Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH PHÚ THỌ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 66/2025/HNGĐ-ST

Ngày 09 tháng 6 năm 2025

“V/v Tranh chấp hôn nhân và gia đình"

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Đình Chi;

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Bùi Thị Hảo;

Bà Nguyễn Thị Phẩm.

Thư ký phiên tòa: Ông Bùi Trung Hiếu - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ tham gia phiên tòa: Bà Vũ Thị Hương - Kiểm sát viên.

Ngày 09 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 48/2025/TLST-HNGĐ ngày 28 tháng 3 năm 2025 về việc “Tranh chấp hôn nhân và gia đình” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 59/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 08 tháng 5 năm 2025 và quyết định hoãn phiên tòa số: 01/2025/QĐST-HNGĐ ngày 28 tháng 5 năm 2025 giữa:

  1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Hải A, sinh năm 1989.

    HKTT: Tổ dân phố T, phường D, thị xã M, tỉnh Hưng Yên.

  2. Bị đơn: Anh Nguyễn Huy H, sinh năm 1990.

    Nơi ĐKHKTT: Xóm L, xã L, huyện T, tỉnh Phú Thọ.

    Hiện đang ở nước ngoài (Nhật Bản).

  3. Người làm chứng: Ông Nguyễn Ngọc Q, sinh năm 1964.

    Địa chỉ: Xóm L, xã L, huyện T, tỉnh Phú Thọ.

(Chị Nguyễn Hải A có đơn xin xét xử vắng mặt. Anh Nguyễn Huy H và ông Nguyễn Ngọc Q vắng mặt lần thứ hai).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 10/3/2025 và các lời khai tiếp theo nguyên đơn chị Nguyễn Hải A trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Nguyễn Huy H kết hôn tự nguyện có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường D, thị xã M, tỉnh Hưng Yên ngày 20/4/2021. Trước khi kết hôn chị và anh H có tự nguyện tìm hiểu, sau khi kết hôn anh chị không chung sống cùng nhau vì anh H khi đó đang ở Nhật Bản lao động và làm việc. Do dịch Covid nên anh chị không có điều kiện được ở cùng nhau chỉ thông qua bằng điện thoại và dần dần tình cảm vợ chồng lạnh nhạt, từ đó anh H cũng không về nước. Nay chị Hải A thấy không còn tình cảm vợ chồng với anh H nữa nên đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh H.

Về con chung: Chị Hải A xác định vợ chồng không có con chung.

Về tài sản chung, công nợ, công sức: Chị Hải A xác định không có nên không đề nghị Tòa án giải quyết.

Phía bị đơn: Anh Nguyễn Huy H hiện đang ở nước ngoài thể hiện tại công văn số: 252/QLXNC-Đ1 ngày 18/3/2025 của Phòng Q1 Công an tỉnh P xác định anh H xuất cảnh ngày 24/8/2023 qua cửa khẩu N, hiện chưa có thông tin nhập cảnh.

Do chị Hải A không biết địa chỉ của anh H ở đâu tại nước ngoài nên Tòa án đã tiến hành lấy lời khai của ông Nguyễn Ngọc Q là bố của anh H và được ông Q cung cấp như sau: Hiện tại anh H đang làm việc tại Nhật Bản địa chỉ cụ thể ông không biết nhưng anh H vẫn thường xuyên liên lạc với gia đình, ông Q đã thông báo toàn bộ các văn bản tố tụng của Tòa án cho anh H, ông đã thông tin cho anh H biết nội dung chị Hải A xin ly hôn với anh H, anh H có ý kiến nhất trí ly hôn vì vợ chồng mới đăng ký kết hôn với nhau, vợ chồng chưa chung sống với nhau, không có con chung, không có công nợ chung, công sức đóng góp gì, đến nay anh H không còn tình cảm với chị Hải A nữa.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ phát biểu ý kiến về những nội dung sau:

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: trong quá trình giải quyết vụ án của thẩm phán, Hội đồng xét xử; việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án theo đúng quy định trình tự của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung đề nghị hội đồng xét xử:

Áp dụng Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân gia đình; Khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, khoản 1 Điều 37, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH1430/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Đề nghị xử:

  • - Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Nguyễn Hải A được ly hôn với anh Nguyễn Huy H.
  • - Về con chung: Không có nên không xem xét.
  • - Về tài chung, công nợ chung: Không có nên không giải quyết.
  • - Về án phí ly hôn sơ thẩm: Chị Hải A là nguyên đơn nên phải chịu 300.000đ án phí ly hôn (xác nhận đã nộp).

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Bị đơn anh Nguyễn Huy H đăng ký hộ khẩu thường trú tại Xóm L, xã L, huyện T, tỉnh Phú Thọ. Theo Công văn số: 252/QLXNC-Đ1 ngày 18/3/2025 của Phòng Q1 Công an tỉnh P xác định anh H xuất cảnh ngày 24/8/2023 qua cửa khẩu N, hiện chưa có thông tin nhập cảnh. Căn cứ khoản 3 điều 35, điểm a khoản 1 điều 37; điểm a khoản 1 điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ thụ lý, giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền.

Trong vụ án này anh H không có mặt ở Việt Nam nên Tòa án không tiến hành hòa giải được theo quy định tại khoản 2 điều 207 của Bộ luật tố tụng dân sự. Do vậy Tòa án tiến hành đưa vụ án ra xét xử là đúng với quy định của pháp luật. Chị Hải A đề nghị xin ly hôn với anh H và chỉ cung cấp được địa chỉ nơi cư trú cuối cùng ở Việt Nam của anh H mà không cung cấp được địa chỉ anh H ở chỗ nào tại nước ngoài. Tòa án đã gửi các văn bản tố tụng thông qua bố đẻ của anh H là ông Nguyễn Ngọc Q, ông Q đã thông báo cho anh H biết, ông Q không biết địa chỉ cụ thể của anh H ở đâu tại nước ngoài, bản thân anh H không cung cấp địa chỉ mặc dù đã được ông Quang thông B. Căn cứ Điều 10 Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về việc giải quyết vụ án ly hôn có bị đơn là người Việt Nam ở nước ngoài nhưng không rõ địa chỉ, Tòa án giải quyết vụ án theo thủ tục chung. Tại phiên tòa chị Nguyễn Hải A vắng mặt nhưng có đơn xin xét xử vắng mặt. Do vậy, Tòa án căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt các đương sự.

[2] Về nội dung:

[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Hải A và anh Nguyễn Huy H kết hôn tự nguyện và có đăng ký kết hôn ngày 20/4/2021 tại Ủy ban nhân dân phường D, thị xã M, tỉnh Hưng Yên, đây là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống, theo chị Hải A trình bày giữa chị Hải A và anh H sau khi kết hôn anh chị không chung sống cùng nhau vì anh H khi đó đang ở Nhật Bản lao động và làm việc. Do dịch Covid nên anh chị không có điều kiện được ở cùng nhau chỉ thông qua bằng điện thoại và dần dần tình cảm vợ chồng lạnh nhạt, nay chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh H. Mặc dù anh H không có lời khai xong thông qua ông Q là bố của anh H cung cấp quan điểm của anh H cũng nhất trí ly hôn với chị Hải A. Mặt khác, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ cho thấy chị Hải A và anh H là vợ chồng nhưng không chung sống với nhau, không liên lạc và không biết địa chỉ của nhau, theo đó cho thấy anh chị đã không còn quan tâm, trách nhiệm gì với nhau theo nghĩa vợ chồng. Do vậy, có căn cứ để xác định tình cảm vợ chồng giữa chị Hải A và anh H đã thực sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên xử cho chị Hải A được ly hôn anh H là phù hợp với khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.

[2.2] Về con chung: Chị Hải A và anh H không có con chung nên không đặt ra xem xét.

[3] Về tài sản chung, công nợ, công sức đóng góp của vợ chồng: Chị Hải A không đề nghị Tòa án giải quyết nên Tòa án không đặt ra xem xét.

[4] Về án phí: Chị Hải A phải chịu 300.000đ tiền án phí ly hôn sơ thẩm.

[5] Về quyền kháng cáo đối với bản án: Các đương sự được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình; khoản 3 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 37; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 2 Điều 207; điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228; khoản 1, 2 Điều 479 của Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Hải A được ly hôn anh Nguyễn Huy H.
  2. Về con chung: Không có nên không đặt ra xem xét giải quyết.
  3. Về tài sản chung, công nợ, công sức đóng góp của vợ chồng: Không đặt ra xem xét giải quyết.
  4. Về án phí: Chị Nguyễn Hải A phải chịu 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí ly hôn sơ thẩm. Xác nhận chị Nguyễn Hải A đã nộp 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) tại biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa số: 0000578 ngày 27/3/2025 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Phú Thọ.
  5. Về quyền kháng cáo đối với bản án: Đương sự có mặt tại Việt Nam có quyền kháng cáo trong hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án để đề nghị Tòa án cấp trên xét xử phúc thẩm. Đương sự cư trú ở nước ngoài vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 01 (Một) tháng kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh;
  • - Cục THADS tỉnh Phú Thọ;
  • - Các đương sự;
  • - UBND phường Dị Sử, Tx. Mỹ Hào, tỉnh Hưng Yên;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Đình Chi

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 66/2025/HNGĐ-ST ngày 09/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ về tranh chấp hôn nhân và gia đình

  • Số bản án: 66/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân và gia đình
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 09/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chị Nguyễn Hải A khởi kiện ly hôn với anh Nguyễn Huy H và được chấp nhận yêu cầu khởi kiện
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger