Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 1- HƯNG YÊN

Bản án số: 66/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 04 - 12 - 2025

Về việc: Ly hôn, nuôi con chung.

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1- HƯNG YÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Hằng.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Bá Thiệp; bà Nguyễn Thị Bích Thu.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thảo My – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 1- Hưng Yên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1- Hưng Yên tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Huyền - Kiểm sát viên.

Ngày 04 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vục 1- Hưng Yên xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số: 237/2025/TLST-HNGĐ ngày 28/10/2025 về việc: Ly hôn, nuôi con chung theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 74/2025/QĐXX-HNGĐ ngày 20/11/2025, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Anh Phạm Trung K, sinh năm 1975.

HKTT: 2C3 phường T, quận H, thành phố Hà Nội. Nay là: 2C3 phường Tương Mai, thành phố Hà Nội.

Nơi ở: Thôn 1, phường Phù Vân, tỉnh Ninh Bình.

Bị đơn: Chị Trần Thị Lan A, sinh năm 1976.

HKTT: Số 71 đường Tống Trân, phường Phố Hiến, tỉnh Hưng Yên.

Nơi ở: Số 54 đường Phan Đình Phùng, phường Phố Hiến, tỉnh Hưng Yên.

Người làm chứng: Bà Phan Thị V, sinh năm 1947. Địa chỉ: Số E đường P, phường P, tỉnh Hưng Yên.

Các đương sự đều vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện cùng các tài liệu trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn anh Phạm Trung K trình bầy:

Anh và chị Trần Thị Lan A tự nguyện đăng ký kết hôn ngày 13/7/2015 tại Ủy ban nhân dân phường T, quận H, thành phố Hà Nội. Sau kết hôn vợ chồng không thường xuyên sống cùng nhau, do công việc hai vợ chồng ở hai nơi, anh làm bên Hà Nam, chị Lan A làm ở Hưng Yên nên chỉ cuối tuần vợ chồng mới sống cạnh nhau. Hàng ngày anh chị cũng ít trò chuyện. Năm 2015 -2016 chị Lan A vay nợ rất nhiều người và không có khả năng trả nợ mọi người, chị vay người thân trong nhà, anh em bạn bè, bên ngoài xã hội. Tiền chị vay nợ mọi người không dùng cho gia đình. Vợ chồng anh bất đồng kinh tế gia đình từ thời điểm đó. Năm 2019 chị Lan A bị Tòa án nhân dân tỉnh Hưng Yên xử phạt 05 năm tù về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Thời gian chị ở trong tù thì anh không liên lạc với chị, vì trước đó anh đã quá chán cách sống của chị Lan A. Tết năm 2024 chị ra tù về địa phương sinh sống. Nay, anh không còn tình cảm vợ chồng xin được ly hôn chị Lan A.

Bị đơn chị Trần Thị Lan A trình bầy: Chị và anh Phạm Trung K tự nguyện kết hôn năm 2015 tại Ủy ban nhân dân phường T, thành phố Hà Nội. Sau kết hôn vợ chồng chung sống hòa thuận tại số G đường T, phường P, tỉnh Hưng Yên. Chị có vay nợ tiền để trang trải cuộc sống gia đình, mở cửa hàng điện cho anh K làm nhưng thua lỗ. Bản thân anh K không chịu khó làm ăn, rượu chè, ma túy, thậm chí có lần còn đánh chị. Năm 2019 chị đi chấp hành án 05 năm tù về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản, anh K không đến thăm nuôi chị. Khi chị ra tù đã chủ động liên lạc với anh K để anh làm thủ tục ly hôn. Nay, anh K có đơn xin ly hôn, chị xác định không còn tình cảm vợ chồng. Chị đồng ý ly hôn.

Về con chung: Anh K và chị Lan A khẳng định có 01 con chung là Phạm Kỳ P, sinh ngày 29/9/2014. Anh K và chị Lan A đều nhận nuôi cháu. Anh K tự nguyện không yêu cầu chị Lan A cấp dưỡng nuôi cháu, chị Lan A yêu cầu anh K cấp dưỡng nuôi cháu 3.000.000 đồng/1 tháng kể từ tháng đầu tiên sau ly hôn. Anh K đồng ý để chị nuôi cháu và cấp dưỡng theo yêu cầu của chị.

Về tài sản, nợ chung: Anh K và chị Lan A đều khẳng định tự thỏa thuận, không yêu cầu giải quyết.

Cháu Phạm Kỳ P trình bày: Cháu là con trai của bố K, mẹ Lan A. Hiện cháu học lớp 6D Trường Tiểu học V2, đang ở với mẹ và bà ngoại bên Hưng Yên. Bố bên P, Hà Nam. Cháu có thấy bố mẹ cãi nhau nhưng về vấn đề gì cháu không biết. Khi bố mẹ ly hôn, cháu xin được ở với mẹ.

Người làm chứng bà Phạm Thị V1 trình bày: Bà là mẹ đẻ chị Lan A, mẹ vợ anh K. Vợ chồng chị Lan A tự nguyện kết hôn với nhau, gia đình bà không ép buộc. Sau kết hôn anh chị chung sống cùng bà, gia đình hòa thuận hạnh phúc. Tuy nhiên anh K có hay rượu chè, không tu chí làm ăn, mở cửa hàng buôn bán nhưng thua lỗ. Chị Lan A phải vay nợ để trang trải cuộc sống. Năm 2019 chị Lan A đi chấp hành án tù anh K không thăm hỏi chị. Tháng 9/2024 chị Lan A chấp hành xong án. Anh chị có 01 con chung là cháu Phạm Kỳ P. Thời gian chị Lan A đi tù, anh K không chu cấp tiền nuôi cháu. Nay, chị Lan A nhận nuôi cháu P, bà sẽ cùng chị nuôi dưỡng, chăm sóc cháu.

Bà không yêu cầu anh K trả công sức nuôi cháu P trong thời gian chị Lan A đi tù.

Quá trình giải quyết vụ án, chị Lan A không đến Tòa án để hòa giải nên Tòa án đã không tiến hành hòa giải được.

Tại phiên tòa: Nguyên đơn, bị đơn, người làm chứng đều có đơn đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt, vì vậy HĐXX căn cứ vào quy định của Bộ luật tố tụng dân sự để giải quyết, xét xử vắng mặt các đương sự.

- Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1- Hưng Yên:

+ Về thủ tục tố tụng: Tòa án nhân dân khu vực 1 Hưng Yên đã chấp hành nghiêm chỉnh trình tự thủ tục tố tụng kể từ khi thụ lý, thu thập chứng cứ, quyết định đưa vụ án ra xét xử cho đến quá trình xét xử công khai tại phiên tòa. Nguyên, bị đơn đã thực hiện đúng các quyền, nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

+ Về nội dung: Căn cứ các Điều 51, 55, 57, 58, 81, khoản 2 Điều 82, khoản 1 Điều 83, Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình. Khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147; Điều 228, Điều 238, Điều 271; Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự. Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, đề nghị HĐXX: Công nhận thuận tình ly hôn giữa anh Phạm Trung K và chị Trần Thị Lan A. Về con chung: Ghi nhận sự tự nguyện của anh K giao cháu Phạm Kỳ P, sinh ngày 29/9/2014 cho chị Lan A nuôi dưỡng và anh nhận cấp dưỡng nuôi cháu là 3.000.000 đồng/1 tháng. Tài sản chung tự thỏa thuận, không yêu cầu giải quyết. Anh K và chị Lan A phải chịu án phí sơ thẩm ly hôn. Anh K phải chịu án phí cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và căn cứ vào kết quả tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Anh Phạm Trung K xin ly hôn và nhận nuôi con chung với chị Trần Thị Lan A có hộ khẩu thường trú: Số G đường T, phường P, tỉnh Hưng Yên. Chỗ ở: Số E đường P, phường P, tỉnh Hưng Yên. Theo quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 1- Hưng Yên. Quan hệ pháp luật là “Ly hôn và nuôi con chung”.

Tại phiên tòa nguyên đơn, bị đơn, người làm chứng đều có đơn đề nghị xét xử vắng mặt nên HĐXX vẫn tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định tại Điều 229, Điều 238 của Bộ luật Tố tụng Dân sự.

[2] Về nội dung:

[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Anh Phạm Trung K và chị Trần Thị Lan A tự nguyện ký kết hôn ngày 13/7/2015 tại Ủy ban nhân dân phường T, quận H, thành phố Hà Nội, nay là Ủy ban nhân dân phường T, thành phố Hà Nội, như vậy hôn nhân giữa anh K và chị Lan A là hôn nhân hợp pháp.

[2.2] Xét yêu cầu xin ly hôn của anh K: Anh K và chị Lan A, cũng như đại diện gia đình, đều khẳng định trong cuộc sống vợ chồng anh chị có mâu thuẫn tình cảm. Nguyên nhân theo anh K khẳng định năm 2015-2016 do chị Lan A vay nợ nhiều người không có khả năng trả nợ, tiền vay nợ không dùng cho gia đình. Chị Lan A khẳng định trong cuộc sống chị có vay nợ tiền để trang trải cuộc sống gia đình, anh K không chịu khó làm ăn, rượu chè, ma túy. Mâu thuẫn căng thẳng nhất năm 2019 chị Lan A đi chấp hành án tù về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản, vợ chồng không liên lạc, quan tâm nhau. Trong quá trình giải quyết vụ án, anh K và chị Lan A đều xác định không còn tình cảm vợ chồng nữa, anh K xin ly hôn, chị Lan A đồng ý. Căn cứ Điều 55 Luật Hôn nhân gia đình, Hội đồng xét xử công nhận thuận tình ly hôn giữa hai anh chị.

[2.3] Về con chung: Anh K, chị Lan A khẳng định có một con chung là Phạm Kỳ P, sinh ngày 29/8/2014. Chị Lan A nhận nuôi cháu và yêu cầu anh K cấp dưỡng nuôi cháu 3.000.000 đồng/1 tháng, kể từ tháng đầu tiên sau ly hôn. Anh K đồng ý với yêu cầu của chị Lan A. Xét thấy đây là sự tự nguyện của anh K và cũng phù hợp với nguyện vọng của cháu P nên được Hội đồng xét xử ghi nhận.

[2.4] Về tài sản chung: Anh K, chị Lan A tự thỏa thuận, không yêu cầu giải quyết nên HĐXX không xem xét.

[3] Về án phí: Anh K và chị Lan A cùng phải chịu 150.000 đồng án phí sơ thẩm ly hôn. Anh K phải chịu án phí cấp dưỡng nuôi con.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 51, Điều 55, Điều 57, Điều 58, Điều 81, khoản 2 Điều 82, khoản 1 Điều 83, Điều 84, khoản 1 Điều 88 Luật hôn nhân và gia đình. Khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 228, Điều 238, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điểm a khoản 2 Điều 11 Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao. Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

[1]. Về quan hệ hôn nhân: Công nhận thuận tình ly hôn giữa anh Phạm Trung K và chị Trần Thị Lan A.

[2]. Về con chung: Ghi nhận sự tự nguyện của anh Phạm Trung K giao cháu Phạm Kỳ P, sinh ngày 29/8/2014 cho chị Trần Thị Lan A nuôi dưỡng, anh tự nguyện cấp dưỡng nuôi cháu là 3.000.000 đồng/1 tháng cho đến khi cháu đủ 18 tuổi, thời điểm cấp dưỡng tính từ tháng 01/2026. Anh K có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

Vì quyền lợi của con chung, anh K, chị Lan A có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con chung; yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung; yêu cầu hạn chế quyền thăm nom, chăm sóc con chung sau khi ly hôn.

Kể từ ngày chị Lan A có đơn thi hành án về khoản tiền cấp dưỡng nuôi con, cơ quan thi hành án ra quyết định thi hành án, nếu anh K không chịu thi hành thì hàng tháng phải chịu lãi suất theo quy định tại Điều 357 và khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự 2015.

[3]. Về tài sản chung: Đương sự tự thỏa thuận, không yêu cầu, nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[4]. Về án phí: Anh Phạm Trung K và chị Trần Thị Lan A mỗi người phải chịu 75.000 đồng án phí sơ thẩm ly hôn. Anh K còn phải chịu 150.000 đồng án phí cấp dưỡng nuôi con. Tổng tiền án phí anh K phải chịu là 225.000 đồng nhưng được đối trừ vào số tiền tạm ứng án phí là 300.000 đồng anh đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án ký hiệu BLTU/25E số 0002683 ngày 28/10/2025 của Phòng thi hành án dân sự khu vực 1- Hưng Yên. Hoàn trả anh K số tiền thừa 75.000 đồng.

[5]. Về quyền kháng cáo: Anh K và chị Lan A được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận.

  • - Các đương sự;
  • - VKSND khu vực 1- Hưng Yên;
  • - Thi hành án dân sự tỉnh Hưng Yên;
  • - Phòng KT Tòa án tỉnh Hưng Yên;
  • - Lưu HS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Thị Thu Hằng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 66/2025/HNGĐ-ST ngày 04/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1- HƯNG YÊN về ly hôn, nuôi con chung

  • Số bản án: 66/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, nuôi con chung
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 04/12/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1- HƯNG YÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Kiên -Lan Anh
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger