|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN TỈNH BÌNH DƯƠNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 66/2025/HNGĐ-ST Ngày 14-4-2025 V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: bà Nguyễn Thị Thắm.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Văn Nông;
- Bà Bùi Thị Thúy Lan.
- Thư ký phiên tòa: bà Phạm Việt Hà - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An tham gia phiên tòa: bà Bùi Thị Xuân Tình - Kiểm sát viên.
Trong ngày 14 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số 32/2025/TLST-HNGĐ ngày 15 tháng 01 năm 2025, về tranh chấp ly hôn, nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 43/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 28 tháng 02 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Đặng Thị Ánh N, sinh năm 1994; thường trú: thôn X, xã L, huyện T, tỉnh Bắc Ninh; tạm trú: Số B khu phố B, phường A, thành phố D, tỉnh Bình Dương. Có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.
- Bị đơn: Anh Hồ D, sinh năm 1984; thường trú: Xóm A, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An; tạm trú: Số B khu phố B, phường A, thành phố D, tỉnh Bình Dương. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Nguyên đơn chị Đặng Thị Ánh N có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt, nhưng theo đơn khởi kiện gửi đến Tòa án ngày 23 tháng 12 năm 2024, lời khai trong quá trình tố tụng, chị N trình bày:
Về hôn nhân: Chị N và anh Hồ D sau thời gian quen nhau thì tiến tới hôn nhân năm 2013, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An theo giấy chứng nhận kết hôn số 49, quyển số 07 ngày 30/7/2013. Hôn nhân là hoàn toàn tự nguyện và được hai bên gia đình chấp nhận. Sau khi kết hôn vợ chồng sống tại thành phố D, tỉnh Bình Dương cho đến nay. Vợ chồng chung sống không có hạnh phúc. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng tính tình không hợp, bất đồng quan điểm, không có tiếng nói chung nên vợ chồng thường xuyên xảy ra cãi vã. Chị N và anh D không thể chung sống với nhau được nữa nên đã ly thân hơn 01 năm nay. Nay chị N xác định tình cảm không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị N yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị N được ly hôn với anh Hồ Diệu .
- Về con chung: Qúa trình chung sống chị N và anh D có 02 con chung tên Hồ Ngọc Bảo Y, sinh ngày 11/02/2016 và Hồ Ngọc Bảo A, sinh ngày 21/02/2020. Hiện nay cháu Bảo Y đang sống cùng chị N còn cháu Bảo A đang sống cùng anh D. Chị N yêu cầu giải quyết về vấn đề con chung như sau: Chị N yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung Hồ Ngọc Bảo Y, chị N đồng ý giao con chung Hồ Ngọc Bảo A cho anh Hồ D nuôi dưỡng và không ai phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, nghĩa vụ chung về tài sản (nợ chung): tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về phía bị đơn anh Hồ D:
Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã giao thông báo thụ lý vụ án và yêu cầu anh Hồ D có ý kiến trả lời bằng văn bản đối với các yêu cầu của chị Hồ Thị Ánh N1 nhưng anh D không có ý kiến gì. Trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn anh Hồ D đã được Tòa án triệu tập hợp lệ để tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải vào ngày 28/02/2025 nhưng anh D vắng mặt không có lý do; đồng thời cũng không có ý kiến và không cung cấp bất cứ tài liệu, chứng cứ gì thể hiện việc đồng ý hay không đồng ý với các yêu cầu khởi kiện của chị N1.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An tham gia phiên tòa:
+ Về tố tụng:
Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán được phân công thụ lý, giải quyết vụ án đã được thực hiện đúng, đầy đủ theo quy định tại Điều 203 Bộ luật tố tụng dân sự.
Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 về việc xét xử sơ thẩm vụ án.
Việc chấp hành pháp luật của các đương sự: Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật.
- Ý kiến về việc giải quyết án:
Căn cứ vào các Điều 56, 81, 82 và Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình có cơ sở chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Đặng Thị Ánh N.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát, Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An nhận định:
[1] Về việc vắng mặt của đương sự: Nguyên đơn chị Đặng Thị Ánh N có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt, bị đơn anh Hồ D đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai đến tham gia phiên tòa nhưng vẫn vắng mặt, căn cứ theo Điều 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự, Tòa án xét xử vắng mặt chị N và anh D.
[2] Về quan hệ hôn nhân: chị Đặng Thị Ánh N và anh Hồ D có đăng ký kết hôn tại UBND xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An theo Giấy chứng nhận kết hôn số 49, quyển số 07 ngày 30/7/2013 nên là quan hệ hôn nhân hợp pháp. Theo biên bản xác minh về tình trạng hôn nhân tại UBND phường A ngày 15/01/2025 thể hiện: Mâu thuẫn của chị N và anh D chính quyền địa phương không rõ, đề nghị Tòa án căn cứ vào quy định pháp luật để xem xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Chị Đặng Thị Ánh N xác định vợ chồng có nhiều mâu thuẫn, không thể tiếp tục duy trì quan hệ hôn nhân được nữa và có đơn đề nghị Tòa án không hòa giải đoàn tụ. Anh Hồ D đã được Tòa án triệu tập hợp lệ, tuy nhiên anh D không có ý kiến gì về việc giải quyết vụ án và cũng không lên tòa làm việc, anh D đã bỏ mặc quan hệ hôn nhân với chị N khi đang đứng trên bờ vực tan vỡ, không có thiện chí hòa giải. Điều này cho thấy, mâu thuẫn của chị N và anh D đã thật sự trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, chị N yêu cầu ly hôn là có căn cứ, phù hợp với quy định của Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.
[3] Về con chung và việc cấp dưỡng: Qúa trình chung sống chị N và anh D có 02 con chung tên Hồ Ngọc Bảo Y, sinh ngày 11/02/2016 và Hồ Ngọc Bảo A, sinh ngày 21/02/2020. Chị Đặng Thị Ánh N có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng 01 con chung là cháu Hồ Ngọc Bảo Y, sinh ngày 11/02/2016. Trong thời gian trước đây cũng như hiện tại cháu Y được chị N chăm sóc, quá trình nuôi dưỡng con chung vẫn đảm bảo phát triển tốt về mọi mặt, cháu Y cũng mong muốn sống chung với chị N. Chị N không yêu cầu anh D thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi cháu Y. Đối với cháu Bảo A hiện đang sống cùng anh D, chị N đồng ý giao con chung Hồ Ngọc Bảo A, sinh ngày 21/02/2020 cho anh Hồ D nuôi dưỡng, anh D không có ý kiến gì về vấn đề nuôi con cũng như cấp dưỡng. Vì vậy, căn cứ vào Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình có cơ sở chấp nhận yêu cầu của chị Đặng Thị Ánh N về việc nuôi dưỡng con chung.
[4] Về tài sản chung, nghĩa vụ chung về tài sản: chị Đặng Thị Ánh N không yêu cầu Toà án giải quyết.
[5] Ý kiến của Viện kiểm sát phù hợp với quan điểm của Tòa án nên chấp nhận.
[6] Án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn: chị Đặng Thị Ánh N phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, các Điều 228, 238, 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ vào các Điều 51, 56, 58, 81, 82, 83 và 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Đặng Thị Ánh N đối với anh Hồ D về việc tranh chấp ly hôn, nuôi con.
- Về quan hệ hôn nhân: chị Đặng Thị Ánh N được ly hôn với anh Hồ D (Giấy chứng nhận kết hôn số 49, quyển số 07 do UBND xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An cấp ngày 30 tháng 7 năm 2013).
- Về con chung: Anh Hồ D giao con chung là cháu Hồ Ngọc Bảo Y, sinh ngày 11/02/2016 cho chị Đặng Thị Ánh N chăm sóc, nuôi dưỡng. Chị Đặng Thị Ánh N giao con chung là cháu Hồ Ngọc Bảo A, sinh ngày 21/02/2020 cho anh Hồ D chăm sóc, nuôi dưỡng. Chị Đặng Thị Ánh N không đặt ra vấn đề cấp dưỡng nuôi con chung.
Sau ly hôn, chị Đặng Thị Ánh N và anh Hồ D đều có quyền chăm sóc, thăm nom, giáo dục con, không ai có quyền cản trở anh, chị thực hiện quyền này. Vì lợi ích về mọi mặt của con khi một hoặc cả hai bên đương sự có yêu cầu, Tòa án sẽ quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và việc cấp dưỡng.
- Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản: chị Đặng Thị Ánh N không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về án phí: chị Đặng Thị Ánh N phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn, được khấu trừ hết vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0007666 ngày 03 tháng 01 năm 2025 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương.
Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thắm |
Bản án số 66/2025/HNGĐ-ST ngày 14/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG về tranh chấp ly hôn, nuôi con
- Số bản án: 66/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp ly hôn, nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 14/04/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: chị Đặng Thị Ánh Ng tranh chấp ly hôn, nuôi con với anh Hồ D
