|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀM THUẬN BẮC TỈNH BÌNH THUẬN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 66 /2025/HNGĐ-ST
Ngày: 23/6/2025
“Về việc không công nhận vợ chồng”.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀM THUẬN BẮC,
TỈNH BÌNH THUẬN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Ung Thanh Quang
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Trần Văn Em
- Ông Đặng Văn minh
Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Hải – Thư ký Toà án nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Sáu – Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 138/2025/TLST-HNGĐ ngày 16/4/2025, về việc: “Không công nhận vợ chồng”; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 35/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 21/5/2025 và quyết định hoãn phiên tòa số 48/2025/QĐST-HNGĐ ngày 05/6/2025, giữa các đương sự:
*Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị T – sinh năm 1968 (có mặt)
Địa chỉ: Thôn D, xã H, huyện H, tỉnh Bình Thuận.
*Bị đơn: Bùi Văn D – sinh năm 1965 (vắng mặt)
Địa chỉ: Thôn D, xã H, huyện H, tỉnh Bình Thuận.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện ngày 16/4/2025 cũng như các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Nguyễn Thị T trình bày: Bà và ông Bùi Văn D không có tổ chức cưới hỏi gì nhưng có tình cảm với nhau rồi chung sống như vợ chồng vào năm 1989 không có đăng ký kết hôn tại cơ quan có thẩm quyền. Trong quá trình chung sống, có hai con tên Bùi Thị Ngọc D1 – sinh năm 1990 và Bùi Thị Ngọc D2 – sinh năm 2000, sau khi sinh cháu Bùi Thị Ngọc D2 và năm 2000 thì bà và ông Bùi Văn D tự ý bỏ nhau không chung sống nữa vì ông D đã có gia đình trước rồi, bà không muốn làm mất hạnh phúc gia đình của ông D, bà thấy việc chung sống không thể kéo dài được nữa nên tự ý bỏ nhau. Do trong sổ hộ khẩu của bà có tên con là Bùi Thị Ngọc D1 – sinh năm 1990 và Bùi Thị Ngọc D2 – sinh năm 2000 nên khi bà muốn vay tiền ngân hàng hay làm việc khác thì cơ quan chức năng đòi hỏi phải có ông Bùi Văn D tham gia làm khó khăn cho bà. Nay bà xác định tình cảm yêu thương không còn nữa và yêu cầu Tòa án không công nhận bà và ông Bùi Văn D là vợ chồng. Về con cái: Bà và ông D có 02 người con chung tên là: Bùi Thị Ngọc D1 – sinh năm 1990 và Bùi Thị Ngọc D2 – sinh năm 2000. Hiện nay con đã trưởng thành không yêu cầu giải quyết. Về nợ và tài sản không yêu cầu giải quyết.
*Bị đơn ông Bùi Văn D vắng mặt không trình bày gì.
Tại phiên tòa Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án. Ý kiến về việc giải quyết vụ án đề nghị: Về quan hệ hôn nhân: Không công nhận bà Nguyễn Thị T và ông Bùi Văn D là vợ chồng.
Trong thời hạn chuẩn bị xét xử vụ án, Tòa án đã nhiều lần tổ chức phiên hòa giải để các bên đương sự tự thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ án, nhưng ông Bùi Văn D vắng mặt nên các đương sự không tự thỏa thuận được với nhau. Các đương sự đề nghị Tòa án đưa vụ án ra xét xử theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định: Sự vắng mặt của ông Bùi Văn D không thuộc trường hợp phải hoãn phiên tòa vì ông Bùi Văn D triệu tập nhiều lần không đến Tòa làm việc. Căn cứ điểm Điều 227, Điều 228, Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đối với ông Bùi Văn D.
[1]Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Tại quyết định đưa vụ án ra xét xử số 35/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 21/5/2025 đã xác định quan hệ pháp luật tranh chấp là “Không công nhận vợ chồng”. Qua thẩm tra tài liệu, chứng cứ và các đương sự xác định yêu cầu của mình tại phiên Tòa, Hội đồng xét xử thấy rằng tranh chấp là “Không công nhận vợ chồng” được quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Bị đơn có hộ khẩu thường trú tại xã H, huyện H, tỉnh Bình Thuận nên theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 thì Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc có thẩm quyền giải quyết.
[2]Về yêu cầu của các đương sự, Hội đồng xét xử xét thấy như sau: Theo lời khai của nguyên đơn tại phiên tòa hôm nay thì bà Nguyễn Thị T và ông Bùi Văn D chung sống như vợ chồng một thời gian từ năm 1989 đến năm 2000 nhưng không đăng ký kết hôn, sau đó kể từ năm 2000 đến nay không còn chung sống với nhau nữa. Nay bà T xác định không còn tình cảm gì với ông Bùi Văn D nên bà T đề nghị Tòa án không công nhận bà và ông Bùi Văn D là vợ chồng là phù hợp pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[3]Về con chung: Bà Nguyễn Thị T và ông Bùi Văn D chung sống có có 02 con là Bùi Thị Ngọc D1 – sinh năm 1990 và Bùi Thị Ngọc D2 – sinh năm 2000 đã đủ 18 tuổi không yêu cầu giải quyết. Về nợ và tài sản: không có, không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.
[4] Về án phí: Căn cứ khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bà Nguyễn Thị T là nguyên đơn phải chịu 300.000đ án phí ly hôn sơ thẩm. Ông Bùi Văn D không phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1.Căn cứ:
- Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 238; Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
- Khoản 1 Điều 9 và Khoản 1 Điều 14 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
- Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
2.Tuyên xử:
Về quan hệ hôn nhân: Không công nhận bà Nguyễn Thị T và ông Bùi Văn D là vợ chồng.
3.Về án phí, lệ phí:
Bà Nguyễn Thị T là nguyên đơn phải chịu 300.000đ án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được khấu trừ 300.000đ tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án theo biên lai thu tiền số 0003193 ngày 16/4/2025 nên không phải nộp nữa.
Ông Bùi Văn D không phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm.
4.Về quyền kháng cáo:
Nguyên đơn bà Nguyễn Thị T có mặt có quyền làm đơn kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Ông Bùi Văn D vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày tính kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai tại địa phương.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Ung Thanh Quang |
Bản án số 66/2025/HNGĐ-ST ngày 23/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀM THUẬN BẮC, TỈNH BÌNH THUẬN về không công nhận vợ chồng
- Số bản án: 66/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Không công nhận vợ chồng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 23/06/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀM THUẬN BẮC, TỈNH BÌNH THUẬN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: không công nhận quan hệ vợ chồng
