|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TP THÁI NGUYÊN TỈNH THÁI NGUYÊN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 66/2025/HNGĐ-ST Ngày: 30/6/2025 Về việc ly hôn. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN- TỈNH THÁI NGUYÊN
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- * Thẩm phán, Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Tứ Xuân
- * Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Trần Thanh Vân
- 2. Bà Nguyễn Thị Thúy Mai
- * Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Phan Thị Ngọc Huyền - Cán bộ Toà án nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên.
- * Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên: Bà Hoàng Thị Diệu Ngọc - Kiểm sát viên.
Ngày 30/6/2025, tại Hội trường Toà án nhân dân thành phố Thái Nguyên tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số 205/2025/TLST- HNGĐ ngày 15 tháng 4 năm 2025 về việc “ly hôn” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 63/2025/QĐXX- ST ngày 04/6/2025 giữa các đương sự:
- * Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị D, sinh năm 1981. Có mặt
- * Bị đơn: Anh Lê Văn H, sinh năm 1977. Vắng mặt lần hai
Cùng nơi cư trú: Xóm X, xã Đ, TP T, tỉnh Thái Nguyên
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn xin ly hôn, các bản khai và tại phiên tòa chị Nguyễn Thị D trình bày: Chị và anh Lê Văn H kết hôn năm 1998 tại UBND xã Đ, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên. Thời gian đầu chung sống vợ chồng hạnh phúc, đến năm 2021 thì nảy sinh mâu thuẫn và đến đầu năm 2024 thì càng trầm trọng, nguyên nhân do anh H không chịu làm ăn, chơi bời, nợ nần, chị đã nhiều lần phải trả nợ thay và khuyên nhủ nhưng anh H không thay đổi dẫn đến việc cãi vã. Chị đã dọn ra ngoài sinh sống, vợ chồng sống ly thân từ tháng 4/2024 đến nay. Chị D nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn để sớm ổn định cuộc sống.
Về con chung: Chị D khai vợ chồng có 02 con chung là Lê Quý Đ, sinh ngày 12/02/2001 và Lê Thị Thủy T, sinh ngày 10/9/2011. Khi ly hôn, chị có nguyện vọng nuôi dưỡng con chung là cháu Lê Thị Thủy T cho đến khi cháu đủ
1
18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác, cháu Đ đã trên 18 tuổi không đề nghị giải quyết. Về cấp dưỡng nuôi con: Chị không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con. Về khả năng nuôi con: Chị D đang làm tại trung tâm C thu nhập từ lương là 6-7 triệu đồng, ngoài ra còn được thêm tiền hoa hồng, tổng thu nhập là khoảng 15 triệu/ tháng. Sau khi ly hôn, chị và con sẽ về nhà ngoại sinh sống, đảm bảo chỗ ở và sinh hoạt cho con.
Tài sản chung, công nợ chung: Không có. Không đề nghị giải quyết.
Sau khi thụ lý vụ án, Toà án đã tiến hành triệu tập, đồng thời tiến hành hòa giải nhưng bị đơn không hợp tác, vắng mặt tại các phiên hòa giải và xét xử. Vì vậy, vụ án phải được đưa ra xét xử ngày hôm nay.
Trong phần tranh tụng, chị D giữ nguyên quan điểm khởi kiện là đề nghị được ly hôn với anh H. Về con chung: Chị D có nguyện vọng nuôi dưỡng con là Lê Thị Thủy T, sinh ngày 10/9/2011 và không đề nghị anh H cấp dưỡng nuôi con, cháu Đ đã trên 18 tuổi chị không đề nghị giải quyết. Tài sản chung, công nợ chung không có, không yêu cầu giải quyết.
Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án: Căn cứ vào Điều 21; Điều 262 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Về tố tụng: Thẩm phán đã chấp hành đúng quy định về thẩm quyền của mình theo Điều 48 BLTTDS; Tuân thủ quy định về trình tự, tố tụng tại phiên tòa; Hội đồng xét xử đã chấp hành đúng các quy định của BLTTDS. Người tham gia tố tụng đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định tại Điều 70, 71, 72 BLTTDS.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Nguyễn Thị D, cho chị D được ly hôn với anh Lê Văn H. Về con chung: giao con chung Lê Thị Thủy T, sinh ngày 10/9/2011 cho chị D trực tiếp nuôi dưỡng. Đối với con chung là Lê Quý Đ đã trên 18 tuổi nên không giải quyết. Không giải quyết vấn đề cấp dưỡng do các bên không yêu cầu. Tài sản chung, công nợ chung không có. Buộc chị D nộp án phí dân sự sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà Hội đồng xét xử nhận định:
- Về tố tụng: Nguyên đơn, bị đơn đều đang cư trú tại thành phố T, tỉnh Thái Nguyên. Căn cứ Điều 28; Điều 35, Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên là đúng quy định. Anh H vắng mặt lần thứ hai tại phiên tòa nên căn cứ khoản 2 Điều 227 BLTTDS, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt bị đơn. Các tài liệu chứng cứ do nguyên đơn cung cấp cho Tòa án đều đảm bảo theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về quan hệ hôn nhân: Quan hệ hôn nhân giữa chị Nguyễn Thị D và anh Lê Văn H là hợp pháp. Quá trình chung sống chị D và anh H phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung, anh
2
H nợ nần, chơi bời dẫn đến vợ chồng cãi vã, anh chị ly thân từ tháng 4/2024 đến nay. Chị D xác định không còn tình cảm với anh H mâu thuẫn vợ chồng đã ở mức trầm trọng và đề nghị được ly hôn. Bị đơn, anh H không hợp tác, vắng mặt tất cả các buổi triệu tập, hòa giải, xét xử, mặc dù đã được tống đạt hợp lệ. Như vậy, có thể khẳng định mâu thuẫn vợ chồng giữa chị D và anh H đã ở mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Việc chị D đề nghị ly hôn là có căn cứ theo quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân gia đình nên chấp nhận.
- Về con chung: Chị Nguyễn Thị D và anh Lê Văn H có 02 con chung là cháu Lê Quý Đ, sinh ngày 12/02/2001 và cháu Lê Thị Thủy T, sinh ngày 10/9/2011. Hội đồng xét xử thấy, chị D có nguyện vọng nuôi con chung là Lê Thị Thủy T. Hiện chị D đang làm việc tại trung tâm C, tổng thu nhập là khoảng 15 triệu/ tháng. Cháu Thủy T có đơn xin ở với chị D. Anh H không có bất cứ ý kiến gì về vấn đề ly hôn cũng như con chung nên để đảm bảo sự ổn định và phát triển của con nhỏ, giao cháu T cho chị D trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác. Cháu Lê Quý Đ đã trên 18 tuổi, có cuộc sống riêng nên Hội đồng xét xử không giải quyết. Việc cấp dưỡng nuôi con Tòa án không giải quyết do nguyên đơn không yêu cầu.
- Về tài sản chung, công nợ chung: Không có, không giải quyết.
- Về án phí: Chị D phải nộp án dân sự sơ thẩm vào ngân sách nhà nước.
Xét ý kiến đề nghị của đại diện Viện kiểm sát về nội dung vụ án là có căn cứ chấp nhận. Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ các Điều 28; Điều 35, Điều 39; Điều 147; khoản 2 Điều 227 BLTTDS năm 2015. Áp dụng Điều 56; Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014; Luật Phí và lệ phí năm 2016; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu án phí và lệ phí Toà án.
Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Nguyễn Thị D. Cho chị Nguyễn Thị D được ly hôn với anh Lê Văn H.
- Về con chung: Giao con chung là Lê Thị Thủy T, sinh ngày 10/9/2011 cho chị D trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc cho đến khi cháu T đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác. Anh H được quyền đi lại thăm nom con chung. Con lớn Lê Quý Đ đã trên 18 tuổi, Hội đồng xét xử không giải quyết.
Việc cấp dưỡng nuôi con: Không giải quyết do nguyên đơn không yêu cầu.
- Về tài sản chung, công nợ chung: Không có. Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
3
- Án phí: Chị Nguyễn Thị D phải nộp 300.000₫ (Ba trăm ngàn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm sung quỹ Nhà nước được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí sang theo biên lai thu số 0000943 ngày 15/4/2025 của Chi Cục thi hành án dân sự thành phố Thái Nguyên.
- Quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.
|
Nơi nhận:
|
T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Thị Tứ Xuân |
4
5
Bản án số 66/2025/HNGĐ-ST ngày 30/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN về ly hôn
- Số bản án: 66/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/06/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp ly hôn giữa chị Nguyễn Thị D và anh Lê Văn H
