Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN B – TỈNH BẾN TRE

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 66/2025/HN-ST

Ngày: 13/6/2025

V/v “Ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN B

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Văn Long

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Huỳnh Thị Bích Vân

2. Bà Nguyễn Thị Kim Thanh

- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Kim Loan – Thư ký Tòa án nhân dân huyện B, tỉnh Bến Tre.

Ngày 13 tháng 6 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện B xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 80/2025/TLST-HN ngày 07/3/2025 về việc “Ly hôn” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 71/2025/QÐST – HNGĐ ngày 21 tháng 4 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 34A/2025/QÐST-HNGĐ ngày 19 tháng 5 năm 2025 giữa các đương sự:

  • · Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1981 (yêu cầu xét xử vắng mặt).

    Địa chỉ: số B, ấp A, xã A, huyện B, tỉnh Bến Tre.

  • · Bị đơn: Anh Nguyễn Văn N, sinh năm 1982 (Vắng mặt).

    Địa chỉ: số B, ấp A, xã A, huyện B, tỉnh Bến Tre.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 19 tháng 02 năm 2025, trong quá trình tố tụng nguyên đơn chị Nguyễn Thị H trình bày:

Chị và anh Nguyễn Văn N quen biết nhau và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã A vào ngày 24/10/2002 trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện. Thời gian đầu chung sống hạnh phúc nhưng sau đó hai bên phát sinh mâu thuẫn, đến đầu năm 2023 mâu thuẫn đã trầm trọng, hôn nhân không còn hạnh phúc do vợ chồng không có thống nhất về vấn đề kinh tế, không còn tiếng nói chung trong tất cả các vấn đề. Anh N không còn quan tâm chăm sóc vợ con. Tuy chị và anh N còn đang sống chung nhà nhưng anh N không phụ chị công việc buôn bán và gia đình. Sáng là anh N đi đến tối mới về có khi đi xuyên đêm không về, hai bên không có ai nói chuyện với ai, không còn quan tâm chăm sóc nhau từ đầu năm 2023 cho đến nay. Chị xác định không còn tình cảm với anh N và kiên quyết yêu cầu ly hôn với anh N.

Về con chung: Trong thời gian chung sống có 01 con chung tên Nguyễn Thị Thu H1, sinh ngày 29/6/2002 hiện nay đã trưởng thành nên chị H không yêu cầu tòa án giải quyết.

Về tài sản chung: Không có.

Về nợ chung: Không có.

Trong quá trình tố tụng vụ án, bị đơn anh Nguyễn Văn N không có văn bản thể hiện ý kiến của mình về yêu cầu khởi kiện của chị H, không đến Tòa án để tham gia các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, vắng mặt tại phiên tòa xét xử sơ thẩm nên không có lời trình bày.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Qua nghiên cứu toàn bộ các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và thẩm tra công khai các chứng cứ tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về tố tụng: Chị Nguyễn Thị H vắng mặt và có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt, bị đơn anh Nguyễn Văn N được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vắng mặt không lý do. Căn cứ các Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt chị H, anh N.

[2]. Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị H và anh Nguyễn Văn N quen biết nhau rồi tiến đến hôn nhân và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã A, huyện B, tỉnh Bến Tre vào ngày 24/10/2002, hôn nhân hoàn toàn tự nguyện nên quan hệ hôn nhân giữa chị H và anh N là hợp pháp. Chị H yêu cầu ly hôn với anh N cho rằng thời gian đầu chung sống hạnh phúc nhưng sau đó hai bên phát sinh mâu thuẫn, đến đầu năm 2023 mâu thuẫn đã trầm trọng, hôn nhân không còn hạnh phúc do vợ chồng không có thống nhất về vấn đề kinh tế, không còn tiếng nói chung trong tất cả các vấn đề. Anh N không còn quan tâm chăm sóc vợ con. Tuy chị H và anh N còn đang sống chung nhà nhưng không còn quan tâm, chăm sóc nhau để duy trì hôn nhân hạnh phúc từ đầu năm 2023 cho đến nay. Chị H xác định không còn tình cảm với anh N nên kiên quyết yêu cầu ly hôn với anh N.

Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã nhiều lần tiến hành tổ chức phiên hòa giải để vợ chồng hàn gắn tình cảm nhưng anh N vắng mặt không có lý do, cũng không gửi văn bản thể hiện ý kiến muốn hàn gắn tình cảm với chị H. Điều đó thể hiện anh N đã không có thiện chí muốn vợ chồng đoàn tụ. Qua đó, đủ cơ sở xác định mâu thuẫn trong cuộc sống vợ chồng giữa chị H và anh N là trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu xin ly hôn của chị H là có căn cứ, phù hợp với quy định tại Điều 51, 56 Luật Hôn nhân và Gia đình nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[3]. Về con chung: có 01 con chung tên Nguyễn Thị Thu H1, sinh ngày 29/6/2002 hiện nay đã trưởng thành nên chị H không yêu cầu tòa án giải quyết.

[4]. Về tài sản chung: Chị H trình bày không có, anh N không có ý kiến nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[5]. Nợ chung: Chị H trình bày không có, anh N không có ý kiến nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[6]. Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) chị Nguyễn Thị H có nghĩa vụ nộp theo quy định tại Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ các Điều 51, 56, 59, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và Gia đình;

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Thị H đối với anh Nguyễn Văn N.
  2. Về con chung: có 01 con chung tên Nguyễn Thị Thu H1, sinh ngày 29/6/2002 đã trưởng thành không yêu cầu tòa án giải quyết.
  3. Về tài sản chung: Không có.
  4. Về nợ chung: Không có.
  5. Về án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm: 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) chị Nguyễn Thị H phải nộp nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) theo biên lai thu tiền số 0009090 ngày 19/02/2025 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện B. Án phí vụ kiện chị H đã nộp xong.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre xét xử phúc thẩm.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bến Tre;
  • - VKSND huyện B;
  • - Chi cục THADS huyện B;
  • - Các đương sự;
  • - UBND xã A;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(đã ký)

Phạm Văn L

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 66/2025/HN-ST ngày 13/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN B, TỈNH BẾN TRE về ly hôn

  • Số bản án: 66/2025/HN-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 13/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN B, TỈNH BẾN TRE
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị H
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger