TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KIÊN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 66/2025/DS-PT Ngày 07/3/2025 V/v "Tranh chấp QSDĐ” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH KIÊN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Quang Tấn
Các Thẩm phán: Ông Trần Bình Đảo
Ông Trần Bá Kha
- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Quốc Sang - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Kiên Giang tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Lành - Kiểm sát viên.
Trong ngày 07 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 252/2024/TLPT-DS ngày 06 tháng 11 năm 2024 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 105/2024/DS-ST ngày 27 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 15/2025/QĐ-PT ngày 07 tháng 02 năm 2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Lê Nhựt T, sinh năm 1978 (có mặt)
- Bị đơn: Ông Lê Hồng K, sinh năm 1968 (có mặt)
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Địa chỉ: Số A N, khu phố E, phường V, thành phố R, tỉnh Kiên Giang.
Địa chỉ: Ấp Thuận Hoà, xã Bình Sơn, huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang
3.1. Bà Tiền Thị K1, sinh năm 1966 (có mặt)
Địa chỉ: Ấp T, xã B, huyện H, tỉnh Kiên Giang
3.2. Bà Lê Ngọc B, sinh năm 1979 (có mặt).
Địa chỉ: Số I Khóm H, phường A, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu.
Người kháng cáo: Ông Lê Hồng K.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo nội dung khởi kiện và tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn ông Lê Nhựt T trình bày như sau:
Nguyên vào ngày 16/05/2022 ông có nhận chuyển nhượng một diện tích đất của ông Dương Hải Đ và được UBND huyện H chấp thuận đánh biến động chuyển nhượng sang tên theo quy định của pháp luật, với diện tích là 1410,00m²; đất tọa lạc tại tổ G, ấp T, xã B, huyện H, tỉnh Kiên Giang; tại tờ bản đồ số 03; thửa đất số 70; 105a, (trong đó có 300m² đất thổ cư và 1.110,00m² đất trồng cây nông nghiệp). Đất có vị trí: phía đông bắc giáp Quốc lộ H cạnh = 30m; phía đông nam giáp ông Lê Hồng K, cạnh BC=47m; phía tây nam giáp kinh 200 cạnh CD=30; phía tây bắc giáp Dương Văn N cạnh AD=47m. Nay ông khởi công xây dựng hàng rào bao giáp ranh toàn bộ diện tích đất, thì ông Lê Hồng K, không biết nguyên nhân nào mà đứng ra ngăn cản và nói ông lấn chiếm đất của ông K. Ông có làm đơn yêu cầu hòa giải tranh chấp quyền sử dụng đất đến UBND xã B xem xét giải quyết, nhưng hòa giải không thành, ông Lê Hồng K cứ cho rằng ông lấn vào đất của ông K bề ngang 2m chạy dài 47m, như vậy mất đi phần đất của ông là 94m². Do đó ông T khởi kiện yêu cầu Toà án giải quyết buộc ông K phải trả lại diện tích 94m² đất này.
Tuy nhiên theo Tờ trích đo địa chính số TĐ 36 – 2024 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện H đã xác định diện tích đất tranh chấp là 01 hình tam giác chỉ có 52,0m² đất nên ông thay đổi một phần yêu cầu khởi kiện, yêu cầu Toà án giải quyết công nhận phần đất tranh chấp 52m² thuộc quyền sử dụng đất của ông; buộc ông Lê Hồng K và bà Tiền Thị K1 trả cho ông diện tích 52m² đất tranh chấp để ông đủ diện tích được cấp trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
* Bị đơn ông Lê Hồng K trình bày:
Nguồn gốc đất ông đang sử dụng là của cha mẹ ông mua lại từ những người dân làm kinh tế mới, sau đó khai phá, cải tạo sử dụng đến nay. Ông là người ở trên đất từ nhỏ đến bây giờ nên biết ranh giới đất đến đâu. Trước đây đất có bằng khoán xanh đứng tên cha ông tên Lê Văn Q. Sau này làm lại giấy, do sợ quá mức hạn điền nên cha ông để cho con đứng tên mỗi người một phần. Đối với phần đất giáp lộ hiện nay ông đang ở thì ông Lê Văn Q để cho em ông tên Lê Hồng K2 đứng tên. Đất đứng tên từng người nhưng đất vẫn là của cha mẹ để lại. Khi còn sống cha ông có nói sau này nếu ai không có nhà ở thì về cất nhà phần đất giáp lộ này để ở. Đến khi ông K2 chết, cách đây khoảng 3-4 năm, thì em dâu ông (là vợ sau của ông K2) tên B về tự ý sang tên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất từ ông K2 sang cho bà B rồi đem giấy đó thưa ông tại Tòa. Nên hiện nay phần đất này đang đứng tên bà B nhưng người quản lý, sử dụng đất là gia đình ông.
Ông K không xác định được đất của ông có chiều ngang bao nhiêu nhưng gia đình ông đã sử dụng đất từ 40 năm nay, ông có trồng hàng cây làm ranh là các cây mít, cây dừa, mai. Ông xác định không có lấn đất của ông T. Phần đất của ông T là mua của ông Dương Hải Đ. Khi ông T mua của ông Đ không có ký giáp ranh, ông chỉ ký giáp ranh khi ông Đ làm thủ tục cấp Giấy trước đây.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, bà Tiền Thị K1 trình bày:
Bà thống nhất với ý kiến trình bày của ông Lê Hồng K, không bổ sung gì thêm.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, bà Lê Ngọc B trình bày:
Phần đất này nguồn gốc của cha mẹ chồng cho lại chồng bà tên Lê Hồng K2 vào năm 2003. Chồng bà được đứng tên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 24/7/2003. Đến năm 2020 ông Lê Hồng K2 chết. Năm 2021 bà và các con về làm thủ tục nhận thừa kế đất từ ông K2. Đến ngày 30/3/2021 bà được đánh biến động thừa kế sang tên quyền sử dụng đất. Diện tích đất được cấp trong Giấy chứng nhận của ông K2 đứng tên là 35.259m² đất. Đất của ông K2 được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trước đây có chiều ngang 29,7m thì bà yêu cầu tính đủ 29,7m. Căn cứ theo Tờ trích đo địa chính của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện H, bà thấy đất của ông K2 được cấp không bị thiếu nên bà không có tranh chấp gì với ông Lê Nhựt T.
Bản án dân sự sơ thẩm số 105/2024/DS-ST ngày 27 tháng 8 năm 2024 của
Tòa án nhân dân huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang đã quyết định:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Lê Nhựt T.
- - Cạnh 2-4 giáp đất ông Lê Nhựt T sử dụng ổn định (trong đó cạnh 2-3 dài 45,01m và cạnh 3-4 dài 5,00m).
- - Cạnh 4-10 giáp Kênh 200 là 2,08m.
- - Cạnh 10-2 giáp đất ông Lê Hồng K đang sử dụng ổn định (trong đó cạnh 10-11 dài 5,00m; cạnh 11-2 dài 44,98m)
- Buộc ông Lê Hồng K và bà Tiền Thị K1 phải trả cho ông Lê Nhựt T diện tích 52m² đất nêu trên để ông Lê Nhựt T được thực hiện các quyền của người sử dụng đất.
Công nhận diện tích đất 52m² theo đo đạc thực tế (trong đó có 9,9m² đất phạm vi BVCT thuỷ lợi) thuộc quyền sử dụng của ông Lê Nhựt T theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số R909839 do UBND huyện H cấp ngày 26/12/2001. Đất có hình 2-3-4-10-11-2, cụ thể các cạnh như sau:
(Đất tọa lạc tại ấp T, xã B, huyện H, tỉnh Kiên Giang theo Tờ Trích đo địa chính số TĐ 36 - 2024 ngày 20/3/2024 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện H).
Ghi nhận sự tự nguyện của ông Lê Nhựt T bồi hoàn cho ông Lê Hồng K gía trị các cây trồng trên đất theo giá thẩm định là 3.173.000 đồng (Ba triệu, một trăm bảy mươi ba nghìn đồng).
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên phần án phí, chi phí xem xét thẩm định tại chỗ, chi phí định giá tài sản và quyền kháng cáo của các đương sự.
Ngày 11 tháng 9 năm 2024, bị đơn ông Lê Hồng K có đơn kháng cáo sửa bản án sơ thẩm với nội dung:
- Bác yêu cầu khởi kiện của ông Lê Nhựt T.
- Giữ nguyên hiện trạng diện tích đất 52m² cho gia đình ông K được toàn quyền quản lý và sử dụng.
Tại phiên tòa phúc thẩm bị đơn giữ nguyên nội dung kháng cáo. Tự nguyện thỏa thuận đồng ý giao diện tích đất tranh chấp 52m² cho gia đình ông T sử dụng nhưng ông T phải trả giá trị quyền sử dụng đất cho gia đình ông là 50.000.000 đồng
Nguyên đơn ông Lê Nhựt T đồng ý với sự tự nguyện thỏa thuận của bị đơn ông Lê Hồng K.
Các đương sự tự hòa giải với nhau được, yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm ghi nhận sự tự thỏa thuận tại phiên Tòa.
Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến kết luận vụ án: Thẩm phán, Hội đồng xét xử phúc thẩm và các đương sự từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm nghị án đã thực hiện và chấp hành đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung vụ án: Nội dung kháng cáo của bị đơn đã được các đương sự tự thỏa thuận đúng pháp luật tại phiên tòa. Đề nghị HĐXX phúc thẩm ghi nhận sự tự thỏa thuận này, áp dụng khoản 2 Điều 308 BLTTDS sửa án sơ thẩm.
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, các quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Nguyên đơn ông Lê Nhựt T yêu cầu bị đơn ông Lê Hồng K, bà Tiền Thị K1 trả lại quyền sử dụng đất. Do đó, cấp sơ thẩm xác định quan hệ pháp luật “Tranh chấp quyền sử dụng đất ” là phù hợp quy định của pháp luật.
[1.2] Sự vắng mặt của các đương sự:
Các đương sự có mặt tại phiên Toà, bị đơn kháng cáo hợp lệ. Hội đồng xét xử tiến hành xét xử phúc thẩm theo quy định Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về nội dung vụ án:
Căn cứ vào lời trình bày của các đương sự, tài liệu chứng cứ do các bên đương sự giao nộp và Tòa án thu thập được thể hiện: Ông Lê Nhựt T tranh chấp diện tích đất theo đo đạc thực tế 52m² đối với ông Lê Hồng K, bà Tiền Thị K1, diện tích đất này tọa lạc tại ấp B (nay là ấp T), xã B, huyện H, tỉnh Kiên Giang. Ông Lê Hồng K cho rằng diện tích tranh chấp 52m2 nằm trong phần đất của gia đình ông đã sử dụng đất từ 40 năm nay, ông có trồng hàng cây làm ranh là các cây mít, cây dừa, mai. Ông xác định không có lấn đất của ông T.
[3] Hội đồng xét xử xét thấy : Nguồn gốc quyền sử dụng đất của ông Lê Nhựt T là của ông Giang Thanh H chuyển nhượng cho ông Dương Hải Đ, sau đó ông Dương Hải Đ chuyển nhượng cho ông Lê Nhựt T đất có chiều ngang mặt tiền và mặt hậu là 30m; chiều dài là 47m. Ranh đất mặt tiền có trụ đá các bên đã thống nhất, không tranh chấp. Khi ông Lê Nhựt T tiến hành xây dựng công trình trên đất thì hai bên phát sinh tranh chấp phần ranh đất phía sau hậu có chiều ngang là 2,08m.
Nguồn gốc quyền sử dụng đất của ông Lê Hồng K là do cha mẹ ông Lê Hồng K mua lại từ những người dân làm kinh tế mới, sau đó khai phá, cải tạo sử dụng đến nay. Năm 1995 ông Lê Hồng K2 (là em ông K) được cấp Giấy chứng nhận diện tích 35.259m² đất, trong đó có diện tích đất hiện nay ông K đang quản lý, sử dụng. Đến năm 2003 ông Lê Hồng K2 được cấp đổi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số V974132 với diện tích đất này. Đến ngày 30/3/2021 bà Lê Ngọc B làm thủ tục nhận thừa kế quyền sử dụng đất đối với diện tích đất ông Lê Hồng K2 đứng tên (do ông K2 chết năm 2020). Hiện nay bà B xác định không có tranh chấp gì với ông Lê Nhựt T vì qua đo đạc thực tế thì phần đất ông K đang quản lý, sử dụng nhưng bà đang đứng tên quyền sử dụng đất không bị thiếu so với số đo trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của bà.
Xét về hiện trạng đất thực tế hai bên sử dụng:
Theo các tài liệu thu thập được thì phần đất thuộc quyền sử dụng của ông Lê Nhưt T1 có chiều ngang 30m, chiều dài 47m; tuy nhiên hiện trạng sử dụng đất theo đo đạc thực tế có chiều ngang mặt tiền đường là 30m, chiều ngang mặt hậu 27,92m. Như vậy chiều ngang đất sau hậu giáp kênh 200 của ông T1 ít hơn so với Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông nhận chuyển nhượng từ ông Dương Hải Đ, nếu tính cả phần đất tranh chấp thì ông T1 mới đủ chiều ngang đất được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Đối với phần đất ông Lê Hồng K đang quản lý, sử dụng (hiện nay đang đứng tên bà Lê Ngọc B – là em dâu ông K) có chiều ngang mặt tiền đường là 32,91m, chiều ngang hậu là 31,78m. Trong khi các tài liệu chứng minh quyền sử dụng đất đứng tên ông Lê Hồng K2 (chồng bà B) chỉ thể hiện phần đất có chiều ngang là 29,7m. Như vậy gia đình ông K đang quản lý, sử dụng đất nhiều hơn cho với diện tích đất được cấp trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên ông K2 và hiện nay đứng tên bà B.
Quá trình giải quyết vụ án, ông Lê Hồng K cho rằng phần đất gia đình ông đang sử dụng có chiều ngang khoảng 12 tầm (tương đương 36m) từ mặt tiền quốc lộ H chạy dài qua kênh 200, gia đình ông đã sử dụng đất từ 40 năm nay, ông có trồng hàng cây làm ranh là các cây mít, cây dừa, mai. Tuy nhiên ông K không đưa ra được chứng cứ gì để chứng minh. Mặc khác bà B là người đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cũng xác nhận phần đất tranh chấp chỉ có chiều ngang là 29,7m. Xét thấy diện tích đất của ông Lê Nhựt T đang sử dụng thực tế bị thiếu, trong khi diện tích thực tế ông Lê Hồng K đang quản lý sử dụng nhiều hơn so với diện tích đất được cấp trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông K2 ( đánh biến động sang bà B), nếu trả 52m² đất cho ông T thì phần đất ông K quản lý, sử dung thực tế dẫn nhiều hơn diện tích đất cấp trong giấy. Do đó Toà sơ thẩm xử chấp nhận nội dung khởi kiện của ông T công nhận diện tích đất tranh chấp 52m² cho ông T sử dụng là có căn cứ, phù hợp theo quy định tại khoản 5, 7 Điều 166 Luật Đất đai năm 2013.
Tuy nhiên tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay, ông K, bà K1, ông T tự nguyện thỏa thuận chấm dứt nội dung tranh chấp diện tích đất 52m², ông K, bà K1 tự nguyện giao phần đất tranh chấp cho gia đình ông T đủ diện tích ngang 30m, ông T tự nguyện hỗ trợ ông K, bà K1 giá trị quyền sử dụng đất, và các cây trồng trên đất số tiền 50.000.000 đồng, tự nguyện chịu toàn bộ chi phí tố tụng không yêu cầu ông K, bà K1 chịu. xét thấy sự tự nguyện thỏa thuận của các bên phù hợp. Hội đồng xét xử ghi nhận sự tự nguyện thỏa thuận này, sửa bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện Hòn Đất.
Vì vậy, sau khi thảo thuận và nghị án, Hội đồng xét xử thống nhất chấp nhận đề nghị của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa, chấp nhận nội dung kháng cáo của các bị đơn ông Lê Hồng K, bà Tiền Thị K1. Sửa bản án dân sự sơ thẩm số 105/2024/DS-ST ngày 27 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang.
Do các đương sự tự nguyện thỏa thuận tại phiên Tòa nên HĐXX sửa án sơ thẩm, tình tiết khách quan. Cấp sơ thẩm không có lỗi.
[4] Về án phí:
[4.1] Án phí dân sự sơ thẩm:
Ông K phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[4.2] Án phí dân sự phúc thẩm:
Do kháng cáo của ông Lê Hồng K, bà Tiền Thị K1 được Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận, nên ông K, bà K1 không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm. Trả lại tiền tạm ứng án phí phúc thẩm cho ông K, bà K1.
[5] Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và chi phí định giá tài sản:
Chi phí trích lục hồ sơ; chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá tài sản là 12.488.000 đồng (mười hai triệu, bốn trăm tám mươi tám nghìn đồng). Ông Lê Nhựt T đã tạm ứng số tiền này trước, tự nguyện chịu không yêu cầu ông Lê Hồng K hoàn trả.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Áp dụng Điều 100, 166, 170, 202, 203 Luật đất đai năm 2013;
Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Không Chấp nhận kháng cáo của bị đơn ông Lê Hồng K, bà Tiền Thị K1.
Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 105/2024/DS-ST ngày 27 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang.
Tuyên xử:
- Ghi nhận sự tự nguyện thỏa thuận của các đương sự ông Lê Nhựt T, ông Lê Hồng K, bà Tiền Thị K1 tại phiên Tòa.
- - Cạnh 2-4 giáp đất ông Lê Nhựt T sử dụng ổn định (trong đó cạnh 2-3 dài 45,01m và cạnh 3-4 dài 5,00m).
- - Cạnh 4-10 giáp Kênh 200 là 2,08m.
- - Cạnh 10-2 giáp đất ông Lê Hồng K đang sử dụng ổn định (trong đó cạnh 10-11 dài 5,00m; cạnh 11-2 dài 44,98m)
- Ông Lê Hồng K và bà Tiền Thị K1 tự nguyện giao trả cho ông Lê Nhựt T diện tích 52m² đất nêu trên để ông Lê Nhựt T được thực hiện các quyền của người sử dụng đất.
- Về án phí:
- - Ông Lê Hồng K phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
- - Hoàn trả cho ông Lê Nhựt T số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tiền số 0004158 ngày 09/11/2022 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hòn Đất.
- Chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và chi phí định giá tài sản:
- Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung.
- Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
Công nhận diện tích đất 52m² theo đo đạc thực tế (trong đó có 9,9m² đất phạm vi BVCT thuỷ lợi) thuộc quyền sử dụng của ông Lê Nhựt T theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số R909839 do UBND huyện H cấp ngày 26/12/2001. Đất có hình 2-3-4-10-11-2, cụ thể các cạnh như sau:
(Đất tọa lạc tại ấp T, xã B, huyện H, tỉnh Kiên Giang theo Tờ Trích đo địa chính số TĐ 36 - 2024 ngày 20/3/2024 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện H).
Ghi nhận sự tự nguyện của ông Lê Nhựt T bồi hoàn cho ông Lê Hồng K, giá trị quyền sử dụng đất, giá trị các cây trồng trên đất theo giá thỏa thuận là 50.000.000 đồng (Năm mươi triệu đồng).
3.1. Án phí dân sự sơ thẩm:
3.2. Án phí dân sự phúc thẩm: Ông Lê Hồng K, bà Tiền Thị K1 được trả lại án phí dân sự phúc thẩm 300.000đ. Theo lai thu số 0001300 ngày 11/9/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hòn Đất.
Chi phí trích lục hồ sơ; chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá tài sản là 12.488.000 đồng (mười hai triệu, bốn trăm tám mươi tám nghìn đồng). Ông Lê Nhựt T đã tạm ứng số tiền này trước, tự nguyện chịu không yêu cầu ông Lê Hồng K hoàn trả.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Quang Tấn |
Bản án số 66/2025/DS-PT ngày 07/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KIÊN GIANG về tranh chấp quyền sử dụng đất
- Số bản án: 66/2025/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 07/03/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KIÊN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ông T khởi kiện yêu cầu buộc ông K phải trả lại diện tích 94m2
