|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH PHƯỚC |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 66/2025/DS-PT Ngày: 16 - 4 - 2025 V/v “Tranh chấp đơn phương chấm dứt hợp đồng thuê khoán” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH PHƯỚC
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên Tòa: Bà Nguyễn Thị Nga
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Văn Nhân
Ông Nguyễn Đình Loan
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tâm - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bình Phước.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Phước tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh M- Kiểm sát viên.
Trong các ngày 09/4 và 16 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bình Phước xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 02/2025/TLPT-DS ngày 02/01/2025 về việc “Tranh chấp đơn phương chấm dứt hợp đồng thuê khoán".
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 98/2024/DS-ST ngày 02/12/2024 của Tòa án nhân dân huyện Bù Đăng, tỉnh Bình Phước bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 38/2025/QĐ-PT ngày 10/03/2025, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ông Trần Quốc P, sinh năm 1962
Bà Khuất Mai X, sinh năm 1962
Địa chỉ: Ấp D, xã L, huyện T, tỉnh Đồng Nai
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Ông Nguyễn Thành T, sinh năm 1977. Địa chỉ: Khu Đ, TT Đ, huyện B, tỉnh Bình Phước
Bị đơn: Trần A N, sinh năm 1987.
Địa chỉ: Thôn I, xã Đ, huyện B, tỉnh Bình Phước
Người đại diện theo uỷ quyền của bị đơn: Ông Lê Văn N1, sinh năm 1969. Địa chỉ: Khu Đ, TT Đ, huyện B, tỉnh Bình Phước
2
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
Ông Nguyễn Hữu Đ, sinh năm 1988
Địa chỉ: Áp C, xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau
Người đại diện của ông Nguyễn Hữu Đ1 uỷ quyền: Ông Lê Văn N1, sinh năm 1969. Địa chỉ: Khu Đ, TT Đ, huyện B, tỉnh Bình Phước
Người kháng cáo: Bị đơn ông Trần A N2 người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Hữu Đ
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 31 tháng 07 năm 2024 và các lời khai tiếp theo, nguyên đơn trình bày: Ông Trần Quốc Pbà Khuất Mai X1 cho ông Trần A N3 chăm sóc và thu trái sầu riêng, nội dung hợp đồng ngày 21/12/2020 cho thuê khoảng 1.300 cây sầu riêng lớn nhỏ, thời hạn cho thuê là 7 năm. Giá cho thuê là 230.000.000đồng/1năm, thực tế 1300 cây sầu riêng lớn đang cho thu hoạch, còn những cây nhỏ mới trồng thì không đếm.
Theo thỏa thuận trong hợp đồng, ông N11 nghĩa vụ chăm sóc tốt cây sầu riêng, không được để cây sầu riêng bị tàn phá, bị mất sức đến chết cây. Do gia đình ông Pbà X2 sống tại huyện T, tỉnh Đồng Nainên sau khi ký kết hợp đồng đã giao lại toàn bộ cây sầu riêng cho ông N4 lý và chăm sóc. Cây sầu riêng nằm trên thửa đất số 05, tờ bản đồ số 46, diện tích 35448,8m² và thửa đất số 07, tờ bản đồ số 46, diện tích 22184,6m², toạ lạc tại Thôn B, xã Đ, huyện B, tỉnh Bình Phước, quyền sử dụng đất đứng tên vợ chồng ông P1 nay chúng tôi đã tặng cho quyền sử dụng đất cho con gái đồng sở hữu là Trần Ngọc H Trần Ngọc H1hồ sơ hoàn thành và cấp giấy chứng nhận mới vào ngày 15/07/2024.
Sau 03 năm quản lý, chăm sóc và thu hoạch, ông N5 thực hiện đúng nội dung đã cam kết, cụ thể nhiều cây sầu riêng trong vườn bị chết, nhiều cây đã bị chết nửa thân, gây thiệt hại rất lớn cho vườn sầu riêng của ông P5 XÔng Trần A N6 vi phạm hợp đồng, xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của ông Pbà X3 vậy xong mùa thu trái sầu riêng năm 2024 nguyên đơn yêu cầu chấm dứt hợp đồng thuê khoán với bị đơn và đã gửi thông báo chấm dứt hợp đồng cho bị đơn nhưng bị đơn không đồng ý nên nguyên đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết: Tuyên chấm dứt Hợp đồng thuê đất chăm sóc cây sầu riêng giữa ông Trần Quốc Pbà Khuất Mai X4 ông Trần A N7 ngày 21/12/2020.
Bị đơn ông Trần A N8 bày: Bị đơn đã nhận thông báo chấm dứt hợp đồng thuê khoán mà nguyên đơn gửi, bị đơn có ký hợp đồng chăm sóc, thu hoạch sầu riêng với bên nguyên đơn là đúng, khi ký hợp đồng các bên có đếm khoảng 1300 cây sầu riêng đang cho thu hoạch, còn lại những cây nhỏ, cây suy yếu, cây đã chết thì chúng tôi không đếm.
Khi ký hợp đồng thì vườn sầu riêng rất nhiều cây bị suy yếu, vì lúc đó là thời điểm mùa dịch C19 năm 2020 -2021, chúng tôi rất nỗ lực cứu cây, cây suy yếu nhẹ thì đã phục hồi, cây đã suy yếu nặng không thể cứu được thì đã chết, đặc
3
điểm việc cây chết không phải là chết ngay mà nó chết từ từ, 1, 2 hoặc 3 năm nó mới chết, vì vậy những cây đã chết trước đó thì năm nay chúng tôi mới trồng lại.
Nguyên đơn cho rằng nhiều cây sầu riêng tôi chăm sóc đã bị chết và yêu cầu chấm dứt hợp đồng thì tôi không đồng ý. Nếu Tòa án tuyên chấm dứt hợp đồng thì vấn đề bồi thường thiệt hại tôi sẽ khởi kiện trong vụ án khác.
Tôi có chuyển nhượng phần vốn góp của mình cho anh Đ1 hợp đồng là đúng. Hiện nay anh Đ9 người trực tiếp quản lý, đầu tư, chăm sóc và khai thác vườn sầu riêng.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Hữu Đ2 bày: Khi nguyên đơn và bị đơn ký kết hợp đồng ngày 21/12/2020, mặc dù tôi không đứng tên trong hợp đồng thuê khoán với nguyên đơn nhưng tôi có tham gia ngay từ đầu cùng với Trần A N, khi Nký hợp đồng với bên ông P2 có nhiều cây sầu riêng đã bị chết nên chúng tôi không ghi cây đã chết, nên chỉ ghi cây sống khoảng 1300 cây, sau khi N13 hợp đồng với bên ông P3, đối với những cây chết thì chúng tôi trồng lại luôn, hiện nay cao khoảng 3-5m, còn đối với những cây bị suy yếu không chết ngay, khoảng 1-2 năm sau thì mới chết, chúng tôi không thể cứu được nên cây đã chết thì chúng tôi mới trồng lại cây mới cao khoảng từ 1m đến 2m.
Khi A N2 ông P4 hợp đồng xong ngày 21/12/2020 thì đến ngày 25/12/2020 chúng tôi gồm có: Tôi Nguyễn Hữu ĐTrần A Nvà ông Vòng N9 N2có ký hợp đồng hợp tác cùng góp vốn kinh doanh và hưởng lợi, ngày 19/06/2024 ông Trần A N2 ông Vòng N9 N2đã ký hợp đồng chuyển nhượng toàn bộ vốn góp cho tôi, hiện nay tôi là người trực tiếp quản lý sử dụng vườn cây sầu riêng.
Nếu Tòa án tuyên chấm dứt hợp đồng thì tôi không đồng ý và vấn đề bồi thường thiệt hại tôi sẽ khởi kiện trong vụ án khác.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 98/2025/DS-ST ngày 02/12/2024 của Tòa án nhân dân huyện Bù Đăng đã quyết định:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, tuyên bố chấm dứt hợp đồng thuê khoán ngày 21/12/2020 giữa ông Trần Quốc P5 Khuất Mai Xvới ông Trần A N
(Về nghĩa vụ bàn giao tài sản giao khoán, vườn cây sầu riêng bên nguyên đơn đã nhận lại vườn cây. Việc giải quyết yêu cầu bồi thường thiệt hại của các bên được giải quyết trong vụ án khác khi các bên có yêu cầu theo quy định pháp luật).
Ngoài ra, Bản án sơ thẩm còn quyết định về án phí, nghĩa vụ thi hành án và quyền kháng cáo của các đương sự theo luật định.
Ngày 07/12/2024, bị đơn ông Trần A N10 đơn kháng cáo đề nghị Toà án cấp phúc thẩm sửa toàn bộ Bản án dân sự sơ thẩm số 98/2024/DS-ST ngày 02/12/2024 của Tòa án nhân dân huyện Bù Đăng, tỉnh Bình Phước theo hướng không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, đồng ý cho chúng tôi vẫn tiếp tục thực hiện hợp đồng thuê khoán đã ký ngày 21/12/2020.
4
Ngày 07/12/2024, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Hữu Đ3 đơn kháng cáo đề nghị Toà án cấp phúc thẩm sửa toàn bộ Bản án dân sự sơ thẩm số 98/2024/DS-ST ngày 02/12/2024 của Tòa án nhân dân huyện Bù Đăng, tỉnh Bình Phước theo hướng không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, đồng ý cho chúng tôi vẫn tiếp tục thực hiện hợp đồng thuê khoán đã ký ngày 21/12/2020.
* Tại phiên tòa phúc thẩm:
- - Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn ông N2 người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Đ4 nguyên yêu cầu kháng cáo.
- - Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị đơn ông N2 kháng cáo của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Đó giữ nguyên bản án sơ thẩm.
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Phước phát biểu:
Về việc tuân theo pháp luật: Kể từ khi thụ lý vụ án đến thời điểm xét xử phúc thẩm, Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Những người tham gia tố tụng chấp hành đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung: Với những chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên tòa đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự không chấp nhận kháng cáo của bị đơn ông N2 kháng cáo của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Đ. Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 98/2024/DS-ST ngày 02/12/2024 của TAND huyện Bù Đăng .
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định:
[1] Đơn kháng cáo của bị đơn ông Trần A N2 kháng cáo của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Hữu Đ5 trong thời hạn luật định, hình thức và nội dung phù hợp các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 nên cần xem xét giải quyết theo trình tự phúc thẩm.
[2] Xét yêu cầu kháng cáo của ông N2 ông Đ. Hội đồng xét xử phúc thẩm thấy rằng:
Ngày 21/12/2020, ông Trần Q P1và ông Trần A N11 ký hợp đồng thuê đất chăm sóc cây sầu riêng. Nội dung hợp đồng thể hiện trên đất có khoảng 1.300 cây sầu riêng lớn nhỏ, thời hạn cho thuê là 7 năm, giá thuê 230.000.000 đồng/năm. Ngoài ra, các bên còn thoả thuận trách nhiệm của bên thuê khoán là chăm sóc tốt cây sầu riêng, không để cây sầu riêng bị tàn phá và quá mất sức dẫn đến chết cây, các thoả thuận nghĩa vụ thanh toán khác. Những nội dung trên đều
5
được các bên thừa nhận nên là những tình tiết không cần phải chứng minh theo quy định tại điều 92 BLTTDS 2015.
Nguyên đơn cho rằng sau 4 năm cho thuê, hiện nay vườn sầu riêng có rất nhiều cây bị chết và hiện ông N5 phải là người trực tiếp quản lý, chăm sóc và thu hoa lợi nên nguyên đơn thông báo chấm dứt hợp đồng với bị đơn nhưng bị đơn không đồng ý nên đã nộp đơn khởi kiện ra Tòa án yêu cầu được đơn phương chấm dứt hợp đồng.
Theo quy định tại Điều 492 BLDS 2015 quy định về trường hợp đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng thuê khoán quy định:
“1. Trường hợp một bên đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng thì phải báo cho bên kia biết trước một thời gian hợp lý; Nếu thuê khoán theo thời vụ hoặc theo chu kỳ khai thác thì thời hạn báo trước phải phù hợp với thời vụ hoặc chu kỳ khai thác.
2. Trường hợp bên thuê khoản vi phạm nghĩa vụ mà việc khai thác đối tượng thuê khoán là nguồn sống duy nhất của bên thuê khoán và việc tiếp tục thuê khoán không làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến lợi ích của bên cho thuê khoán thì bên cho thuê khoán không được đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng; bên thuê khoản phải cam kết với bên cho thuê khoán không được tiếp tục vi phạm hợp đồng.”
Xét thấy, theo tài liệu chứng cứ phía nguyên đơn cung cấp thể hiện Thông báo chấm dứt hợp đồng thuê khoán được ông Plgửi cho ông N12 ngày 21/7/2024, đây là thời điểm đã kết thúc mùa vụ sầu riêng năm 2024. Nguyên đơn đã đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp cho bị đơn là được thu xong sầu riêng mùa vụ 2024 nên thời gian ra thông báo chấm dứt hợp đồng thuê khoán của nguyên đơn là phù hợp với quy định của pháp luật.
Theo biên bản xem xét thẩm định tại chỗ của Toà án nhân dân tỉnh Bình Phước ngày 28/02/2025 thì số lượng cây sầu riêng đang cho thu hoạch bị chết là 67 cây, số lượng cây chết nửa cây trên là 28 cây. Từ khi nhận thuê vườn sầu riêng của ông P2 phía bị đơn thừa nhận không trồng thêm bất cứ cây sầu riêng nào ngoài việc dặm lại 67 cây đã chết vào năm 2024 vào vị trí gốc cây chết. Nguyên nhân cây chết theo lời trình bày của những người làm chứng có vườn sầu riêng gần với vườn của ông P2 chủ yếu do việc chăm sóc không đảm bảo và tưới không đủ nước. Cụ thể tại các lời khai: ông Phạm Văn H1 bày “ông H2trồng khoảng 140 cây trồng năm 2015, bị chết 10 cây, lý do cây chết là do mùa khô tưới không đủ nước...”, bà Nông Thị B bày “thời tiết khí hậu không làm ảnh hưởng gì đến vườn sầu riêng”, ông Hấu P6 H3trình bày “rẫy nhà ông trồng khoảng 1.500 cây do tôi chăm sóc tưới nước đầy đủ nên chỉ bị chết khoảng 3-4 cây, nguyên nhân do sâu bệnh, không bị chết vì những nguyên nhân nào khác.”..
Ngoài ra, tại Công văn số 540/STNMT-TTBVTV ngày 27/3/2025 của Sở N3khẳng định: Trong khoảng thời gian từ năm 2022 đến 2023 tình hình thời tiết,
6
khí hậu và diễn biến sâu bệnh trên địa bàn huyện B ghi nhận dịch bệnh và thời tiết cực đoan nào xảy ra gây thiệt hại đến các loại cây trồng trong đó có cây sầu riêng...Tình hình sinh trưởng cây sầu riêng trên địa bàn là ổn định, không bị ảnh hưởng bởi dịch bệnh và thiên tai. Như vậy, việc ông P7 rằng quá trình ông N4 lý chăm sóc vườn sầu riêng đã làm chết 95 cây (trong đó chết toàn thân 67 cây và chết nữa thân 28 cây) đang cho thu hoạch là có căn cứ. Ông Nó trồng dặm lại 67 cây chết nhưng cây còn nhỏ, chỉ mới cao khoảng 1 -2 m nên không thể mang lại giá trị kinh tế bằng 67 cây đang cho thu hoạch lúc ban đầu. Mặt khác, theo biên bản đối chất thì cả hai bên đều thừa nhận hợp đồng thuê khoán này các bên không được quyền cho thuê lại. Đến ngày 25/12/2020 chỉ sau 4 ngày kể từ khi ông A N13 hợp đồng thuê đất chăm sóc cây sầu riêng với ông Pông A N14 tự ý ký hợp đồng hợp tác với ông Nguyễn Hữu Đó ông Vòng N9 N2nhưng không báo cho ông P8. Đồng thời, quá trình giải quyết tại cấp sơ thẩm và tại phiên toà phúc thẩm bị đơn cũng thừa nhận và cung cấp tài liệu chứng cứ thể hiện bị đơn đã chuyển nhượng phần vốn góp và chuyển giao vườn sầu riêng cho ông Đ7 sóc quản lý từ ngày 19/6/2024 nên bị đơn không còn trực tiếp quản lý, canh tác thu hoa lợi đối với vườn sầu riêng. Việc bị đơn chuyển nhượng lại phần vốn góp này không được thông báo cho nguyên đơn và nguyên đơn không đồng ý việc giao kết giữa ông A N2 ông Đ8 bị đơn đã là vi phạm nghiêm trọng thỏa thuận của hai bên đã được ghi nhận trong hợp đồng, vi phạm quy định tại Điều 490 Bộ luật dân sự năm 2015, đây là căn cứ để nguyên đơn đơn phương chấm dứt hợp đồng. Đồng thời, hợp đồng chuyển nhượng phần vốn góp này cũng chứng minh bị đơn không trực tiếp canh tác thu hoa lợi, như vậy đối tượng thuê khoán không phải là nguồn sống duy nhất của bên thuê khoán.
Xét thấy, việc tiếp tục cho thuê khoán sẽ làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến lợi ích bên cho thuê khoán; việc nguyên đơn đơn phương chấm dứt hợp đồng, không vi phạm điều kiện không được đơn phương chấm dứt hợp đồng theo quy định của điều 492 BLDS 2015. Vì vậy, yêu cầu chấm dứt hợp đồng thuê khoán ngày 21/12/2020 của nguyên đơn là có căn cứ nên kháng cáo của bị đơn ông Trần A N2 người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Hữu Đ9 không có cơ sở để chấp nhận.
Mặc dù, quá trình giải quyết tại cấp sơ thẩm không đưa ông Vòng N9 N2vào tham gia với tư cách là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là có thiếu sót, tuy nhiên do các bên đều không yêu cầu tòa án giải quyết hậu quả của việc đơn phương chấm dứt hợp đồng nên việc không đưa ông N9 N2vào tham gia tố tụng trong vụ án không làm ảnh hưởng hưởng đến việc giải quyết vụ án. Các bên đều thống nhất nếu Tòa tuyên chấm dứt hợp đồng sẽ khởi kiện thành một vụ án khác để yêu cầu bồi thường. Do vậy, Tòa án sơ thẩm tuyên chấm dứt hợp đồng và không giải quyết hậu quả của việc đơn phương chấm dứt hợp đồng là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.
7
Bị đơn ông N2và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Đkháng C nhưng không đưa ra được tài liệu chứng cứ nào mới chứng minh cho yêu cầu kháng cáo của mình là có căn cứ. Do vậy, cần giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 98/2024/DS-ST ngày 02/12/2024 của Tòa án nhân dân huyện Bù Đăng .
[3] Án phí dân sự phúc thẩm: Do yêu cầu kháng cáo không được chấp nhận nên ông N2và ông Đ10 chịu án phí theo quy định.
[4] Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ tại cấp phúc thẩm số tiền 5.000.000 (năm triệu) đồng ông N2đã nộp. Do yêu cầu kháng cáo không được chấp nhận nên ông N2phải chịu số tiền trên, ông N2đã nộp đủ.
[5] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa có căn cứ, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015;
Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn ông Trần A N2 kháng cáo của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Hữu Đ
Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 98/2024/DS-ST ngày 02/12/2024 của Tòa án nhân dân huyện Bù Đăng, tỉnh Bình Phước.
Căn cứ vào các Điều 385, 428, 483, 490, 492 Bộ luật dân sự 2015;
Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/NQUBTVQH 14 ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí của Toà án;
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Trần Quốc P và bà Khuất Mai X5 bố chấm dứt hợp đồng thuê đất chăm sóc cây sầu riêng ngày 21/12/2020 giữa ông Trần Quốc P5 Khuất Mai Xvới ông Trần A N
(Về nghĩa vụ bàn giao tài sản giao khoán, hiện vườn cây sầu riêng bên nguyên đơn đã nhận lại vườn cây. Việc giải quyết yêu cầu bồi thường thiệt hại của các bên sẽ được giải quyết bằng vụ án khác khi các bên có yêu cầu theo quy định của pháp luật).
2. Về án phí dân sự sơ thẩm:
Bị đơn ông Trần A N phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng.
Nguyên đơn ông Trần Quốc P9 phải chịu. Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bù Đăng hoàn trả lại cho ông P10 tiền 300.000 đồng đã nộp theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0009329 ngày 01/10/2024.
Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ tại cấp phúc thẩm số tiền 5.000.000 (năm triệu) đồng, ông Trần A N15 chịu và đã nộp đủ.
8
3. Án phí dân sự phúc thẩm: Ông Trần A N15 chịu số tiền 300.000 đồng được trừ vào số tiền 300.000 (ba trăm nghìn) đồng tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tiền số 0009513 ngày 12/12/2024 Chi cục thi hành án dân sự huyện Bù Đăng, tỉnh Bình Phước
Ông Nguyễn Hữu Đ10 chịu số tiền 300.000 đồng được trừ vào số tiền 300.000 (ba trăm nghìn) đồng tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tiền số 0009514 ngày 12/12/2024 Chi cục thi hành án dân sự huyện Bù Đăng, tỉnh Bình Phước
4. Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Nga |
9
Bản án số 66/2025/DS-PT ngày 16/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH PHƯỚC về tranh chấp đơn phương chấm dứt hợp đồng thuê khoán
- Số bản án: 66/2025/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp đơn phương chấm dứt hợp đồng thuê khoán
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 16/04/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH PHƯỚC
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trần Quốc Ph kiện Trần A N
