|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 TỈNH AN GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 66/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 30-9-2025
V/v: “Tranh chấp ly hôn
và chia tài sản chung”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Tạ Thị Xuân
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Vũ Văn Hợp
- Ông Hà Ứng Cương
Thư ký phiên toà: Bà Trần Thị Như Ngọc – Thư ký Toà án nhân dân khu vực 3 – An Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 – An Giang tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Thế Nam - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 12 tháng 6 và ngày 26, 30 tháng 9 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 3 – An Giang, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 383/2021/TLST- HNGĐ, ngày 19 tháng 10 năm 2021, về tranh chấp ly hôn và chia tài sản chung, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 58/2025/QĐXX-ST ngày 15 tháng 5 năm 2025 và Thông báo tiếp tục mở phiên tòa số: 12/2025/QĐST-DS ngày 04 tháng 9 năm 2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Mai Thị Hồng G, sinh năm 1981 (Có mặt)
Địa chỉ: Ấp T, xã G, huyện C, tỉnh Kiên Giang (nay là ấp T, xã C, tỉnh An Giang).
- Bị đơn: Anh Nguyễn Văn S, sinh năm 1981 (Có mặt)
Địa chỉ: Ấp T, xã G, huyện C, tỉnh Kiên Giang (nay là ấp T, xã C, tỉnh An Giang).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- 3.1. Ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1950 (Có đơn xin vắng mặt)
- 3.2. Bà Trần Thị L, sinh năm 1953 (Có đơn xin vắng mặt)
Cùng địa chỉ: Ấp T, xã G, huyện C, tỉnh Kiên Giang (nay là ấp T, xã C, tỉnh An Giang).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Mai Thị Hồng G trình bày:
Về hôn nhân: Chị Mai Thị Hồng G và anh Nguyễn Văn S chung sống với nhau từ năm 1999 nhưng đến năm 2001 mới đăng ký kết hôn tại UBND xã G, huyện C, tỉnh Kiên Giang và được cấp giấy chứng nhận kết hôn ngày 18-9-2001.
Những năm đầu vợ chồng sống với nhau rất hạnh phúc, nhưng thời gian sau vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, hay cãi vã nhau, nguyên nhân do anh S mê cờ bạc gây nợ nần, chị G phải bán một số tài sản để trả nợ cho anh S. Chị G cố gắng hàn gắn, khuyên can nhưng anh S không thay đổi vẫn tiếp tục cờ bạc. Từ đó vợ chồng không còn hòa hợp, không có tiếng nói chung và không còn hạnh phúc. Vì vậy, chị G và anh S đã sống ly thân từ ngày 19-5-2018 đến nay. Nhận thấy tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn được, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị G yêu cầu được ly hôn với anh S.
Về con chung: Chị Mai Thị Hồng G và anh Nguyễn Văn S có 02 người con chung tên Nguyễn Thu T1, sinh ngày 11-10-2000 và Nguyễn Thành K, sinh ngày 05-12-2002, hiện nay các con đã thành niên nên không yêu cầu Toà án giải quyết.
Về tài sản chung: Trong quá trình chung sống, chị G và anh S có tạo lập được một số tài sản chung gồm:
- - Diện tích đất 4.058m², thửa đất số 449, tờ bản đồ số 8 và diện tích đất 4.629m², thửa đất số 532, tờ bản đồ số 8, cả 02 thửa đất này nằm trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BA 486779, do UBND huyện C, tỉnh Kiên Giang cấp ngày 25-3-2011 cho anh Nguyễn Văn S và chị Mai Thị Hồng G đứng tên, vị trí đất tại ấp T, xã G, huyện C, tỉnh Kiên Giang (nay là ấp T, xã C, tỉnh An Giang).
- - Diện tích đất 7.399m², thửa đất số 63, tờ bản đồ số 4, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AÐ 362463, do UBND huyện C, tỉnh Kiên Giang cấp ngày 11-7-2007 cho anh Nguyễn Văn S và chị Mai Thị Hồng G đứng tên, vị trí đất tại ấp T, xã G, huyện C, tỉnh Kiên Giang (nay là ấp T, xã C, tỉnh An Giang).
- - Căn nhà xây dựng trên phần đất của cha mẹ anh S, có kích thước (5,6 x 16,1)m + (8,2 x 5,4)m, diện tích 134,44m², toạ lạc tại ấp T, xã G, huyện C, tỉnh Kiên Giang (nay là ấp T, xã C, tỉnh An Giang), trị giá 458.927.000 đồng.
Chị G yêu cầu chia ½ đối với những tài sản chung nêu trên.
Ngoài ra, vợ chồng anh chị có mua của ông D Tứ diện tích đất 2.320,9m², thửa đất 531, tờ bản đồ 8, đất toạ lạc tại ấp T, xã G, huyện C, tỉnh Kiên Giang (nay là ấp T, xã C, tỉnh An Giang) nhưng chị G không yêu cầu Tòa án giải quyết, để vợ chồng tự thỏa thuận.
Đối với diện tích đất 1.000m² cha chồng là ông Nguyễn Văn T cho vào năm 2002, tại ấp T, xã G, huyện C, tỉnh Kiên Giang (nay là ấp T, xã C, tỉnh An Giang) nhưng chưa sang tên, nay chị G xin rút yêu cầu khởi kiện và không yêu cầu chia đối với phần đất này.
- Đối với số tiền 660.000.000 đồng anh S yêu cầu chia đôi thì chị G có ý kiến là khi ra khỏi nhà chị chỉ mang theo số tiền 450.000.000 đồng, sau đó gởi vào Ngân hàng TMCP K1. Khi đi ra khỏi nhà thì chị G có dắt theo 02 con, do không có việc làm và phải nuôi 02 con nên chị đã rút số tiền 450.000.000 về để mẹ con trang trải cuộc sống hàng ngày và đóng học phí cho 02 con đi học. Vì vậy, số tiền 450.000.000 đồng hiện nay không còn để chia nữa.
Về nợ chung: Trong quá trình chung sống, vợ chồng anh chị có mượn của cha mẹ chồng là ông Nguyễn Văn T và bà Trần Thị L số tiền 497.500.000 đồng và 10 chỉ vàng 24k để xây nhà, nhưng sau đó chị G đã trả được 100.000.000 đồng nên vợ chồng còn nợ ông T, bà L số tiền 397.500.000 đồng và 10 chỉ vàng 24k. Chị G đồng ý mỗi người trả ½ số nợ này cho ông T, bà L.
* Bị đơn anh Nguyễn Văn S trình bày:
Về hôn nhân: Anh nguyễn Văn S với chị Mai Thị Hồng G sống với nhau từ năm 1999, hai bên gia đình có tổ chức đám cưới theo phong tục tập quán và có đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật tại UBND xã G, huyện C, tỉnh Kiên Giang.
Nguyên nhân mâu thuẫn: Trong quá trình chung sống những năm đầu chung sống rất hạnh phúc, nhưng thời gian sau anh S bị bệnh thì chị G vô cớ bỏ nhà đi nên từ đó dẫn đến tình cảm vợ chồng rạn nứt và anh chị đã sống ly thân từ ngày 19-5-2018 đến nay. Nay chị G xin ly hôn anh cũng đồng ý ly hôn vì tình cảm vợ chồng không còn.
Về con chung: Nay các con đã thành niên nên không yêu cầu Toà án giải quyết.
Về tài sản chung: Anh S thống nhất về tài sản chung gồm nhà và đất đúng như trình bày của chị G và đồng ý chia đôi tài sản chung.
Riêng đối với thửa đất vợ chồng anh mua của ông D Tứ diện tích đất 2.320,9m², thửa đất 531, tờ bản đồ 8, vị trí đất tại ấp T, xã G, huyện C, tỉnh Kiên Giang (nay là ấp T, xã C, tỉnh An Giang) thì không yêu cầu Tòa án giải quyết, để vợ chồng tự thỏa thuận.
Đối với tài sản chung chị G mang theo là 660.000.000 đồng, trong đó gồm 100.000.000 đồng tiền bán lúa vụ Đông X, 500.000.000 đồng gửi tiết kiệm cho con đi học tại Ngân hàng TMCP K1 và 60.000.000 đồng vợ chồng chị Trần Thị H trả tiền cố đất, anh S vẫn yêu cầu chia đôi theo đơn phản tố.
Về nợ chung: Vợ chồng nợ cha mẹ anh S số tiền 397.500.000 đồng và 10 chỉ vàng 24k. Anh S đồng ý trả nợ cho cha mẹ thay chị G và yêu cầu được sở hữu căn nhà có kích thước (5,6 x 16,1)m + (8,2 x 5,4)m, diện tích 134,44m², xây dựng trên đất của cha mẹ anh tại ấp T, xã G, huyện C, tỉnh Kiên Giang (nay là ấp T, xã C, tỉnh An Giang), trị giá 458.927.000 đồng.
* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn T và bà Trần Thị L trình bày tại đơn yêu cầu độc lập và tại Toà án:
Vào năm 2014 ông bà có cho vợ chồng anh Nguyễn Văn S, chị Mai Thị Hồng G cất 01 căn nhà cấp 4 có diện tích ngang khoảng 5,4m, dài 22m, tổng diện tích 118,8m², đất tọa lạc tại ấp T, xã G, huyện C, tỉnh Kiên Giang để ở. Khi nào anh S, chị G không sử dụng nữa thì di dời nhà đi trả đất cho ông bà. Hiện nay vợ chồng anh S, chị G sống không hợp nhau và chị G đã gửi đơn ly hôn và yêu cầu chia phần đất này thì ông bà không đồng ý, vì đây là đất của vợ chồng ông bà tạo lập không phải là tài sản trong thời kỳ hôn nhân của anh S, chị G.
Vào khoảng năm 2013 ông bà có cho vợ chồng anh S, chị G mượn 316.000.000 đồng để trả nợ Ngân hàng. Năm 2014 ông bà tiếp tục cho mượn thêm 10 chỉ vàng 24k để xây nhà. Đến năm 2015 – 2016 anh S, chị G tiếp tục mượn tiền ông bà nhiều lần tổng cộng là 512.000.000 đồng và 10 chỉ vàng 24k. Sau khi mượn thì chị G, anh S có trả cho ông bà được 100.000.000 đồng, còn lại 412.000.000 đồng. Tại đơn yêu cầu độc lập, ông bà yêu cầu anh S, chị G trả cho ông bà số tiền 412.000.000 đồng và 10 chỉ vàng 24k. Nay ông bà xin rút lại một phần yêu cầu, ông bà chỉ yêu cầu anh S, chị G trả số tiền nợ là 397.500.000 đồng và 10 chỉ vàng 24k.
* Kiểm sát viên phát biểu ý kiến:
- - Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký: Thực hiện đúng quy định tại Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2025.
- - Thời hạn chuẩn bị xét xử và quyết định đưa vụ án ra xét xử: Chưa thực hiện đúng quy định tại Điều 203 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2025.
- - Về quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị HĐXX chấp nhận 01 phần nội dung yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Mai Thị Hồng G; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn T và bà Trần Thị L.
- - Về hôn nhân: Ghi nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị Mai Thị Hồng G và anh Nguyễn Văn S.
- - Về con chung: Đã trưởng thành nên không xem xét.
- - Về tài sản chung và nợ chung: Ghi nhận sự thỏa thuận của chị G và anh S về việc chia tài sản chung và trả nợ chung cho ông Nguyễn Văn T và bà Trần Thị L.
- - Không chấp nhận toàn bộ nội dung phản tố của anh S về việc yêu cầu chị G chia ½ số tiền 660.000.000 đồng.
- - Đình chỉ một phần nội dung yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Mai Thị Hồng G; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn T và bà Trần Thị L.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, sau khi nghị án, Toà án nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Ngày 18-10-2021 chị Mai Thị Hồng G có đơn khởi kiện xin ly hôn và chia tài sản chung với anh Nguyễn Văn S. Đây là vụ án “Tranh chấp ly hôn và chia tài sản chung” theo Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án.
[2] Về quan hệ hôn nhân: Chị Mai Thị Hồng G và anh Nguyễn Văn S chung sống với nhau vào năm 1999 trên cơ sở hôn nhân hoàn toàn tự nguyện và được UBND xã G, huyện C, tỉnh Kiên Giang cấp giấy chứng nhận kết hôn ngày 18-9-2001, đây là hôn nhân hợp pháp.
[3] Xét yêu cầu xin ly hôn của chị Mai Thị Hồng G: Vợ chồng chị G và anh S không còn thương yêu, quý trọng, quan tâm, chăm sóc và giúp đỡ nhau nữa, thể hiện qua lời trình bày của chị G và anh S tại Toà án: Chị G và anh S có nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân do anh S mê cờ bạc gây nợ nần, chị G phải bán một số tài sản để trả nợ cho anh S. Từ đó vợ chồng không còn hòa hợp, không có tiếng nói chung và không còn hạnh phúc nên chị G và anh S đã sống ly thân từ ngày 19-5-2018 đến nay. Tại Toà án cũng như tại phiên toà anh S cũng đồng ý ly hôn với chị G nên HĐXX ghi nhận sự tự nguyện thuận tình ly hôn giữa chị G và anh S.
[4] Về con chung: Chị Mai Thị Hồng G và anh Nguyễn Văn S có 02 người con chung tên Nguyễn Thu T1, sinh ngày 11-10-2000 và Nguyễn Thành K, sinh ngày 05-12-2002 hiện nay đã thành niên nên HĐXX không xem xét.
[5] Về tài sản chung: Chị Mai Thị Hồng G và anh Nguyễn Văn S thống nhất về tài sản chung và tự nguyện thoả thuận như sau:
- - Đối với diện tích đất 4.058m², thửa đất số 449, tờ bản đồ số 8 và diện tích 4.629m², thửa đất số 532, tờ bản đồ số 8, cả 02 thửa đất này nằm trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BA 486779, do UBND huyện C, tỉnh Kiên Giang cấp ngày 25-3-2011 cho anh Nguyễn Văn S và chị Mai Thị Hồng G đứng tên, vị trí đất tại ấp T, xã G, huyện C, tỉnh Kiên Giang (nay là ấp T, xã C, tỉnh An Giang). Chị G yêu cầu được chia ½ diện tích đất và đồng ý nhận phần đất này, anh S cũng đồng ý nên cần xem xét ghi nhận.
- - Đối với diện tích đất 7.399m² (theo đo đạc thực tế là 7.404,7m²), thửa đất số 63, tờ bản đồ số 4, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AÐ 362463, do UBND huyện C, tỉnh kiên Giang cấp ngày 11-7-2007 cho anh Nguyễn Văn S và chị Mai Thị Hồng G đứng tên, vị trí đất tại ấp T, xã G, huyện C, tỉnh Kiên Giang (nay là ấp T, xã C, tỉnh An Giang). Chị G yêu cầu được chia ½ diện tích đất và chị G đồng ý giao phần đất này cho anh S, đây cũng là yêu cầu của anh S nên cần xem xét ghi nhận.
- - Đối với diện tích đất 2.320,9m², thửa đất 531, tờ bản đồ 8, vị trí đất tại ấp T, xã G, huyện C, tỉnh Kiên Giang (nay là ấp T, xã C, tỉnh An Giang) mua của ông Danh T2 chưa được cấp giấy chứng nhận QSD đất, chị G và anh S không yêu cầu Tòa án giải quyết, để vợ chồng tự thỏa thuận nên HĐXX không xem xét.
- - Đối với diện tích đất 1.000m² cha chồng là ông Nguyễn Văn T cho vào năm 2002, đất tại ấp T, xã G, huyện C, tỉnh Kiên Giang (nay là ấp T, xã C, tỉnh An Giang) nhưng chưa sang tên giấy chứng nhận QSD đất, chị G và anh S đã xây dựng nhà vào năm 2014, hiện nay anh S đang sử dụng. Theo đơn khởi kiện chị G yêu cầu được chia ½ cả phần diện tích đất và căn nhà. Quá trình giải quyết vụ án, chị G rút lại một phần yêu cầu khởi kiện về việc chia ½ diện tích đất nên cần xem xét đình chỉ đối với yêu cầu này. Đối với căn nhà mà vợ chồng anh chị xây dựng vào năm 2014 có kích thước (5,6 x 16,1)m + (8,2 x 5,4)m, diện tích 134,44m², trị giá theo chứng thư định giá là 458.927.000 đồng và chị G anh S cũng thống nhất với kết quả định giá, thì chị G, anh S, ông T và bà L tự nguyện thỏa thuận là anh S sẽ quản lý, sử dụng căn nhà này và anh S sẽ chịu trách nhiệm trả cho ông T, bà L số tiền 397.500.000 đồng và 10 chỉ vàng 24k, nên cần xem xét ghi nhận.
- - Theo đơn phản tố, anh S yêu cầu được chia ½ số tiền 660.000.000 đồng, trong đó có 100.000.000 đồng tiền bán lúa vụ Đông Xuân, 500.000.000 đồng gửi tiết kiệm học cho con tại Ngân hàng TMCP K1 và 60.000.000 đồng vợ chồng chị Trần Thị H trả tiền cố đất, mà khi sống ly thân chị G mang theo. Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên toà chị G cho rằng khi ra khỏi nhà chị mang theo 02 người con và chỉ mang theo số tiền 450.000.000 đồng, sau đó gửi vào Ngân hàng TMCP K1. Do không có việc làm và phải nuôi 02 con ăn học nên chị đã rút số tiền 450.000.000 đồng về để mẹ con trang trải cuộc sống hàng ngày và đóng học phí cho 02 con đi học. Vì vậy, số tiền 450.000.000 đồng hiện nay không còn để chia nữa. Do anh S không cung cấp được chứng cứ để chứng minh là tài sản chung của vợ chồng khi chị G đi mang theo là 660.000.00 đồng và chị G chỉ thừa nhận mang theo số tiền 450.000.000 đồng và đã trang trải cuộc sống hàng ngày và đóng học phí cho 02 con đi học nên số tiền 450.000.000 đồng không còn nữa; xét thấy đây là chi phí hợp lý để nuôi con khi anh chị sống ly thân. Do đó, yêu cầu phản tố của anh S là không có căn cứ để chấp nhận.
[6] Về nợ chung: Theo đơn yêu cầu độc lập ông Nguyễn Văn T và bà Trần Thị L yêu cầu chị G, anh S trả số tiền nợ vay là 412.000.000 đồng và 10 chỉ vàng 24k. Tuy nhiên, quá trình giải quyết vụ án ông T và bà L chỉ yêu cầu chị G và anh S trả số tiền 397.500.000 đồng và 10 chỉ vàng 24k và xin rút lại một phần nội dung yêu cầu độc lập đối với số tiền 14.500.000 đồng nên cần xem xét đình chỉ một phần đối với số tiền này và xem xét ghi nhận việc anh S trả cho ông T, bà L số tiền 397.500.000 đồng và 10 chỉ vàng 24k.
Từ những nhận định nêu trên, căn cứ các điều 28, 35, 39, 91 Bộ luật Tố tụng dân sự; các điều 33, 37, 38, 39, 55, 57 và 59 Luật Hôn nhân gia đình 2014, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Mai Thị Hồng G về yêu cầu chia tài sản chung; chấp nhận yêu cầu độc lập của ông Nguyễn Văn T và bà Trần Thị L; không chấp nhận yêu cầu phản tố của anh Nguyễn Văn S.
- - Giao cho chị G sở hữu, sử dụng: Diện tích đất 4.058m², thửa đất số 449, tờ bản đồ số 8 và diện tích đất 4.629m², thửa đất số 532, tờ bản đồ số 8, cả 02 thửa đất này nằm trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BA 486779, do UBND huyện C, tỉnh Kiên Giang cấp ngày 25-3-2011 cho anh Nguyễn Văn S và chị Mai Thị Hồng G đứng tên, vị trí đất tại ấp T, xã G, huyện C, tỉnh Kiên Giang (nay là ấp T, xã C, tỉnh An Giang). Chị G có trách nhiệm trả cho anh S ½ trị giá tài sản theo kết quả định giá ngày 20-8-2025 của Công ty TNHH Đ là 729.708.000 đồng.
- - Giao cho anh S sở hữu, sử dụng: Diện tích đất 7.399m² (theo đo đạc thực tế là 7.404,7m²), thửa đất số 63, tờ bản đồ số 4, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AD 362463, do UBND huyện C, tỉnh kiên Giang cấp ngày 11-7-2007 cho anh Nguyễn Văn S và chị Mai Thị Hồng G đứng tên, vị trí đất tại ấp T, xã G, huyện C, tỉnh Kiên Giang (nay là ấp T, xã C, tỉnh An Giang), anh S có trách nhiệm trả cho chị G ½ trị giá tài sản theo kết quả định giá ngày 20-8-2025 của Công ty TNHH Đ là 453.167.640 đồng.
- Số tiền chênh lệch chị G còn phải trả cho anh S là 729.708.000₫ - 453.167.640đ = 276.540.000 đồng.
- - Giao cho anh S sở hữu, sử dụng: Căn nhà mà chị G, anh S xây dựng vào năm 2014 có kích thước (5,6m x 16,1m) + (8,2m x 5,4m), diện tích 134,44m², tọa lạc tại ấp T, xã G, huyện C, tỉnh Kiên Giang (nay là ấp T, xã C, tỉnh An Giang) theo kết quả định giá ngày 12-01-2024 của Công ty TNHH Đ1 là 458.927.000 đồng. Anh S có trách nhiệm trả cho ông T, bà L số tiền 397.500.000 đồng và 10 chỉ vàng 24k được quy đổi ra tiền tại thời điểm xét xử là 13.000.000 đồng/chỉ x 10 chỉ = 130.000.000 đồng + 397.500.000 đồng = 527.500.000 đồng.
- - Không chấp nhận yêu cầu phản tố của anh S về việc yêu cầu chị G chia ½ số tiền 660.000.000 đồng.
- - Đình chỉ 01 phần nội dung yêu cầu khởi kiện của chị G về việc yêu cầu chia mỗi người ½ diện tích đất 1.000m² mà cha chồng là ông Nguyễn Văn T cho vào năm 2002, đất tại ấp T, xã G, huyện C, tỉnh Kiên Giang (nay là ấp T, xã C, tỉnh An Giang).
- - Đình chỉ 01 phần nội dung yêu cầu độc lập của ông T, bà L về việc yêu cầu chị G, anh S trả số tiền 14.500.000 đồng.
[7] Thống nhất ý kiến của Kiểm sát viên về quan điểm giải quyết vụ án như đã phân tích và nhận định trên.
[8] Về án phí dân sự sơ thẩm:
8.1 Về án phí không có giá ngạch là 300.000 đồng, do chị G và anh S thống nhất thuận tình ly hôn trước khi mở phiên toà nên chỉ phải nộp 50% án phí là 150.000 đồng, mỗi người phải nộp án phí là 75.000 đồng.
8.2 Về án phí có giá ngạch: Đối với phần tài sản chung gồm:
- - Giá trị căn nhà là 458.927.000 đồng do anh S và chị G đã thoả thuận trước khi mở phiên toà nên chỉ phải nộp 50% án phí:
Anh S nhận ½ giá trị là 229.463.500 đồng x 5% = 11.473.175 đồng x 50% = 5.736.587 đồng.
Chị G nhận ½ giá trị là 229.463.500 x 5% = 11.473.175 đồng x 50% = 5.736.587 đồng.
- - Đối với giá trị tài sản các thửa đất là 2.365.751.280 đồng:
Chị G nhận tài sản trị giá 1.182.875.640 đồng = 36.000.000 đồng + (382.875.640 đồng x 3%) = 47.486.269 đồng.
Anh S nhận tài sản trị giá 1.182.875.640 đồng = 36.000.000 đồng + (382.875.640 đồng x 3%) = 47.486.269 đồng.
- - Đối với số nợ phải trả cho ông T, bà L tổng cộng là 527.500.000 đồng, do anh S và chị G đã thoả thuận trước khi mở phiên toà nên chỉ phải nộp 50% án phí: 527.500.000 đồng = 20.000.000 đồng + (127.500.000 đồng x 4%) = 25.100.000 đồng x 50% = 12.550.000 đồng. Anh S phải nộp 6.275.000 đồng, chị G phải nộp 6.275.000 đồng.
- Ngoài ra, anh S còn phải nộp án phí đối với yêu cầu phản tố không được chấp nhận về việc yêu cầu được chia ½ số tiền 660.000.000 đồng = 330.000.000 đồng x 5% = 16.500.000 đồng.
Tổng cộng số tiền án phí có giá ngạch chị G phải nộp là 59.497.856 đồng.
Tổng cộng số tiền án phí không có giá ngạch và có giá ngạch chị G phải nộp là 59.572.856 đồng. Chị G được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 4.175.000 đồng theo biên lai thu số 0000797 ngày 19-10-2021 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang, chị G còn phải nộp thêm 55.397.856 đồng.
Tổng cộng số tiền án phí có giá ngạch anh S phải nộp là 75.997.856 đồng. Tổng cộng số tiền án phí không có giá ngạch và có giá ngạch anh S phải nộp là 76.072.856 đồng. Anh S được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 8.250.000 đồng theo biên lai thu số 0000851 ngày 14-6-2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang, anh S còn phải nộp thêm 67.822.856 đồng.
Ông Nguyễn Văn T và bà Trần Thị L là người cao tuổi nên được miễn nộp tiền tạm ứng án phí và án phí.
[8] Về chi phí tố tụng: Đối với tiền chi phí cho việc xem xét thẩm định tại chỗ là 7.562.170 đồng, chi phí thẩm định giá là 36.176.000 đồng. Tổng cộng là 43.738.170 đồng, số tiền này chị G đã nộp xong. Căn cứ Điều 157 và Điều 165 Bộ luật Tố tụng dân sự thì chị G và anh S phải chịu chi phí tố tụng, mỗi người phải chịu số tiền là 21.869.085 đồng. Anh S có nghĩa vụ hoàn trả lại cho chị G số tiền 21.869.085 đồng theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các điều 28, 35, 39, 91, 147, 157, 165, 227, 228, 244 và 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2025;
Áp dụng các điều 33, 37, 38, 39, 55, 57 và 59 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
Điều 26, Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Về hôn nhân: Ghi nhận sự tự nguyện thuận tình ly hôn giữa chị Mai Thị Hồng G và anh Nguyễn Văn S.
- Về con chung: Chị Mai Thị Hồng G và anh Nguyễn Văn S có 02 người con chung tên Nguyễn Thu T1, sinh ngày 11-10-2000 và Nguyễn Thành K, sinh ngày 05-12-2002, hiện nay đã thành niên nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- Về tài sản chung:
- Giao cho chị Mai Thị Hồng G được quyền sử dụng, sở hữu: Thửa đất số 449, diện tích 4.058m², tờ bản đồ số 8 và thửa đất số 532, diện tích 4.629m², tờ bản đồ số 8, theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BA 486779, do UBND huyện C, tỉnh Kiên Giang cấp ngày 25-3-2011 cho anh Nguyễn Văn S và chị Mai Thị Hồng G đứng tên, vị trí đất tại ấp T, xã G, huyện C, tỉnh Kiên Giang (nay là ấp T, xã C, tỉnh An Giang). Theo biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 06-12-2022 và Tờ trích đo địa chính số: TĐ 69-2023 ngày 02-02-2023. Trị giá tài sản là 1.459.416.000 đồng theo chứng thư định giá số: 5050/CT-ĐGĐ/TCVA ngày 20-8-2025 của Công ty TNHH Đ, chị G có trách nhiệm trả cho anh S ½ trị giá tài sản là 729.708.000 đồng.
- Giao cho anh Nguyễn Văn S được quyền sử dụng, sở hữu: Thửa đất số 63, diện tích đất 7.399m² (theo đo đạc thực tế là 7.404,7m²), tờ bản đồ số 4, theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AÐ 362463, do UBND huyện C, tỉnh kiên Giang cấp ngày 11-7-2007 cho anh Nguyễn Văn S và chị Mai Thị Hồng G đứng tên, vị trí đất tại ấp T, xã G, huyện C, tỉnh Kiên Giang (nay là ấp T, xã C, tỉnh An Giang). Theo biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 25-10-2022 và Tờ trích đo địa chính số: TĐ 70-2023 ngày 02-02-2023. Trị giá tài sản là 906.335.280 đồng theo chứng thư định giá số: 5050/CT-ĐGĐ/TCVA ngày 20-8-2025 của Công ty TNHH Đ, anh S có trách nhiệm trả cho chị G ½ trị giá tài sản là 453.167.640 đồng.
Số tiền chênh lệch chị G còn phải trả cho anh S là 276.540.000 đồng (Hai trăm bảy mươi sáu triệu năm trăm bốn mươi nghìn đồng).
- Ghi nhận sự tự nguyện thoả thuận của chị Mai Thị Hồng G và anh Nguyễn Văn S về việc giao cho anh Nguyễn Văn S được quyền sử dụng và sở hữu: Căn nhà mà chị G, anh S xây dựng vào năm 2014 có kích thước (5,6m x 16,1m) + (8,2m x 5,4m), diện tích 134,44m², tọa lạc tại ấp T, xã G, huyện C, tỉnh Kiên Giang (nay là ấp T, xã C, tỉnh An Giang), trị giá là 458.927.000 đồng. Theo chứng thư định giá số 4003/CT-BĐS/ĐV ngày 12-01-2024 của Công ty TNHH Đ1.
- Không chấp nhận yêu cầu phản tố của anh Nguyễn Văn S về việc yêu cầu chị Mai Thị Hồng G chia ½ số tiền 660.000.000 đồng (Sáu trăm sáu mươi triệu đồng).
- Đình chỉ một phần nội dung yêu cầu khởi kiện của chị Mai Thị Hồng G về việc yêu cầu chia mỗi người ½ diện tích đất 1.000m² mà cha chồng là ông Nguyễn Văn T cho vào năm 2002, đất tại ấp T, xã G, huyện C, tỉnh Kiên Giang (nay là ấp T, xã C, tỉnh An Giang).
- Về nợ chung:
- Ghi nhận sự tự nguyện thoả thuận của chị Mai Thị Hồng G, anh Nguyễn Văn S, ông Nguyễn Văn T và bà Trần Thị L về việc anh Nguyễn Văn S có trách nhiệm trả số tiền 527.500.000 đồng (Năm trăm hai mươi bảy triệu năm trăm nghìn đồng) cho ông Nguyễn Văn T và bà Trần Thị L.
- Đình chỉ một phần nội dung yêu cầu độc lập của ông Nguyễn Văn T và bà Trần Thị L về việc yêu cầu chị G, anh S trả số tiền 14.500.000 đồng (Mười bốn triệu năm trăm nghìn đồng).
Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án nếu người bị thi hành án không trả số tiền nêu trên thì người bị thi hành án còn phải trả cho người được thi hành án thêm khoản tiền lãi theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015 tương ứng với thời gian chậm trả tại thời điểm trả nợ.
- Về án phí dân sự sơ thẩm:
- Buộc chị Mai Thị Hồng G phải nộp án phí là 59.572.856 đồng. Chị G được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 4.175.000 đồng theo biên lai thu số 0000797 ngày 19-10-2021 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang, chị G còn phải nộp thêm 55.397.856 đồng (Năm mươi lăm triệu ba trăm chín mươi bảy nghìn tám trăm năm mươi sáu đồng).
- Buộc anh Nguyễn Văn S phải nộp án phí là 76.072.856 đồng. Anh S được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 8.250.000 đồng theo biên lai thu số 0000851 ngày 14-6-2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang, anh S còn phải nộp thêm 67.822.856 đồng (Sáu mươi bảy triệu tám trăm hai mươi hai nghìn tám trăm năm mươi sáu đồng).
- Về chi phí tố tụng: Buộc anh Nguyễn Văn S có nghĩa vụ hoàn trả lại cho chị Mai Thị Hồng G số tiền 21.869.085 đồng (Hai mươi mốt triệu tám trăm sáu mươi chín nghìn không trăm tám mươi lăm đồng).
“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014”.
7. Quyền kháng cáo: Chị Mai Thị Hồng G và anh Nguyễn Văn S có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Ông Nguyễn Văn T và bà Trần Thị L vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
|
Nơi nhận:
|
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Tạ Thị Xuân |
Bản án số 66/2025/HNGĐ-ST ngày 30/09/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 TỈNH AN GIANG về tranh chấp ly hôn và chia tài sản chung
- Số bản án: 66/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn và chia tài sản chung
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/09/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: * Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn và chia tài sản chung của chị Mai Thị Hồng G đối với anh Nguyễn Văn S
