tài sản
