Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 66/2025/HNGĐ-ST

Ngày 24-3-2025

V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con

khi ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Vũ Thị Thu Hà

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Nguyễn Thị Luyến

Ông Nguyễn Thanh Hải

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng.

Ngày 24 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng xét xử công khai vụ án thụ lý số 34/2025/TLST-HNGĐ ngày 14 tháng 02 năm 2025 về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 56/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 14 tháng 3 năm 2025 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Hoàng Thị T, sinh năm 1983; nơi đăng ký thường trú: Khu phố A, thị trấn C, huyện C, tỉnh Tây Ninh; nơi ở hiện tại: 2944-271 S, A, BC V4W 3C4, Canada; vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

- Bị đơn: Anh Nguyễn Thanh L, sinh năm 1982; nơi đăng ký thường trú: Ấp B, xã T, huyện C, tỉnh Tây Ninh, nơi làm việc: Lô 78, khu tái định cư, tổ dân phố số E, phường T (xã B cũ), quận A, thành phố Hải Phòng; vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và các bản tự khai đã được hợp pháp hoá tại Tổng Lãnh sự quán, nguyên đơn là chị Hoàng Thị T trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Nguyễn Thanh L kết hôn trên cơ sở tự nguyện, và có đăng ký kết hôn vào ngày 10/10/2024 tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện C, tỉnh Tây Ninh. Quá trình chung sống vợ chồng phát sinh mâu thuẫn do chị T sang Canada sinh sống và làm việc, anh chị không có nhiều thời gian ở bên nhau nên vợ chồng thường xảy ra bất đồng quan điểm sống, cuộc sống hôn nhân không hòa hợp. Anh chị đã nhiều lần nói chuyện với nhau để hàn gắn tình cảm nhưng không có kết quả. Nay chị T nhận thấy mâu thuẫn vợ chồng anh chị đã thực sự trầm trọng, không thể hàn gắn được, chị đề nghị Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng là Tòa án nơi làm việc của bị đơn anh Nguyễn Thanh L giải quyết cho chị được ly hôn với anh Nguyễn Thanh L.

Về con chung: Chị T và anh L có 03 con chung tên là Nguyễn Hoàng P, sinh ngày 18/12/2003; Nguyễn Hoàng C, sinh ngày 01/9/2005 và Nguyễn Phúc H, sinh ngày 29/8/2015. Hiện 02 con Nguyễn Hoàng P và Nguyễn Hoàng C đã thành niên, không yêu cầu Toà án giải quyết. Ly hôn, chị T đề nghị được trực tiếp nuôi dưỡng con Nguyễn Phúc H. Nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con anh chị tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung: Chị T không yêu cầu Toà án giải quyết.

Bị đơn anh Nguyễn Thanh L trong quá trình giải quyết vụ án, trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Anh và chị Hoàng Thị T chung sống trên cơ sở tự nguyện từ năm 2003 nhưng đến ngày 10/10/2024, anh chị mới đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện C, tỉnh Tây Ninh. Sau khi kết hôn, anh chị chung sống hòa thuận được thời gian đầu thì phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, cuộc sống hôn nhân không hòa hợp. Mặc khác do chị T sang Canada làm việc từ tháng 9 năm 2023 nên anh chị không quan tâm, chia sẻ với nhau, tình cảm vợ chồng ngày càng phai nhạt. Vợ chồng đã nhiều lần hàn gắn tình cảm nhưng không đạt kết quả mà mâu thuẫn ngày càng trầm trọng. Hiện anh chị đã sống ly thân. Nay chị T có đơn xin ly hôn với anh, anh xác định tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn vợ chồng không thể hàn gắn được nên anh đồng ý ly hôn với chị T. Anh đề nghị Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng là Tòa án nơi làm việc của anh có thẩm quyền giải quyết vụ án ly hôn giữa anh và chị T.

Về con chung: Anh và chị T có 03 con chung tên là Nguyễn Hoàng P, sinh ngày 18/12/2003; Nguyễn Hoàng C, sinh ngày 01/9/2005 và Nguyễn Phúc H, sinh ngày 29/8/2015. Hiện 02 con Nguyễn Hoàng P, Nguyễn Hoàng C đã thành niên, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Ly hôn, anh đề nghị Tòa án giao con Nguyễn Phúc H cho chị T trực tiếp nuôi. Nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con anh chị tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung: Anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại phiên tòa, chị Hoàng Thị T và anh Nguyễn Thanh L đều vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt, Chủ tọa phiên tòa đã công bố lý do đương sự vắng mặt, công bố tóm tắt nội dung vụ án và tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án thể hiện quan điểm giải quyết vụ án của các đương sự.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi xem xét các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

- Về tố tụng:

[1] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Đây là vụ án về ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn. Tại thời điểm thụ lý vụ án, nguyên đơn Hoàng Thị T đang sinh sống ở nước ngoài, bị đơn anh Nguyễn Thanh L đang làm việc tại quận A, thành phố Hải Phòng. Do vậy, theo quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 37, điểm a khoản 1 Điều 39, điểm d khoản 1 Điều 469 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Điều 127 Luật Hôn nhân và gia đình, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng.

[2] Về việc vắng mặt của đương sự: Tại phiên tòa, chị Hoàng Thị T và anh Nguyễn Thanh L đều vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Căn cứ khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 và Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.

- Về nội dung:

[3] Về quan hệ hôn nhân: Lời khai của nguyên đơn, bị đơn và các tài liệu có trong hồ sơ thể hiện chị Hoàng Thị T và anh Nguyễn Thanh Lâm C1 sống trên cơ sở tự nguyện từ năm 2003 nhưng đến ngày 10/10/2024 anh chị mới thực hiện thủ tục đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện C, tỉnh Tây Ninh. Vì vậy, quan hệ hôn nhân giữa chị Hoàng Thị T và anh Nguyễn Thanh L là hôn nhân hợp pháp từ ngày 10/10/2024 theo Luật Hôn nhân và gia đình. Quá trình chung sống vợ chồng phát sinh mâu thuẫn do anh chị bất đồng quan điểm, cuộc sống hôn nhân không hòa hợp; từ tháng 9 năm 2023 đến nay, chị T sang Canada sinh sống và làm việc, anh chị sống ly thân đến nay. Chị T và anh L đều đề nghị Tòa án giải quyết cho anh chị ly hôn. Nay xét thấy mâu thuẫn vợ chồng anh chị đã thực sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Vì vậy, cần căn cứ vào khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 127 của Luật Hôn nhân và gia đình xử chấp nhận yêu cầu của chị Hoàng Thị T được ly hôn với anh Nguyễn Thanh L.

[4] Về con chung: Chị Hoàng Thị T và anh Nguyễn Thanh L có 03 con chung tên là Nguyễn Hoàng P, sinh ngày 18/12/2003; Nguyễn Hoàng C, sinh ngày 01/9/2005 và Nguyễn Phúc H, sinh ngày 29/8/2015. Hiện 02 con Nguyễn Hoàng P, Nguyễn Hoàng C đã thành niên, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết. Xét thấy, chị T là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Nguyễn Phúc H ở Canada và cháu H có nguyện vọng được ở với chị T. Quá trình giải quyết vụ án, chị T và anh L thống nhất thoả thuận giao con Nguyễn Phúc H cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp với quy định của pháp luật, đảm bảo được mọi quyền lợi của con chung nên cần được chấp nhận. Vì vậy, cần căn cứ vào các Điều 58, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình, xử giao con Nguyễn Phúc H, sinh ngày 29/8/2015 cho chị Hoàng Thị T trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi con đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con anh chị tự thỏa thuận, không yêu cầu giải quyết nên tạm thời Toà án không xem xét, giải quyết.

[5] Về tài sản chung: Chị Hoàng Thị T và anh Nguyễn Thanh L không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

[6] Về án phí ly hôn sơ thẩm: Chị Hoàng Thị T phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định pháp luật.

[7] Về quyền kháng cáo: Chị Hoàng Thị T và anh Nguyễn Thanh L được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 37; điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 238, điểm d khoản 1 Điều 469, khoản 2 Điều 478, Điều 479 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ khoản 1 Điều 9, Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 127 của Luật Hôn nhân và gia đình;

Căn cứ khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội,

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Hoàng Thị T:

- Về quan hệ hôn nhân: Chị Hoàng Thị T được ly hôn anh Nguyễn Thanh L.

- Về con chung: Giao con tên là Nguyễn Phúc H, sinh ngày 29/8/2015 cho chị Hoàng Thị T trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi con đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật.

Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con: Chị T và anh L tự thỏa thuận, không yêu cầu nên Hội đồng xét xử tạm thời không xem xét, giải quyết.

Về tài sản chung: Chị Hoàng Thị T và anh Nguyễn Thanh L không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

2. Về án phí ly hôn sơ thẩm: Chị Hoàng Thị T phải nộp 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm đã nộp là 300.000 đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0001074 ngày 14 tháng 02 năm 2025 của Cục Thi hành án dân sự thành phố Hải Phòng. Chị T đã nộp đủ án phí ly hôn sơ thẩm.

3. Về quyền kháng cáo:

Nguyên đơn chị Hoàng Thị T được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.

Bị đơn anh Nguyễn Thanh L được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

4. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

- VKSND TP Hải Phòng;

- Cục THADS TP Hải Phòng;

- UBND xã Thành Long, huyện Châu Thành,

tỉnh Tây Ninh (ĐKKH ngày 10/10/2024);

- Các đương sự;

- Lưu: HCTP, HS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Vũ Thị Thu Hà

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 66/2025/HNGĐ-ST ngày 24/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn

  • Số bản án: 66/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ly hôn T-L
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger