|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 66/2025/HNGĐ-ST Ngày: 20/6/2025 V/v: Tranh chấp hôn nhân gia đình |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Duy Luân
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Hoàng Thị Len
- Bà Hoàng Thị Thu Hiền
- Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thị Huế - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình.
Ngày 20 tháng 6 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 58/2025/TLST-HNGĐ ngày 15 tháng 4 năm 2025 về tranh chấp hôn nhân và gia đình theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 95/2025/QĐXX-ST ngày 09/6/2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Anh Nguyễn Quốc S, sinh năm 1964
HKTT: Số nhà C V, tổ E, phường P, TP ., tỉnh Lào Cai.
Địa chỉ hiện nay: Số nhà E, đường W, thành phố A, Cộng hòa Liên Bang Đ.
- Bị đơn: Chị Đào Thị T, sinh năm 1977
HKTT: Xóm C N, V, TP ., tỉnh Thái Bình.
Địa chỉ hiện nay: Số nhà E, đường W, thành phố A, Cộng hòa Liên Bang Đ.
(Anh S, chị T đều xin vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, lời khai cùng các tài liệu chứng cứ đã xuất trình nguyên đơn là anh Nguyễn Quốc S trình bày và có yêu cầu khởi kiện như sau:
Về quan hệ hôn nhân: Sau một thời gian tìm hiểu, anh S và chị T đã tự nguyện kết hôn và được T1 tại Frankfurt am M chứng nhận kết hôn ngày 07/12/2011. Sau khi cưới anh chị sống với nhau ở tại thành phố A, Cộng hòa Liên Bang Đ. Anh chị chung sống hạnh phúc cho đến ngày 30/10/2020 thì phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm làm ăn và quan hệ xã hội. Anh cho biết vợ hay cáu gắt mắng chửi chồng, không nấu ăn và chăm sóc chồng, đến nay anh chị đã mâu thuẫn căng thẳng và sống ly thân từ tháng 10/2022. Xét thấy không thể tiếp tục chung sống với nhau được nữa nên anh làm đơn đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình cho anh được ly hôn với chị T. Về con chung: Anh nhất trí giao hai con chung là Nguyễn A và Nguyễn L đều sinh ngày 01/02/2012 cho mẹ là Đào Thị T trực tiếp nuôi dưỡng, anh tự nguyện cấp dưỡng nuôi con là 5.000.000 đồng/con/tháng cho đến khi con chung đủ 18 tuổi. Về tài sản chung: Anh chị tự thoả thuận không yêu cầu Toà án giải quyết. Về nợ chung: Anh chị không có nợ chung và cũng không cho ai vay tài sản gì nên không yêu cầu Toà án giải quyết.
Tại Bản tự khai và Đ đề nghị giải quyết xét xử vắng mặt - Bị đơn là chị Đào Thị T trình bày: Chị xác nhận vợ chồng chị kết hôn và khi chung sống phát sinh nhiều mâu thuẫn do bất đồng quan điểm làm ăn và quan hệ xã hội, chồng chị hay đi sớm về khuya, không quan tâm vợ con, chị nghi ngờ chồng có mối quan hệ ngoại tình. Nay anh S xin ly hôn, chị đồng ý. Chị đồng ý trực tiếp nuôi dưỡng cả 02 con chung là Nguyễn A và Nguyễn L, chấp nhận việc anh Nguyễn Quốc S cấp dưỡng nuôi con là 5.000.000 đồng/con/tháng. Về tài sản chung, anh chị sẽ tự thoả thuận không yêu cầu Toà án giải quyết. Về nợ chung, anh chị không có nợ chung cũng không cho ai vay tài sản nên không yêu cầu Toà án giải quyết. Hiện nay vì đang sinh sống và làm việc tại Cộng hòa Liên bang Đ không thể về toà án tham gia tố tụng được nên đề nghị xin được vắng trong tất cả các buổi làm việc với toà án, xin được vắng mặt trong phiên họp kiểm tra việc giao nộp tiếp cận công khai chứng cứ và hoà giải, vắng mặt trong phiên toà xét xử sơ thẩm vụ án ly hôn giữa anh chị.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về thủ tục tố tụng: Xét thấy, bị đơn là chị Đào Thị T có hộ khẩu thường trú tại: xóm C N, V, thành phố T, tỉnh Thái Bình. Hiện nay anh S và chị T đang cư trú tại Cộng hòa Liên bang Đ, cả anh S và chị T đều đã có đơn xin xét xử vắng mặt. Vì vậy, Toà án tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự theo khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Về quan hệ hôn nhân: Xét thấy, anh S và chị T tự nguyện tìm hiểu, được tổng lãnh sứ quán Việt Nam tại Frankfurt am M chứng nhận kết hôn ngày 07/12/2011, là hôn nhân hợp pháp. Anh S trình bày cuộc sống ban đầu cũng khá hạnh phúc cho đến ngày 30/10/2020 thì anh chị phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm làm ăn và quan hệ xã hội, đến nay sống ly thân từ tháng 10/2022. Chị T cũng cho rằng vợ chồng không hợp nhau, có rất nhiều mâu thuẫn. Nay anh S xin ly hôn, chị T đồng ý. Như vậy, có căn cứ để xác định mâu thuẫn vợ chồng trầm trọng kéo dài, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, Hội đồng xét xử xét thấy cần phải chấp nhận xử cho anh S được ly hôn chị T là phù hợp với quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.
[3] Về quan hệ con chung: Anh S và chị T đều nhất trí đề nghị Toà án giao 02 con chung là Nguyễn A và Nguyễn L đều sinh ngày 01/02/2012 cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng, anh S cấp dưỡng nuôi con là 5.000.000đ/con/tháng, từ khi ly hôn cho đến khi hai con đủ 18 tuổi. Hội đồng xét xử nhận thấy đây là sự tự nguyện của đương sự, không vi phạm pháp luật nên cần được chấp nhận.
[4] Về tài sản chung: Anh S, chị T không yêu cầu nên Tòa án không đặt ra giải quyết.
[5] Về án phí: Anh S phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng: Điều 56, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân gia đình; khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 228, Điều 235, Điều 271, Điều 273 và Điều 479 của Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
- Về quan hệ hôn nhân: Xử cho anh Nguyễn Quốc S được ly hôn chị Đào Thị T.
- Về quan hệ con chung: Xử giao cả 02 con chung là Nguyễn A và Nguyễn L đều sinh ngày 01/02/2012 cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng, anh S cấp dưỡng nuôi con là 5.000.000 đồng/con/tháng (năm triệu đồng/con/tháng) kể từ tháng 6/2025 cho đến khi con chung đủ 18 tuổi. Anh S có quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung. Chị T, anh S có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con chung và thay đổi cấp dưỡng nuôi con chung theo quy định.
- Về quan hệ tài sản: Không có yêu cầu, không đặt ra giải quyết.
- Về án phí: Anh Nguyễn Quốc S phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm và 300.000 đồng án phí của người có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con. Đối trừ số tiền 300.000 đồng anh S đã nộp theo biên lai số 0000003 ngày 15/4/2025 tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Thái Bình, anh S còn phải nộp 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng).
Án xử công khai sơ thẩm, nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 01 tháng, kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Vũ Duy Luân |
4
Bản án số 66/2025/HNGĐ-ST ngày 20/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH về tranh chấp hôn nhân gia đình
- Số bản án: 66/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân gia đình
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 20/06/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bản án ly hôn S-T
