|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 10- NINH BÌNH |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bán án số 66/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 20 - 11- 2025
V/v: “Ly hôn giữa, tranh chấp về nuôi con
khi ly hôn giữa chị Tâm và Ngh
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 10 – NINH BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Ngọc Long.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Phạm Thế Quang;
Ông Nguyễn Văn Bốn.
- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Thế Vinh - Thư ký viên Tòa án nhân dân khu vực 10 – Ninh Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 10 – Ninh Bình tham gia phiên toà: Bà Đào Thị Yến - Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 11 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 10 – Ninh Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 88/2025/TLST-HNGĐ ngày 13 tháng 10 năm 2025 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 35/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 12 tháng 11 năm 2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Phan Thị T, sinh năm 1987; địa chỉ: Xóm L, xã X, tỉnh Ninh Bình; “vắng mặt”
- Bị đơn: Anh Phạm Văn N, sinh năm 1988; địa chỉ Xóm L, xã X, tỉnh Ninh Bình “vắng mặt”
(Tại phiên toà chị T, anh N vắng mặt có đơn xin vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 03/09/2025, quá trình làm việc tại Tòa án nguyên đơn chị Phan Thị T trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Phạm Văn N tự nguyện tìm hiểu và kết hôn, đã được Ủy ban nhân dân xã X, huyện X, tỉnh Nam Định nay là xã X, tỉnh Ninh Bình cấp giấy chứng nhận kết hôn ngày 07/05/2008. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hòa thuận hạnh phúc tại nhà bố mẹ đẻ anh N tại thôn L, xã X, tỉnh Ninh Bình. Hiện nay vợ chồng mâu thuẫn do vợ chồng bất đồng quan điểm sống. Nay chị xác định không còn tình cảm với anh N, hôn nhân không có hạnh phúc nên nguyện vọng của chị xin được ly hôn anh N.
Về con chung: Vợ chồng có ba con chung là cháu Phạm Quốc T1 sinh ngày 11/7/2008, cháu Phạm Phương V, sinh ngày 06/12/2012 và cháu Phạm Quốc Đ, sinh ngày 01/09/2014. Hiện cháu T1 và cháu Đ đang ở với anh N, cháu V đang ở với chị. Tại đơn đơn khởi kiện và bản tự khai của chị T, chị T xin nhận nuôi cháu V nhường quyền nuôi cháu T1 và cháu Đ cho anh N. Hai bên không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung, nghĩa vụ về tài sản: Vợ chồng không có tài sản chung, không cho ai vay nợ và cũng không nợ gì của ai nên chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại bản tự khai bị đơn anh Phạm Văn N trình bày: Anh và chị T tự nguyện tìm hiểu, tự nguyện kết hôn, được UBND xã X, huyện X, tỉnh Nam Định nay là xã X, tỉnh Ninh Bình cấp giấy chứng nhận kết hôn. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc, nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, chị T tự ý bỏ về nhà mẹ đẻ từ năm 2024 đến nay. Nay chị T làm đơn xin ly hôn, quan điểm của anh Nghĩa L cũng đồng ý ly hôn để giải phóng cho nhau.
Về con chung: Chị T và anh N có 3 con chung là các cháu Phạm Quốc T1 sinh ngày 11/7/2008, cháu Phạm Phương V, sinh ngày 06/12/2012 và cháu Phạm Quốc Đ, sinh ngày 01/09/2014. Anh N xin nhận nuôi cháu T1 và cháu Đ; để chị T nuôi dưỡng cháu V; hai bên không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung: Vợ chồng không có tài sản chung nên anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Kết quả thu thập chứng cứ tại Ủy ban nhân dân xã X:
* Về quan hệ hôn nhân: Chị Phan Thị T đăng ký kết hôn với anh Phạm Văn N vào ngày 07/05/2008 tại UBND xã X, huyện X, tỉnh Nam Định nay là xã X, tỉnh Ninh Bình trên cơ sở tự do tìm hiểu, tự nguyện kết hôn. Vợ chồng nảy sinh nhiều mâu thuẫn, bất đồng về quan điểm sống. Nay chị T làm đơn xin ly hôn, anh N cũng đồng ý ly hôn để giải phóng cho nhau. Quan điểm của địa phương là đề nghị Toà án giải quyết cho chị Phan Thị T và anh Phạm Văn N được ly hôn.
* Về con chung: Chị Phan Thị T và anh Phạm Văn N có 03 con chung: Cháu Phạm Quốc T1 sinh ngày 11/7/2008, cháu Phạm Phương V, sinh ngày 06/12/2012 và cháu Phạm Quốc Đ, sinh ngày 01/09/2014. Quan điểm của địa phương đề nghị Tòa án xem xét giải quyết theo đề nghị của các đương sự trên cơ sở quy định của pháp luật để đảm bảo quyền lợi cho các bên, cũng như đảm bảo quyền lợi tốt nhất về mọi mặt cho con chung.
Về tài sản, công nợ: Chị Phan Thị T và anh Phạm Văn N không yêu cầu Toà án giải quyết.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 10 – Ninh Bình tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến: Về việc chấp hành pháp luật tố tụng, quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán trong giai đoạn chuẩn bị xét xử và Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa tại phiên tòa đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Đối với các đương sự đã chấp hành đúng pháp luật tố tụng.
Về việc giải quyết vụ án, căn cứ vào khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình, đề nghị Hội đồng xét xử: Xử ly hôn giữa chị Phan Thị T và anh Phạm Văn N; giao con chung là cháu Phạm Phương V, sinh ngày 06/12/2012 cho chị T nuôi dưỡng, giao con chung cháu Phạm Quốc T1 sinh ngày 11/7/2008 và cháu Phạm Quốc Đ, sinh ngày 01/09/2014 cho anh N nuôi dưỡng. Hai bên không phải cấp dưỡng nuôi con chung và có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung sau khi ly hôn mà không ai được cản trở.
Về án phí: Chị T phải nộp án phí ly hôn theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Các đương sự đã chấp hành theo quy định của pháp luật và có đơn xin xét xử vắng mặt là phù hợp.
[2] Về hôn nhân: Chị T và anh N kết hôn hợp pháp. Cuộc sống vợ chồng phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân là do bất đồng quan điểm, không có tiếng nói chung, nay chị T xin ly hôn anh N nhất trí. Xét thấy mẫu thuẫn giữa chị T và anh Nghĩa L trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên Hội đồng xét xử xử cho ly hôn giữa chị Phan Thị T và anh Phạm Văn Nghĩa L phù hợp và theo quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.
[3] Về con chung: Chị T và anh N có 03 con chung là cháu Phạm Quốc T1 sinh ngày 11/7/2008, cháu Phạm Phương V, sinh ngày 06/12/2012 và cháu Phạm Quốc Đ, sinh ngày 01/09/2014. Hiện cháu T1 và cháu Đ đang ở với anh N, cháu V đang ở với chị T. Trong đơn đề nghị chị T nuôi cháu V và xin nhường quyền nuôi cháu T1 và cháu Đ cho anh N chăm sóc nuôi dưỡng. Hai bên không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Quan điểm của anh N xin nhận nuôi cháu T1 và cháu Đ; để chị T nuôi dưỡng cháu V. Hai bên không phải cấp dưỡng nuôi con chung khi ly hôn. Xét thấy, các đương sự đã thống nhất thoả thuận về việc nuôi con là phù hợp với các Điều 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình.
[4] Về tài sản, nghĩa vụ về tài sản: Do các đương sự xác nhận vợ chồng không có tài sản chung, không vay nợ ai và không cho ai vay nợ, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét giải quyết là phù hợp.
[5] Về án phí: Chị Phan Thị T phải nộp án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
1. Về hôn nhân: Xử ly hôn giữa chị Phan Thị T và anh Phạm Văn N.
2. Về con chung: Giao con chung là cháu Phạm Phương V, sinh ngày 06/12/2012 cho chị Phan Thị T trực tiếp chăm sóc, giáo dục và nuôi dưỡng. Giao 02 con chung là cháu Phạm Quốc T1 sinh ngày 11/7/2008 và cháu Phạm Quốc Đ, sinh ngày 01/09/2014 cho anh Phạm Văn N trực tiếp chăm sóc, giáo dục và nuôi dưỡng. Hai bên không phải cấp dưỡng nuôi con và có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung sau khi ly hôn mà không ai được cản trở.
3. Về án phí: Chị Phan Thị T phải nộp án phí ly hôn là 300.000đ được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000đ đã nộp theo biên lai thu số 0001433 ngày 09/10/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Ninh Bình.
4. Quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Ngọc Long |
Bản án số 66/2025/HNGĐ-ST ngày 20/11/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 10 – NINH BÌNH về ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
- Số bản án: 66/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 20/11/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 10 – NINH BÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: ly hôn
