|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 66/2025/HS-PT Ngày 19/6/2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Mai Hoa.
Các Thẩm phán: Bà Đoàn Thị Hương Nhu và ông Bùi Thế Hưng.
Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Lê Hoàn - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương tham gia phiên tòa: Ông Phạm Duy Thơi - Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương, mở phiên tòa xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 76/2025/TLPT-HS ngày 15 tháng 5 năm 2025. Do có kháng cáo của bị cáo Phạm Huy H đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 14/2025HS-ST ngày 20 tháng 03 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện Ninh Giang, tỉnh Hải Dương.
Bị cáo kháng cáo: Phạm Văn H1, sinh ngày 02/09/2006 tại Bình Dương; Căn cước công dân số: [...]; Nơi thường trú: Thôn S, xã N, huyện P, tỉnh Hưng Yên; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 11/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Phạm Văn B và bà Đào Thị P; Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 08/10/2024 đến ngày 17/10/2024, hiện đang tại ngoại (có mặt tại phiên tòa).
Bị hại: Anh Nguyễn Phương N, sinh năm 1997 và chị Nguyễn Thị H2, sinh năm 2000; Địa chỉ: Thôn Ứ, xã A, huyện N, tỉnh Hải Dương (vắng mặt tại phiên tòa).
Người làm chứng: Bà Đào Thị P, sinh năm 1982 (có mặt tại phiên tòa).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 08 giờ 00 phút, ngày 06/10/2024, Phạm Văn H1 điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại SH 125i màu trắng, biển kiểm soát 89G2- 013.47 (xe đăng ký mang tên của H1) đi từ nhà sang huyện N, tỉnh Hải Dương chơi. Sau đó H1 đi vào địa phận thôn K, xã A, huyện N thì thấy 01 đám cưới chuẩn bị đưa dâu thì nảy sinh ý định trộm cắp tài sản trong đám cưới. H1 điều khiển xe mô tô đi cùng đoàn đón dâu đi từ nhà cô dâu (chị Nguyễn Thị H2, sinh năm 2000, ở thôn K, xã A) đến nhà chú rể (anh Nguyễn Phương N, sinh năm 1997, ở thôn Ứ, xã A). Khi đi cách nhà anh N khoảng 50 m, H1 cởi áo chống nắng, mũ bảo hiểm để trong cốp xe và cất giấu xe. Đến khoảng 10 giờ cùng ngày, H1 đi bộ vào nhà anh N rồi lên tầng hai, mở cửa phòng của anh N (cửa phòng có dán chữ song hỷ). H1 thấy 01 va li đang để trên ghế, Hoàng bê xuống dưới nền nhà rồi dùng hai tay mở khoá va li. Bên trong va li có nhiều phong bì mừng cưới rồi cho những phong bì này vào trong bụng, bên trong áo của H1 đang mặc. H1 tiếp tục mở ngăn kéo tủ thấy bên trong có nhiều phong bì mừng đám cưới và 02 tờ tiền mệnh giá mỗi tờ 100.000 đồng. H1 cho toàn bộ số phong bì và 02 tờ tiền trên vào trong bụng, bên trong áo. Sau đó đóng cửa tủ, đi ra nơi để xe rồi mặc áo chống nắng, đội mũ bảo hiểm đi về hướng cầu H. Khi đi đến đoạn đường gần trường trung học cơ sở N1 thuộc địa phận thôn C, xã N, huyện L, tỉnh Hà Nam, H1 đi bộ ra bờ ruộng rồi bỏ toàn bộ số phong bì vừa trộm cắp được ra xé, kiểm đếm được số tiền 49.500.000 đồng và 02 tờ tiền, mỗi tờ có mệnh giá 100.000 đồng. H1 cho toàn bộ số tiền 49.700.000 đồng vào trong túi quần rồi bỏ số vỏ phong bì vào trong 01 túi nilon màu đen vất xuống ruộng. Sau đó H1 điều khiển xe đi Hà Nội chơi sử dụng hết số tiền 37.700.000 đồng. Chiều tối cùng ngày H1 về nhà đưa cho mẹ đẻ là Đào Thị P số tiền 10.500.000 đồng (gồm 21 tờ tiền mệnh giá 500.000 đồng). Số tiền H1 còn lại là 1.500.000 đồng để trong ví. Anh N có đơn trình báo Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện N, Cơ quan điều tra đã tiến hành khám nghiệm hiện trường, thu giữ video hình ảnh thu được. Ngày 08/10/2024 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N đã tiến hành triệu tập làm việc, H1 thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Cơ quan điều tra Công an huyện N thu giữ tại mặt ruộng thuộc thôn C, xã N, huyện L, tỉnh Hà Nam 01 túi nilon màu đen, bên trong có 106 chiếc phong bì bị xé có ghi tên của người gửi. Khám xét khẩn cấp tại nhà chị Đào Thị P thu giữ: 01 ví da màu đen; 03 tờ tiền mệnh giá mỗi tờ 500.000 đồng; 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe gắn máy số 89000265, biển số đăng ký 89G2- 013.47 mang tên Phạm Văn H1; 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda loại SH 125i, biển kiểm soát 89G2- 013.47; 01 mũ bảo hiểm nhãn hiệu Royal màu đen; 01 đôi giày thể thao có ghi chữ Nike màu trắng xanh; 01 quần bò màu đen; 01 áo dài tay có mũ màu xanh.
Tại Kết luận giám định số 8260/KL- KTHS ngày 11/11/2024, V Bộ C kết luận: Không có dấu vết cắt ghép, chỉnh sửa nội dung hình ảnh trong các tệp video gửi giám định.
Tại Kết luận giám định số 214/ KL- KTHS ngày 04/11/2024, Phòng K Công an tỉnh H kết luận: 24 tờ tiền polyme mệnh giá 500.000 đồng gửi giám định (ký hiệu A1- A24) là tiền thật.
Tại Kết luận giám định pháp y tâm thần số 182/ KLGĐ ngày 04/12/2024, Trung tâm pháp y tâm thần khu vực miền núi phía Bắc kết luận: Phạm Văn H1 không bị bệnh tâm thần. Tại thời điểm thực hiện hành vi trộm cắp tài sản ngày 06/10/2024 tại thôn Ứ, xã A, huyện N, Phạm Văn H1 không bị tâm thần. Phạm Văn H1 đủ khả năng nhận thức đủ khả năng điều khiển hành vi. Hiện tại Phạm Văn H1 không bị bệnh tâm thần, đủ khả năng nhận thức và đủ khả năng điều khiển hành vi.
Tại Bản án Hình sự sơ thẩm số 14/2025/HS-ST ngày 20/03/2025, Tòa án nhân dân huyện Ninh Giang, tỉnh Hải Dương đã quyết định: Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự. Tuyên bố Phạm Văn H1 phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Xử phạt Phạm Văn H1 02 (hai) năm 07 (bẩy) tháng tù, được trừ 9 (chín) ngày tạm giữ, bị cáo còn phải chấp hành 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng 21 (hai mươi mốt) ngày tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày đi thi hành án. Ngoài ra, bản án còn tuyên về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Ngày 21/3/2025, bị cáo Phạm Văn H1 có đơn kháng cáo đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm xem xét cho bị cáo được hưởng án treo.
Tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn, hối cải về hành vi của mình, đồng thời thay đổi nội dung kháng cáo, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt và cho bị cáo được hưởng án treo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương tham gia phiên tòa sau khi tóm tắt nội dung vụ án, quyết định của bản án sơ thẩm, đánh giá hành vi phạm tội của bị cáo, cũng như các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới phát sinh tại giai đoạn phúc thẩm của bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 1 Điều 355; điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự: Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Phạm Văn H1. Sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 14/2025/HS-ST ngày 20/03/2025 của Tòa án nhân dân huyện Ninh Giang, tỉnh Hải Dương về phần hình phạt đối với bị cáo Phạm Văn H1, như sau: Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản1 và khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự. Tuyên bố Phạm Văn H1 phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Xử phạt Phạm Văn H1 01 (một) năm 02 (hai) tháng tù đến 01 (một) năm 08 (tám) tháng tù, được trừ 9 (chín) ngày tạm giữ, bị cáo còn phải chấp hành 01 (một) năm 01 (một) tháng 21 (hai mươi mốt) ngày tù đến 01 (một) năm 07 (bẩy) tháng 21 (hai mươi mốt) ngày tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày đi thi hành án; Về án phí: Bị cáo Phạm Văn H1 không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Bị cáo Phạm Văn H1 kháng cáo trong thời hạn luật định là kháng cáo hợp lệ và được xem xét theo trình tự phúc thẩm.
Tại đơn kháng cáo bị cáo kháng cáo xin hưởng án treo. Tại phiên tòa bị cáo thay đổi nội dung kháng cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt và cho bị cáo được hưởng án treo. Căn cứ Điều 342 Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử chấp nhận việc thay đổi nội dung kháng cáo của bị cáo.
[2] Về nội dung: Lời khai của bị cáo tại phiên toà và quá trình điều tra phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của bị hại và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 10 giờ ngày 06/10/2024, tại nhà anh Nguyễn Phương N, sinh năm 1997, ở thôn Ứ, xã A, huyện N, tỉnh Hải Dương, lợi dụng sơ hở của chủ sở hữu khi đang tổ chức đám cưới. Phạm Văn H1 có hành vi lén lút đột nhập vào phòng của anh N và chiếm đoạt số tiền 49.700.000 đồng của anh Nguyễn Phương N và chị Nguyễn Thị H2. Bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, biết rõ việc chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện, do đó Tòa án nhân dân huyện Ninh Giang, tỉnh Hải Dương đã xét xử bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản”, quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật. Về tội danh bị cáo không kháng cáo và Viện kiểm sát không kháng nghị nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[3] Xét kháng cáo của bị cáo Phạm Văn H1, Hội đồng xét xử thấy: Quá trình điều tra và tại cấp sơ thẩm bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi của mình, đã tác động gia đình khắc phục bồi thường cho bị hại, bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Cấp sơ thẩm áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo và xử phạt bị cáo 2 (hai) năm 07 (bảy) tháng tù là phù hợp pháp luật. Tại cấp phúc thẩm bị cáo xuất trình biên lai tự nguyện nộp tiền án phí sơ thẩm trước quyết định thi hành án, thể hiện thái độ ăn năn hối cải, ý thức tốt trong việc chấp hành pháp luật và xuất tình giấy xác nhận của Trường THPT P1 thể hiện quá trình học tập tại trường bị cáo luôn có ý thức thực hiện quy định của T, của lớp. Hội đồng xét xử xét thấy đây là những tình tiết giảm nhẹ mới quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự cần áp dụng thêm đối với bị cáo. Để thể hiện chính sách khoan hồng và nhân đạo của pháp luật, căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của bị cáo giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Hành vi của bị cáo lợi dụng gia đình bị hại đang tổ chức đám cưới đã lén lút đột nhập vào phòng anh N để chiếm đoạt tiền mừng đám cưới của mọi người cho anh N gây tâm lý hoang mang cho người dân nên Hội đồng xét xử xét thấy cần áp dụng hình phạt tù đối với vị cáo và không chấp nhận kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo.
[4] Về án phí: Bị cáo kháng cáo được chấp nhận nên không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
[5] Các nội dung khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm c khoản 1 Điều 357, Điều 135 và 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
1. Xử: Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Phạm Văn H1. Sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 14/2025/HS-ST ngày 20/03/2025 của Tòa án nhân dân huyện Ninh Giang, tỉnh Hải Dương về phần hình phạt đối với bị cáo Phạm Văn H1. Cụ thể như sau:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự. Tuyên bố Phạm Văn H1 phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Xử phạt Phạm Văn H1 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù được trừ 9 (Chín) ngày tạm giữ, bị cáo còn phải chấp hành 01 (một) 02 (hai) tháng 21 (hai mươi mốt) ngày tù thời hạn tính từ ngày tuyên án phúc thẩm (ngày 19/06/2025).
2. Về án phí: Bị cáo Phạm Văn H1 không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Ghi nhận bị cáo Phạm Văn H1 đã tự nguyện nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm theo Biên lai thu tiền số 0002343 ngày 18/6/2025 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Ninh Giang, tỉnh Hải Dương.
3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị, có hiệu lực pháp luật kể từ khi hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Thị Mai Hoa |
Bản án số 66/2025/HS-PT ngày 19/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 66/2025/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 19/06/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trộm cắp tài sản
