|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 812/2024/DS-ST
Ngày: 30-9-2024
V/v tranh chấp hợp đồng vay tài sản
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BC – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lại Phước Trường
Các Hội thẩm nhân dân.
- Ông Võ Hoàng Thu;
- Bà Nguyễn Ngọc Thuỷ.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Xuân Thành – Thư ký Tòa án nhân dân huyện BC, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện BC, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Vũ Thị Thái – Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện BC, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 568/2024/TLST-DS ngày 02 tháng 7 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 853/2024/QĐXXST- DS ngày 22 tháng 8 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 717/2024/QĐST-DS ngày 13 tháng 9 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Công ty Tài Chính Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên MT (Việt Nam).
Địa chỉ trụ sở: X đường P, phường BN, Quận Y, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn là: Công ty Luật Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên TNT.
Địa chỉ: A TXS, phường TH, Quận M, Thành phố Hồ Chí Minh (theo văn bản ủy quyền số 04/2024/GUQ-MAFC ngày 01/01/2024).
Người được ủy quyền của Công ty Luật Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên TNT là bà Nguyễn Thị Lan A, sinh năm: 2000 (theo giấy ủy quyền ngày 01/02/2024).
- Bị đơn: Bà Trần Ngọc T, sinh năm: 2004
Hộ khẩu thường trú: 4B121/6 tổ 9, ấp 4, xã Phạm Văn Hai, huyện BC, Thành phố Hồ Chí Minh;
Chỗ ở hiện nay: 4B117/6 ấp 14, xã Phạm Văn Hai, huyện BC, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện đề ngày 15/3/2024, bản tự khai và tại phiên tòa sơ thẩm hôm nay, nguyên đơn Công ty Tài Chính Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên MT (Việt Nam) (sau đây viết là Công ty Tài chính MT) do bà Nguyễn Thị Lan A đại diện hợp pháp trình bày:
Ngày 20/11/2022 Công ty Tài chính MT và bà Trần Ngọc T ký giấy đề nghị vay vốn kiêm Hợp đồng tín dụng số 3984991 (sau đâu gọi là hợp đồng tín dụng). Công ty Tài chính MT đã cho bà T vay số tiền là 30.000.000₫ (Ba mươi triệu đồng), mục đích vay là mua hàng hóa, lãi suất vay là 48%/năm. Sau khi ký hợp đồng tín dụng thì Công ty Tài chính MT đã giải ngân số tiền vay 30.000.000 đồng cho bà T. Theo thỏa thuận trong hợp đồng thì bà T có nghĩa vụ thanh toán là trả góp hàng tháng với số tiền là 2.696.529 đồng trong kỳ hạn 15 tháng kể từ ngày 15/12/2022 đến ngày 15/02/2024. Trong quá trình thực hiện hợp đồng thì bà Trần Ngọc T mới chỉ thanh toán trả góp cho Công ty Tài chính MT được 03 kỳ với tổng số tiền đã thanh toán là: 8.131.000 đồng. Từ ngày 22/02/2023 đến nay thì bà T không tiếp tục thực hiện nghĩa vụ thanh toán theo hợp đồng tín dụng đã ký. Công ty đã nhiều lần nhắc nợ qua điện thoại nhiều lần cũng như gửi thư đề nghị thanh toán đến bà Trần Ngọc T để yêu cầu bà Trần Ngọc T thực hiện nghĩa vụ thanh toán nợ nhưng bà T vẫn không trả nợ cho Công ty.
Nay Công ty Tài chính MT yêu cầu bà Trần Ngọc T thanh toán cho Công ty số tiền nợ còn thiếu tạm tính đến ngày 30/9/2024 là: 51.342.042đ (Năm mươi mốt triệu ba trăm bốn mươi hai ngàn không trăm bốn mươi hai đồng), trong đó: tiền nợ gốc là: 25.140.386 đồng, tiền lãi trong hạn là: 6.306.228 đồng, tiền lãi quá hạn là: 19.094.250 đồng, tiền lãi chậm trả là: 801.178 đồng. Yêu cầu thanh toán làm một lần ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.
Bà Trần Ngọc T tiếp tục trả lãi phát sinh kể từ ngày 01/10/2024 cho đến khi thanh toán xong khoản vay.
- Bị đơn bà Trần Ngọc T vắng mặt nên Tòa án không ghi nhận được lời khai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện BC phát biểu ý kiến:
Việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán và của Hội đồng xét xử kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử vào nghị án đã đảm bảo các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: nguyên đơn đã chấp hành đúng các quy định tại Điều 70,71 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn chưa chấp hành đúng các quy định tại Điều 70, 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Việc đưa vụ án ra xét xử đúng theo quy định của pháp luật.
Về nội dung giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Về án phí: Bị đơn phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1]. Về tố tụng và thẩm quyền giải quyết:
Công ty Tài Chính Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên MT (Việt Nam) khởi kiện yêu cầu bà Trần Ngọc T phải thanh toán tiền gốc và tiền lãi phát sinh đối với khoản vay theo giấy đề nghị vay vốn kiêm hợp đồng tín dụng số 3984991 ngày 20/11/2022. Đây là tranh chấp về hợp đồng dân sự vay tài sản thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện BC theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Bị đơn bà Trần Ngọc T đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng triệu tập đến Tòa án để tự khai, hòa giải, tham gia phiên tòa nhưng bà Trần Ngọc T đều vắng mặt không có lý do. Vì vậy căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự Tòa án tiến hành xét xử vụ án.
[2]. Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ do nguyên đơn cung cấp có cơ sở xác định vào ngày 20/11/2022, Công ty Tài Chính Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên MT (Việt Nam) và bà Trần Ngọc T có ký kết giấy đề nghị vay vốn kiêm hợp đồng tín dụng số 3984991, Công ty Tài chính MT đồng ý cho bà Trần Ngọc T vay số tiền 30.000.000 đồng để mua hàng hóa. Theo chứng cứ là phiếu báo nợ mà Công ty Tài chính MT cung cấp thì vào ngày 21/11/2022 Công ty Tài chính MT đã giải ngân số tiền vay là 30.000.000 đồng cho bà Trần Ngọc T để trả tiền mua hàng. Trong quá trình thực hiện hợp đồng thì bà Trần Ngọc T chỉ mới trả được 3 kỳ trả góp với số tiền là: 8.131.000 đồng. Từ kỳ thứ 4 (ngày thanh toán 22/02/2023) đến nay thì bà Trần Ngọc T đã không thực hiện việc thanh toán theo thỏa thuận trong hợp đồng. Nay Công ty Tài chính MT khởi kiện yêu cầu bà Trần Ngọc T phải thanh toán số tiền vốn và lãi còn thiếu tính đến ngày 30/9/2024 là: 51.342.042đ (Năm mươi mốt triệu ba trăm bốn mươi hai ngàn không trăm bốn mươi hai đồng), trong đó: tiền nợ gốc là: 25.140.386 đồng, tiền lãi trong hạn là: 6.306.228 đồng, tiền lãi quá hạn là: 19.094.250 đồng, tiền lãi chậm trả là: 801.178 đồng là hoàn toàn có cơ sở chấp nhận.
Trong suốt quá trình giải quyết vụ án bà Trần Ngọc T không đến Tòa án để cung cấp chứng cứ bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho mình nên bà Trần Ngọc T phải chịu hậu quả của việc không chứng minh.
Vì vậy, buộc bà Trần Ngọc T phải thanh toán cho Công ty Tài chính MT số tiền vốn và lãi còn thiếu tính đến ngày 30/9/2024 là: 51.342.042đ (Năm mươi mốt triệu ba trăm bốn mươi hai ngàn không trăm bốn mươi hai đồng).
- Thời hạn thanh toán: thanh toán kể từ khi bản án có hiệu lực pháp luật.
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, khách hàng vay còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán theo mức lãi suất các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của bên cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho bên cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của bên cho vay.
[3] Về án phí: Án phí dân sự sơ thẩm là: 2.567.102₫ (Hai triệu năm trăm sáu mươi bảy ngàn một trăm lẻ hai đồng) do bà Trần Ngọc T nộp.
Công ty Tài chính MT không phải nộp án phí, trả lại cho Công ty Tài chính MT số tiền tạm ứng án phí đã nộp là: 964.086đ (Chín trăm sáu mươi bốn ngàn không trăm tám mươi sáu đồng).
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39; điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Căn cứ Điều 463, Điều 466 Bộ luật dân sự 2015;
- Căn cứ Điều 100, 107 Luật Các tổ chức tín dụng 2024;
- Căn cứ Thông tư 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định về hoạt động cho vay của Tổ chức tín dụng, chi nhánh Ngân hàng nước ngoài đối với khách hàng;
- Căn cứ Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
- Căn cứ Điều 26 Luật Thi hành án dân sự.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty Tài Chính Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên MT (Việt Nam)
- Buộc bà Trần Ngọc T thanh toán cho Công ty Tài Chính Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên MT (Việt Nam) số tiền vốn và tiền lãi của khoản vay theo giấy đề nghị vay vốn kiêm hợp đồng tín dụng số 3984991 ngày 20/11/2022 tạm tính đến ngày 30/9/2024 là: 51.342.042đ (Năm mươi mốt triệu ba trăm bốn mươi hai ngàn không trăm bốn mươi hai đồng), trong đó: tiền nợ gốc là: 25.140.386 đồng, tiền lãi trong hạn là: 6.306.228 đồng, tiền lãi quá hạn là: 19.094.250 đồng, tiền lãi chậm trả là: 801.178 đồng.
-
Thời hạn thanh toán: thanh toán kể từ khi bản án có hiệu lực pháp luật.
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, khách hàng vay còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán theo mức lãi suất các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của bên cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho bên cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của bên cho vay.
-
Về án phí dân sự sơ thẩm:
- - Bà Trần Ngọc T phải nộp án phí là: 2.567.102đ (Hai triệu năm trăm sáu mươi bảy ngàn một trăm lẻ hai đồng)
- - Công ty Tài Chính Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên MT (Việt Nam) không phải nộp án phí, trả lại cho Công ty Tài Chính Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên MT (Việt Nam) số tiền tạm ứng án phí đã nộp là: 964.086₫ (Chín trăm sáu mươi bốn ngàn không trăm tám mươi sáu đồng) theo biên lai thu số 0004233 ngày 26/6/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện BC.
- Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
- Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện yêu cầu thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lại Phước Trường |
Bản án số 812/2024/DS-ST ngày 30/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BC – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Số bản án: 812/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/09/2024
- Loại vụ/việc: Kinh doanh thương mại
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BC – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
