|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN CÁT TỈNH BÌNH DƯƠNG Bản án số: 66/2025/HNGĐ-ST Ngày: 27-6-2025 V/v “Ly hôn” |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN CÁT, TỈNH BÌNH DƯƠNG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Phan Hồng Diễm Phúc.
Các Hội thẩm nhân dân.
- Bà Nguyễn Kim Lý.
- Bà Trần Thị Ngọc Hạnh.
Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thị Hương Giang – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thủy– Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số: 389/2025/TLST-HNGĐ ngày 03 tháng 6 năm 2025 về việc “Ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 98/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 18 tháng 6 năm 2025, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ông Trần Văn K, sinh năm 1995; nơi cư trú: Ấp C, xã H, huyện T, tỉnh Cà Mau; tạm trú: Nhà trọ N1, đường H, khu phố F, phường T, thành phố B, tỉnh Bình Dương. Có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.
Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Bích N, sinh năm 1995; nơi cư trú: Ấp L, xã K, huyện K, tỉnh Kiên Giang; tạm trú: Nhà T, đường N, tổ A, khu phố C, phường M, thành phố B, tỉnh Bình Dương. Có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, nguyên đơn ông Trần Văn K trình bày:
Ông Trần Văn K và bà Nguyễn Thị Bích N tự nguyện tìm hiểu và chung sống với nhau, có tổ chức lễ cưới và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã K, huyện K, tỉnh Kiên Giang theo giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 28 cấp ngày 6/5/2016, hôn nhân hoàn toàn tự nguyện.
Sau khi kết hôn ông K và bà N sống rất hạnh phúc, cả hai quan tâm chăm sóc nuôi dạy con. Tuy nhiên, sau một thời gian chung sống vợ chồng bắt đầu xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân là do bất đồng quan điểm, không tìm được tiếng nói chung nên thường hay cãi vã, vợ chồng đã cố gắng hàn gắn nhưng không có kết quả. Vợ chồng không còn quan tâm chăm sóc nhau. Bà K và ông T không còn sống chung với nhau từ năm 2018, không ai quan tâm đến ai. Nay ông K xác định tình cảm vợ chồng không còn, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với bà Nguyễn Thị Bích N.
Về con chung: Ông K và bà N không có con chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung, nghĩa vụ chung: Không tranh chấp, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Quá trình tố tụng, bị đơn bà Nguyễn Thị Bích N có văn bản tự khai với những nội dung:
Về quan hệ hôn nhân: Bà N thống nhất với lời trình bày của nguyên đơn về quan hệ hôn nhân và mâu thuẫn vợ chồng. Quá trình chung sống giữa vợ chồng có phát sinh nhiều mâu thuẫn do không tìm được tiếng nói chung. Nay trước yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, bà N đồng ý ly hôn với ông K.
Về con chung: Ông K và bà N không có con chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung, nghĩa vụ chung: Không tranh chấp, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại phiên tòa, nguyên đơn ông Trần Văn K và bị đơn bà Nguyễn Thị Bích N có đơn xin giải quyết vắng mặt.
Ý kiến của Kiểm sát viên:
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của những người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: Từ khi thụ lý vụ án đến khi khai mạc phiên tòa sơ thẩm, Thẩm phán, Thư ký đã tiến hành đúng, đầy đủ các thủ tục tố tụng theo quy định. Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật; bị đơn chưa thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật.
Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Về quan hệ hôn nhân: Ông K được ly hôn với bà N; về con chung: không có không xem xét giải quyết; Về tài sản chung, nợ chung: Do các đương sự không yêu cầu nên Tòa án không xem xét, giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Về quan hệ pháp luật: Ông Trần Văn K và bà Nguyễn Thị Bích N kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã K, huyện K, tỉnh Kiên Giang. Nay ông K có đơn xin ly hôn với bà N. Như vậy, quan hệ pháp luật là “Ly hôn” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự.
[1.2] Về sự tham gia phiên tòa của các đương sự: Ông Trần Văn K và bà Nguyễn Thị Bích N có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở để xét xử vắng mặt ông K và bà N theo quy định tại các điểm a, b khoản 2 Điều 227, khoản 1, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Các vấn đề có tranh chấp: Ông Trần Văn K và bà Nguyễn Thị Bích N là vợ chồng, sống chung có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã K, huyện K, tỉnh Kiên Giang vào ngày 6/5/2016 là hôn nhân hợp pháp được pháp luật công nhận và bảo vệ. Ông K cho rằng vợ chồng chung sống hạnh phúc được thời gian đầu, sau đó phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng bất đồng về quan điểm sống, thường xuyên cãi vã nhau, không còn ai quan tâm đến ai. Vợ chồng không còn chung sống với nhau từ năm 2018 đến nay. Ông K khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết được ly hôn. Tại bản tự khai ngày 13/6/2025 bà N thống nhất mâu thuẫn hôn nhân của ông K và bà N trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, ông T đồng ý ly hôn với bà K, không mong muốn gia đình đoàn tụ gia đình. Ông K và bà N không còn sống chung một nhà, không ai quan tâm đến ai, vợ chồng không cùng nhau xây dựng kinh tế, hạnh phúc gia đình như vậy vợ chồng không còn thương yêu, quý trọng, quan tâm lẫn nhau, người nào chỉ biết bổn phận người đó, bỏ mặc nhau. Hội đồng xét xử xác định hôn nhân của ông K và bà N đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên việc ông K xin ly hôn là có căn cứ, đúng pháp luật theo quy định tại theo Điều 51, Điều 56 Luật hôn nhân gia đình năm 2014.
[3] Về con chung: Các đương sự khai không có con chung nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
[4] Về tài sản chung và nghĩa vụ chung: Các đương sự không có yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
[5] Ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên về nội dung vụ án là có cơ sở nên chấp nhận.
[6] Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Ông Trần Văn K phải nộp theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; điểm a, b khoản 2 Điều 227, khoản 1, khoản 3 Điều 228; khoản 4 Điều 147; Điều 266; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ vào khoản 1 Điều 56, các Điều 57, 81, 82, 83 và Điều 84 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;
Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Trần Văn K đối với bị đơn bà Nguyễn Thị Bích N về việc ly hôn.
Về quan hệ hôn nhân: Ông Trần Văn K được ly hôn với bà Nguyễn Thị Bích N.
Về con chung: Các đương sự khai không có con chung nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản: Các đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
2. Về án phí sơ thẩm: Ông Trần Văn K phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự, được khấu trừ số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng đã nộp theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0003729 ngày 29 tháng 5 năm 2025 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố B, tỉnh Bình Dương.
Nguyên đơn, bị đơn được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phan Hồng Diễm Phúc |
Bản án số 66/2025/HNGĐ-ST ngày 27/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN CÁT, TỈNH BÌNH DƯƠNG về ly hôn
- Số bản án: 66/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/06/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN CÁT, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ông Trương Văn K yêu cầu được ly hôn với bà Nguyễn Thị Bích N
