|
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 – NGHỆ AN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 66/2025/HNGĐ-ST Ngày 26 tháng 11 năm 2025 “V/việc tranh chấp về hôn nhân gia đình” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 - NGHỆ AN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Công Hưng
Các hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Đình Thanh – Bà Phan Thị Nga
Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Tình - Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 6 - Nghệ An.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 6 - Nghệ An tham gia phiên toà: Không tham gia.
Trong ngày 26 tháng 11 năm 2025 tại Tòa án nhân dân Khu vực 6 - Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 117/2025/TLST-HNGĐ ngày 06 tháng 10 năm 2025, về việc Tranh chấp Hôn nhân và gia đình theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số:50/2025/QÐST- HNGĐ ngày 03/11/2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 44/2025/QĐ-HPT ngày 17/11/2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: chị Nguyễn Thị P – sinh ngày 02/01/2000
Địa chỉ: xóm Q, xã V, tỉnh Nghệ An (Có mặt)
- Bị đơn: anh Nguyễn Vĩnh T - sinh ngày 16/02/1996.
Địa chỉ: xóm P, xã V, tỉnh Nghệ An.
(Vắng mặt lần thứ 2 tại phiên tòa không có lý do)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo nội dung đơn khởi kiện, trình bày tại bản khai, ý kiến của nguyên đơn được ghi trong biên bản hòa giải, trình bày tại phiên tòa và bản tự khai, ý kiến của bị đơn được ghi trong biên bản hòa giải thì vụ án có nội dung.
Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị P và anh Nguyễn Vĩnh T đăng ký kết hôn ngày 10/04/2024 tại UBND xã M, huyện Y, tỉnh Nghệ An(nay là xã V, tỉnh Nghệ An). Trước khi kết hôn chị P và anh T có quá trình tìm hiểu, hôn nhân hoàn toàn tự nguyện, không ai ép buộc. Sau ngày kết hôn vợ chồng sống hạnh phúc đến tháng 5 năm 2025 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do chị P và anh T tính tình không hợp nhau, trong cuộc sống chung có nhiều xung đột vợ chồng thường xung đột, cự cãi gay gắt. Anh T đã nhiều lần đánh đập chị P vô cớ.
Mâu thuẫn xảy ra ngày càng sâu sắc hơn, vợ chồng mất tình cảm, tình yêu đối với nhau. Gia đình hai bên đã góp ý, khuyên nhủ động viên, vợ chồng đã tự hòa giải, nhưng vẫn không thể duy trì hôn nhân. Chị P và anh T đã sống ly thân từ tháng 5 năm 2025 cho đến nay. Chị P xác định đã mất hết tình cảm đối với anh T, hôn nhân đã thực sự tan rã, đổ vỡ không thể hàn gắn, chị P đề nghị giải quyết ly hôn anh T để ổn định cuộc sống.
Quá trình viết bản tự khai, hòa giải anh Nguyễn Vĩnh T cũng thống nhất điều kiện kết hôn, quá trình tiến tới hôn nhân giữa chị và chị P đúng như chị P đã trình bày. Theo anh T mâu thuẫn của vợ chồng là những mâu thuẫn nhỏ nhặt trong cuộc sống, chưa đến mức trầm trọng mà vợ chồng phải ly hôn. Nay anh T xác định vẫn đang còn tình cảm với chị P, nên chị P yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với anh T, anh T không đồng ý ly hôn.
Về quan hệ con chung: Vợ chồng có 01 con chung là: Nguyễn Vĩnh Minh K - Giới tính: Nam - sinh ngày 15/09/2024. Từ ngày vợ chồng sống ly thân con chung do chị P trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng. Nếu ly hôn, chị P đề nghị giao con chung cho chị chăm sóc nuôi dưỡng cho đến tuổi trưởng thành và chị P không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con cùng chị. Anh Nguyễn Vĩnh T đề nghị Tòa án giao con chung cho anh chăm sóc nuôi dưỡng cho đến tuổi trưởng thành(đủ 18 tuổi) và anh T cũng không yêu cầu chị P cấp dưỡng nuôi con cùng anh.
Về quan hệ tài sản chung: Chị Nguyễn Thị P, anh Nguyễn Vĩnh T không yêu cầu Tòa án giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1]Về tố tụng: Đây là vụ án tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn, bị đơn đều có nơi cư trú tại xã V, tỉnh Nghệ An nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Khu vực 6 - Nghệ An qui định tại Điều 35 và Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 35 Luật sửa đổi bổ sung Bộ luật tố tụng dân sự năm 2025.
Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng, yêu cầu nguyên đơn, bị đơn có mặt tại tòa án để giải quyết, nhưng bị đơn anh Nguyễn Vĩnh T chỉ chấp hành một lần trong quá trình mở phiên họp và hòa giải, sau đó anh không chấp hành, không hợp tác.
Quyết định đưa vụ án ra xét xử, giấy báo tham gia phiên tòa lần thứ nhất đã được, tống đạt lệ cho các đương sự. Tại phiên tòa lần thứ nhất nguyên đơn có mặt, bị đơn vắng mặt không có lý do, Hội đồng xét xử đã Quyết định hoãn phiên tòa, ấn định về thời gian tiếp tục xét xử vụ án. Tòa án tiếp tục tống đạt, hợp lệ Quyết định hoãn phiên tòa và Giấy báo tham gia phiên tòa lần thứ hai cho các đương sự. Tại phiên tòa lần thứ hai nguyên đơn có mặt, bị đơn tiếp tục vắng mặt không có lý do, Hội đồng xét xử căn cứ điểm b, khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử, tiến hành xét xử vụ án vắng mặt đối với bị đơn.
[2]Về nội dung:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị P, anh Nguyễn Vĩnh T tự nguyện tiến tới hôn nhân, trình tự thủ tục được đảm bảo đúng quy định của pháp luật. Chị P, anh T đã làm thủ tục đăng ký kết hôn tại UBND xã M, huyện Y, tỉnh Nghệ An(nay là xã V, tỉnh Nghệ An) được cấp giấy chứng nhận kết hôn số: 31/2024, ngày 10/04/2024 nên xác định hôn nhân giữa chị P, anh T là hôn nhân hợp pháp.
Mâu thuẫn cơ bản dẫn đến hôn nhân giữa chị P, anh T tan rã, đổ vỡ là do tính tình không hợp nhau. Quá trình sống chung vợ chồng không tìm được tiếng nói chung trong hôn nhân, khắc khẩu khi giao tiếp, các bên xử sự không chuẩn mực đối với nhau. Chị P xác định hôn nhân đã đổ vỡ nên chị đã chủ động sống ly thân cắt đứt các mối quan hệ đối với anh T kể từ tháng 5 năm 2025. Quá trình sống ly thân anh T đã liên lạc hòa giải với chị P để níu kéo hôn nhân nhưng không được chị P chấp nhận. Điều này cho thấy tình cảm chỉ còn ở phía anh T. Xác định hôn nhân giữa chị P, anh T đã thực sự đỗ vỡ, sợi dây gắn kết tình cảm giữa các bên không còn. Nay chị P yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được được ly hôn anh T là có căn cứ, cần áp dụng Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình xử cho chị P được ly hôn anh T.
- Về quan hệ con chung: Vợ chồng có với nhau 01 con chung là Nguyễn Vĩnh Minh K - Giới tính: Nam - sinh ngày 15/09/2024. Từ ngày vợ chồng sống ly thân con chung do chị P và bà ngoại trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng, anh T đi lại thăm nom chăm sóc con chung thường xuyên. Trong nội dung đơn khởi kiện, bản tự khai và tại phiên tòa chị P yêu cầu giao cho chị trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng cho đến tuổi trưởng thành và chị không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con cùng chị. Tại bản tự khai anh T cũng đề nghị giao con chung cho anh trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng cho đến tuổi trưởng thành và anh T cũng không yêu cầu chị P cấp dưỡng nuôi con cùng anh.
Xét thấy: Từ lúc vợ chồng sống ly thân, cháu K ở với chị P, được chi P chăm sóc, con chung phát triển về mọi mặt. Con chung hiện tại chỉ mới hơn 1 tuổi, rất cần sự chăm sóc, nuôi dưỡng của người mẹ. Nên cần giao con chung cho chị P chăm sóc nuôi dưỡng là phù hợp.
- Về cấp dưỡng: Chị P không yêu cầu nên miễn xét.
- Về quan hệ tài sản: Chị Nguyễn Thị P, anh Nguyễn Vĩnh T không yêu cầu tòa giải quyết, nên không xem xét giải quyết.
- Về án phí: Buộc chị Nguyễn Thị P phải nộp án phí ly hôn sơ thẩm.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; khoản 2, Điều 227; khoản 1 Điều 273; khoản 3 Điều 144; khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng Dân sự, Điều 51; 56; khoản 1 Điều 59; Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật hôn nhân và Gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội qui định về mức thu, miễn giảm, thu nộp quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án.
Xử:
- Về quan hệ tình cảm: chị Nguyễn Thị P được ly hôn anh Nguyễn Vĩnh T.
- Về quan hệ con chung:
Giao con chung cháu là Nguyễn Vĩnh Minh K - Giới tính: Nam - sinh ngày 15/09/2024 cho chị Nguyễn Thị P trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng.
Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con cho anh Nguyễn Vĩnh T đến khi có yêu cầu.
Anh Nguyễn Vĩnh T không trực tiếp nuôi con có quyền đi lại, thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không được ai cản trở.
Vì lợi ích của con các bên có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con và yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.
- Về án phí: Buộc chị Nguyễn Thị P nộp 300.000đ(Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm. Án phí chị P phải nộp được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) chị đã nộp tại Phòng thi hành án dân sự Khu vực 6 - Nghệ An theo biên lai nộp tiền số: 0000787 ngày 06/10/2025, chị P đã nộp đủ án phí.
- Quyền kháng cáo: Nguyên đơn có mặt được quyền kháng cáo lên tòa án cấp phúc thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Bị đơn vắng mặt được quyền kháng cáo lên tòa án cấp phúc thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.
|
Nơi nhận:
|
TM: HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Nguyễn Công Hưng |
4
Bản án số 66/2025/HNGĐ-ST ngày 26/11/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 – NGHỆ AN về tranh chấp về hôn nhân gia đình
- Số bản án: 66/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về hôn nhân gia đình
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/11/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 – NGHỆ AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: ly hôn
