Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 13 - ĐẮK LẮK

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 66/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 30/9/2025

Về việc “tranh chấp ly hôn”.

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 13 - ĐẮK LẮK

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: bà Cao Thị Thu Hà;

Các Hội thẩm nhân dân: ông Phạm Hoàn Thiện và ông Trương Trọng Lam.

Thư ký phiên tòa: bà Lê Thị Cẩm Thoang – Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 13 – Đắk Lắk.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 13 – Đắk Lắk tham gia phiên tòa: bà Huỳnh Tuyết Nhi – Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 9 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 13 –Đắk Lắk xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 36/2025/TLST-HNGĐ ngày 25 tháng 7 năm 2025 về việc “tranh chấp ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 60/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 29 tháng 8 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 43/2025/QĐST-HNGĐ ngày 15/9/2025 giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: chị Bùi Hồng Lên Ú, sinh năm 2002; địa chỉ: thôn Q, xã P, tỉnh Đắk Lắk. có đơn xin xét xử vắng mặt.
  2. Bị đơn: anh Nguyễn Thanh T, sinh năm 1997; địa chỉ: thôn P, xã P, tỉnh Đắk Lắk. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và tài liệu có tại hồ sơ nguyên đơn chị Bùi Hồng Lên Ú trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: chị Ú và anh T tự nguyện tìm hiểu có đăng ký kết hôn tại UBND xã H (nay là xã P) ngày 09/01/2023. Quá trình chung sống vợ chồng có phát sinh mâu thuẫn vì anh T chơi bài bạc nợ nần nhiều lần không thay đổi. Năm 2024, chị Ú có nộp đơn ly hôn, Tòa án nhân dân huyện Phú Hòa hòa giải thì anh T hứa thay đổi nên chị Ú rút đơn để vợ chồng đoàn tụ. Nhưng sau đó, anh T vẫn tính nào tật đó, nên mâu thuẫn vợ chồng trở nên trầm trọng, vợ chồng sống ly thân 01 năm nay không ai quan tâm đến ai. Nay xác định tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị Ú yêu cầu được ly hôn với anh T.

Về con chung: có 01 con chung là cháu Nguyễn Bùi Kim N, sinh ngày 19/7/2023. Sau khi vợ chồng sống ly thân cháu N do chị Ú trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng do đó yêu cầu được tiếp tục nuôi con và không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: không yêu cầu giải quyết.

Quá trình giải quyết, bị đơn anh Nguyễn Thanh T đã được Tòa án triệu tập và tống đạt các văn bản tố tụng hợp lệ nhưng anh T không đến Tòa và không có đơn trình bày đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, do đó Tòa án nhân dân Khu vực 13 – Đắk Lắk không tiến hành hòa giải được.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 13 – Đắk Lắk phát biểu quan điểm giải quyết vụ án:

Về thủ tục tố tụng: trong quá trình giải quyết vụ án, Hội đồng xét xử, Thư ký đã tuân thủ đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ theo quy định pháp luật. Các đương sự được triệu tập hợp lệ nhưng bị đơn vắng mặt 02 lần không có lý do, đề nghị Toà án tiến hành xét xử theo quy định.

Về nội dung: đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Về quan hệ hôn nhân cho chị Ú được ly hôn anh T; về con chung giao con chung cho chị Ú tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng; về cấp dưỡng nuôi con và về tài sản chung không yêu cầu giải quyết nên không xem xét. Nguyên đơn phải chịu án phí sơ thẩm theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu tài liệu chứng cứ có tại hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa; ý kiến Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng:

[1.1] Nguyên đơn chị Bùi Hồng Lên Ú khởi kiện yêu cầu ly hôn anh Nguyễn Thanh T cư trú tại thôn P, xã P, tỉnh Đắk Lắk. Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự thì Tòa án nhân dân Khu vực 13–Đắk Lắk có thẩm quyền giải quyết vụ án.

[1.2] Bị đơn anh T đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do, chị Ú có đơn xin xét xử vắng mặt. Do đó, căn cứ các Điều 227, 228 và 238 Bộ luật tố tụng dân sự, HĐXX xét xử vắng mặt các đương sự.

[2] Về nội dung:

[2.1] Về quan hệ hôn nhân: chị Ú và anh T tự nguyện tìm hiểu nhau, đi đến hôn nhân và được Ủy ban nhân dân xã H (nay là xã P, tỉnh Đắk Lắk) cấp Giấy chứng nhận kết hôn Số 04/2023 ngày 09/01/2023 là hôn nhân hợp pháp.

Quá trình chung sống vợ chồng chị Ú, anh T xảy ra nhiều mâu thuẫn vì lý do anh T chơi bời gây ra nợ nần nhiều lần, dù chị Ú đã nhiều lần bỏ qua nhưng anh T không thay đổi. Chị Ú đã từng nộp đơn giải quyết ly hôn tại Tòa án nhân dân huyện Phú Hòa, tại đơn trình bày ngày 01/01/2024, anh T thừa nhận có ăn chơi gây ra nợ nần nên chị Ú mới nộp đơn ly hôn, anh T hứa tu chí làm ăn và mong muốn vợ chồng đoàn tụ để cùng nuôi dạy con nên chị Ú rút đơn khởi kiện. Tuy nhiên, sau đó anh T vẫn không thay đổi do đó vợ chồng đã sống ly thân 01 năm nay không ai quan tâm đến ai. Quá trình giải quyết tại Tòa, anh T đã được triệu tập và tống đạt các văn bản tố tụng hợp lệ nhưng không đến Tòa án để hòa giải và giải quyết mâu thuẫn là không quan tâm níu kéo, hàn gắn, chứng tỏ mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, do đó cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Ú được ly hôn với anh T

[2.2] Về con chung: có 01 con chung cháu Nguyễn Bùi Kim N, sinh ngày 19/7/2023. Sau khi vợ chồng sống ly thân thì cháu N do chị Ú trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng. Xét thấy cháu N hiện nay dưới 36 tháng tuổi, do đó để đảm bảo cho cháu được ổn định về chỗ ở, phát triển đầy đủ cả về thể chất lẫn tinh thần thì cần giao cháu N cho chị Ú tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng. Chị Ú không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con nên HĐXX không xem xét.

Anh T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở. Khi cần thiết các bên có quyền yêu cầu thay đổi việc nuôi con chung hoặc mức cấp dưỡng nuôi con chung.

[2.3] Về tài sản chung: không yêu cầu giải quyết nên HĐXX không xem xét.

[3] Về án phí: căn cứ Điều 27 nghị quyết 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí, lệ phí Tòa án: chị Ú phải chịu 300.000 đồng án phí về hôn nhân.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; các Điều 147, 227, 228 và 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Nghị quyết số 01/2025/NQ-HĐTP ngày 27/6/2025 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về tiếp nhận nhiệm vụ, thực hiện thẩm quyền của Tòa án nhân dân.

Căn cứ Điều 51, 56, 57, 82, 83, 84, 110 Luật Hôn nhân và gia đình;

Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Bùi Hồng Lên Ú.

  1. Về quan hệ hôn nhân: chị Bùi Hồng Lên Ú được ly hôn anh Nguyễn Thanh T.
  2. Về con chung: giao con chung cháu Nguyễn Bùi Kim N, sinh ngày 19/7/2023 cho chị Bùi Hồng Lên Ú tiếp tục chăm sóc nuôi dưỡng.

Anh T không phải cấp dưỡng nuôi con và có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở. Khi cần thiết các bên có quyền yêu cầu thay đổi việc nuôi con chung hoặc mức cấp dưỡng nuôi con chung.

3. Về án phí: chị Bùi Hồng Lên Ú phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm, được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tiền số 0002288 ngày 25/7/2025 của cơ quan THADS tỉnh Đ.

4. Quyền kháng cáo: nguyên đơn, bị đơn vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Đắk Lắk;
  • - VKSND tỉnh Đắk Lắk;
  • - VKSND Khu vực 13- Đắk Lắk;
  • - Phòng THADS Khu vực 13- Đắk Lắk;
  • - Các đương sự;
  • - UBND xã Phú Hòa 1;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Cao Thị Thu Hà

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 66/2025/HNGĐ-ST ngày 30/09/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 13 - ĐẮK LẮK về tranh chấp ly hôn

  • Số bản án: 66/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: tranh chấp ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/09/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 13 - ĐẮK LẮK
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Út - Tâm tranh chấp ly hôn
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger