|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 66/2025/HNGĐ-PT Ngày: 09-12-2025 V/v “Tranh chấp ly hôn, con chung” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Thư
Các Thẩm phán: Ông Lê Quang Ninh
Ông Vũ Thế Phương
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Kim Anh, Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Đình Thắng - Kiểm sát viên.
Trong ngày 09 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai mở phiên tòa xét xử phúc thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình phúc thẩm thụ lý số 114/TLPT-HNGĐ ngày 17 tháng 11 năm 2025 về việc “Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung".
Do Bản án Hôn nhân gia đình sơ thẩm số 98/2025/HNGĐ-ST ngày 29 tháng 8 năm 2025 của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 62/2025/QĐ-PT ngày 19 tháng 11 năm 2025, giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Bà Hoàng Mai T, sinh năm 1999. Địa chỉ: C, tổ G, khu phố A, phường T, thành phố B (nay là phường T), tỉnh Đồng Nai. Có mặt tại phiên tòa.
- - Bị đơn: Ông Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1987. Thường trú: Số F, tổ A, khu phố B, phường L, thành phố B (nay là phường L), tỉnh Đồng Nai. Có mặt tại phiên tòa.
- Người kháng cáo: Ông Nguyễn Văn Đ.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- - Nguyên đơn bà Hoàng Mai T trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Bà Hoàng Mai T và ông Nguyễn Văn Đ tự nguyện chung sống với nhau và có đăng ký kết hôn vào năm 2022, tại Ủy ban nhân dân phường L, thành phố B (nay là phường L), tỉnh Đồng Nai. Cuộc sống vợ chồng chung sống hạnh phúc được thời gian đầu, sau đó thường xuyên phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do vợ chồng không có tiếng nói chung, bất đồng quan điểm sống quá nhiều, mâu thuẫn vợ chồng càng ngày càng trầm trọng, không thể hàn gắn đoàn tụ, ông bà đã sống ly thân từ năm 2024 đến nay. Bà T nhận thấy cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn với ông Nguyễn Văn Đ.
- Về con chung: Quá trình chung sống có 01 con chung là cháu Nguyễn Khang Đ1, sinh ngày 30/7/2023. Khi ly hôn, bà T xin được nuôi con, tạm thời không yêu cầu ông Nguyễn Văn Đ phải cấp dưỡng. Hiện nay, bà T đang làm nhân viên hành chính tại Công ty Cổ phần L, mức lương trung bình là 10.000.000đồng/tháng. Ngoài ra, bà còn 03 kiot cho thuê với thu nhập khoảng 13.500.000đồng/tháng. Bà T đang sinh sống cùng cha mẹ ruột tại địa chỉ C, tổ G, khu phố A, phường T, thành phố B (nay là phường T), tỉnh Đồng Nai. Do đó, bà T có đủ điều kiện để chăm sóc và nuôi dưỡng con tốt.
- Về tài sản chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về nợ chung: Không có nên yêu cầu Tòa án giải quyết.
- - Bị đơn ông Nguyễn Văn Đ trình bày:
- Cuộc sống vợ chồng thời gian đầu khi ông Đ còn có công việc làm ăn ổn định thì vợ chồng chung sống chưa có nhiều vấn đề phát sinh. Tuy nhiên, sau đó phát sinh mâu thuẫn do vợ chồng không có sự đồng lòng chăm lo cho gia đình, không có sự chia sẻ, gia đình bên vợ không có sự thấu hiểu, vợ không tôn trọng chồng và không biết chăm lo cho gia đình. Hiện tại, ông Đ và bà T cũng không còn chung sống với nhau. Về yêu cầu xin ly hôn của bà T thì ông Đ không thể hiện rõ ý kiến. Quá trình chung sống có 01 con chung là cháu Nguyễn Khang Đ1, sinh ngày 30/7/2023. Ông Đ hiện đang là người trực tiếp, chăm sóc nuôi dưỡng con chung. Ông Đ đề nghị Tòa án giải quyết để ông Đ có thể ổn định cuộc sống và nuôi con. Về tài sản chung: không có tài sản chung. Về nợ chung: Có vay của bố mẹ vợ, mẹ ruột (nhưng không trình bày rõ thông tin cụ thể).
Tại Bản án số 98/2025/HNGĐ-ST ngày 29/8/2025 Tòa án nhân dân khu vực 1 – Đồng Nai quyết định:
Căn cứ vào Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 228, Điều 238, Điều 266, Điều 271 Bộ luật tố tụng dân sự; Áp dụng Điều 8, Điều 9, Điều 19, 53, 56, 57, 58, 59, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình 2014; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
- Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Hoàng Mai T: Bà Hoàng Mai T được ly hôn với ông Nguyễn Văn Đ.
- Về con chung: Quá trình chung sống có 01 con chung là cháu Nguyễn Khang Đ1, sinh ngày 30/7/2023. Khi ly hôn, giao cho bà Hoàng Mai T được nuôi con, tạm thời ông Nguyễn Văn Đ không phải cấp dưỡng do bà T không yêu cầu.
Ông Nguyễn Văn Đ được quyền đi lại thăm nom con chung, không ai được cản trở. Vì quyền lợi của con chung, khi cần thiết các bên có quyền yêu cầu Tòa án thay đổi người trực tiếp nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung và nợ chung: Theo bà T khai, bà và ông Đ không có tài sản chung và không có nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Nhưng do ông Nguyễn Văn Đ có văn bản trình bày ý kiến về tài sản chung là không có, nhưng ông Đ chưa trình bày cụ thể và xác định rõ về nợ chung nên không xem xét, giải quyết trong vụ án này mà tách ra giải quyết bằng vụ án khác khi các đương sự có yêu cầu.
Ngoài ra bản án sơ thẩm còn quyết định về án phí, quyền kháng cáo và các vấn đề khác theo quy định của pháp luật.
Sau khi xét xử sơ thẩm, bản án sơ thẩm bị kháng cáo như sau:
Ngày 30/9/2025, ông Nguyễn Văn Đ kháng cáo Bản án số 98/2025/HNGĐ-ST ngày 29/8/2025 Tòa án nhân dân khu vực 1 – Đồng Nai theo hướng đề nghị sửa bản án sơ thẩm theo hướng không đồng ý ly hôn với bà T, đề nghị giao con chung cho ông Nguyễn Văn Đ nuôi dưỡng và yêu cầu Tòa án giải quyết phần nợ chung giữa ông Đ với bà Hoàng Mai T.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Nguyên đơn bà Hoàng Mai T vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và đồng ý như quyết định của bản án sơ thẩm; bị đơn ông Nguyễn Văn Đ vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo. Các đương sự không thoả thuận được về việc giải quyết vụ án.
Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tại phiên tòa:
- - Về tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án tại cấp phúc thẩm, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Những người tham gia tố tụng đều thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định, chấp hành tốt Nội quy phiên tòa.
- - Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự; không chấp nhận kháng cáo, giữ nguyên Bản án số 98/2025/HNGĐ-ST ngày 29/8/2025 Tòa án nhân dân khu vực 1 – Đồng Nai.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào hồ sơ vụ án, các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, ý kiến của Viện kiểm sát; ý kiến của nguyên đơn, bị đơn và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định:
- [1] Đơn kháng cáo của bị đơn ông Nguyễn Văn Đ làm trong thời hạn luật định, có nội dung và hình thức phù hợp với quy định pháp luật, nên được xem xét giải quyết theo trình tự phúc thẩm.
- [2] Xét thấy:
- - Xét kháng cáo về quan hệ hôn nhân: Quan hệ hôn nhân giữa bà Hoàng Mai T và ông Nguyễn Văn Đ được xác lập trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường L, thành phố B, tỉnh Đồng Nai (cũ) ngày 20/7/2022 nên được xác định là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật tôn trọng, bảo vệ. Bà T cho rằng trong quá trình chung sống vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn do không có tiếng nói chung, bất đồng quan điểm sống, tại phiên tòa phúc thẩm, ông Đ cho rằng vợ chồng không còn thương yêu, quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ nhau, đã ly thân từ năm 2024 đến nay. Điều này chứng tỏ rằng hôn nhân của bà T và ông Đ lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết cho bà T được ly hôn với ông Đ là có cơ sở, do đó, yêu cầu kháng cáo không đồng ý ly hôn với bà T không có được Tòa án chấp nhận.
- - Xét kháng cáo về phần con chung: Bà T hiện đang là nhân viên hành chính tại Công ty Cổ phần L, mức lương trung bình là 10.000.000 (đồng/tháng; bà còn 03 kiot cho thuê với thu nhập khoảng 13.500.000 đồng/tháng. Hiện bà T đang sinh sống cùng cha mẹ ruột tại địa chỉ C, tổ G, khu phố A, phường T, thành phố B (nay là phường T), tỉnh Đồng Nai. Tại giai đoạn phúc thẩm, ông Đ cung cấp thêm tài liệu, chứng cứ thể hiện ông Đ đang là nhân viên Công ty TNHH Đ2, mức lương và phụ cấp là 25.000.000 đồng/tháng. Cháu Nguyễn Khang Đ1 hiên đang ở cùng với ông Đ tại nhà ông Đ thuê.
Khoản 3 Điều 84 Luật Hôn nhân và Gia đình quy định "Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con", ông Đ cho rằng bà T không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng con, cụ thể bà T không biết nuôi con, chăm con chỉ suốt ngày ăn và ngủ, thường xuyên có những hành động muốn cướp đi mạng sống của cháu Đ1, nhưng ông Đ không tài liệu chứng cứ, chứng minh. Do đó, việc Tòa án cấp sơ thẩm quyết định giao cháu Nguyễn Khang Đ1 cho bà T nuôi là có cơ sở, tạo điều kiện tốt nhất cho sự phát triển cả về mặt thể chất và tinh thần của cháu Nguyễn Khang Đ1. Do đó, yêu cầu kháng cáo đối với việc giao con cho ông Đ nuôi không được chấp nhận.
Sau khi ly hôn, ông Đ được quyền đi lại thăm nom con chung, không ai được cản trở. Vì quyền lợi của con chung, khi cần thiết các bên có quyền yêu cầu Tòa án thay đổi người trực tiếp nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con.
- - Xét kháng cáo về phần nợ chung: tại cấp sơ thẩm và tại phiên tòa phúc thẩm bà T trình bày tài sản chung, nợ chung không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Ngày 16/6/2025 ông Đ có đơn trình bày về phần nợ chung cho rằng nợ bố mẹ vợ, nợ bên nội, cho anh Phạm Xuân T1 vay 500 triệu đồng nhưng khi Tòa án nhiều lần mời làm việc thì ông Đ không đến để trình bày ý kiến và cũng không có đơn yêu cầu chia tài sản chung, nợ chung trong thời kỳ hôn nhân. Tại cấp phúc thẩm, ông Đ vẫn cho rằng còn nợ chung đối với bên nội và bên ngoại như trên nhưng không đưa ra chứng cứ gì để chứng minh. Do đó, việc ông Đ kháng cáo yêu cầu Tòa án phải giải quyết xong phần nợ chung mới đồng ý ly hôn với bà T là không có cơ sở để chấp nhận. Trên thực tế nếu ông Đ và bà T có tài sản chung, nợ chung trong thời kỳ hôn nhân thì ông Đ vẫn có quyền khởi kiện bằng một vụ án khác.
- [3] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tại phiên tòa là có căn cứ nên được chấp nhận.
- [4] Về án phí phúc thẩm: Do yêu cầu kháng cáo không được chấp nhận nên ông Đ phải chịu.
- [5] Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị, có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ nêu trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn ông Nguyễn Văn Đ về quan hệ hôn nhân, nuôi con chung và nợ chung.
Giữ nguyên Bản án số 98/2025/HNGĐ-ST ngày 29 tháng 8 năm 2025 Tòa án nhân dân khu vực 1 – Đồng Nai.
2. Căn cứ vào Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 228, Điều 238, Điều 266, Điều 271 Bộ luật tố tụng dân sự; áp dụng Điều 8, Điều 9, Điều 19, 53, 56, 57, 58, 59, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình 2014; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Hoàng Mai T: Bà Hoàng Mai T được ly hôn với ông Nguyễn Văn Đ.
Về con chung: Quá trình chung sống có 01 con chung là cháu Nguyễn Khang Đ1, sinh ngày 30/7/2023. Khi ly hôn, giao cho bà Hoàng Mai T được nuôi con, tạm thời ông Nguyễn Văn Đ không phải cấp dưỡng do bà T không yêu cầu.
Ông Nguyễn Văn Đ được quyền đi lại thăm nom con chung, không ai được cản trở. Vì quyền lợi của con chung, khi cần thiết các bên có quyền yêu cầu Tòa án thay đổi người trực tiếp nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con.
Về nợ chung: Ông Đ có trình bày có nợ chung nhưng không có tài liệu, chứng cứ gì thể hiện có số nợ chung này nên Tòa án không xem xét, giải quyết trong vụ án này mà tách ra giải quyết bằng vụ án khác khi các đương sự có yêu cầu.
- Ông Nguyễn Văn Đ phải chịu án phí phúc thẩm do kháng cáo của ông Đ không được Tòa án chấp nhận.
- Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI DÒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Thư |
Bản án số 66/2025/HNGĐ-PT ngày 09/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI về tranh chấp ly hôn, con chung
- Số bản án: 66/2025/HNGĐ-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, con chung
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 09/12/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn ông Nguyễn Văn Đ về quan hệ hôn nhân, nuôi con chung và nợ chung. Giữ nguyên Bản án số 98/2025/HNGĐ-ST ngày 29 tháng 8 năm 2025 Tòa án nhân dân khu vực 1 – Đồng Nai.
